Quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non tư thực trên địa bàn thành phố hồ chí minh tt - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM THỊ TUYẾT MINH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC
MẦM NON TƯ THỤC TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 9 34 04 03

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI - NĂM 2019

1


Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐINH THỊ MINH TUYẾT
TS. LÊ ANH XUÂN

Phản biện 1: .......................................................................

Phản biện 2: .......................................................................


quản lý điều tiết chung, giáo dục nói chung và giáo dục mầm non
cũng là một loại hình dịch vụ công đang được xã hội hóa mạnh mẽ.
Theo chủ trương xã hội hóa giáo dục, bên cạnh hệ thống các trường
mầm non công lập, số trường mầm non tư thục trong những năm vừa
qua phát triển nhanh chóng về số lượng.
Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) hiện nay đang có sự tăng
trưởng và phát triển trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội với tốc độ nhanh
chóng. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã làm cho dân cư tập
trung về các đô thị lớn ngày càng đông, dẫn đến hệ thống các trường
mầm non ngoài công lập (tư thục, nhóm trẻ tư thục) tại các khu dân cư
phát triển nhanh chóng. Những tiêu cực của các trường mầm non
NCL trong thời gian qua đã gây bức xúc trong xã hội. Các cơ quan
quản lý nhà nước (QLNN) về giáo dục ở TPHCM đã có những chính
sách, cơ chế pháp lý nhằm hạn chế những tiêu cực trên nhưng các cơ
sở giáo dục mầm non tư thục (GDMNTT) vẫn còn bộc lộ nhiều hạn
chế, yếu kém và chưa tạo niềm tin trong xã hội. Nhiều nghiên cứu và
giải thích được đưa ra nhưng cơ bản nhất là hoạt động QLNN đối với
các cơ sở GDMNTT hiện nay chưa đủ mạnh nên hoạt động của các cơ
sở GDMNTT ở TPHCM vẫn còn nảy sinh các tiêu cực không mong

3


muốn. Nếu các nhà quản lý không điều chỉnh được vấn đề này, trong
tương lai sẽ dẫn đến nhiều những hạn chế trong ngành giáo dục mầm
non và sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố. Nguyên nhân của
những vấn đề trên do công tác QLNN trên lĩnh vực này còn nhiều
điều cần nghiên cứu và đề ra những biện pháp giải quyết. Trước thực
trạng về chất lượng GDMNTT và hiệu quả QLNN đối với GDMNTT,
tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non tư

ban hành Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật Giáo dục năm
2005). Ngoài ra, tác giả có tham khảo và nghiên cứu thêm một số văn

4


bản quản lý nhà nước của Trung ương và địa phương về giáo dục
mầm non trước năm 2010.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
- Tiếp cận các vấn đề nghiên cứu theo quan điểm duy vật biện
chứng, quan điểm lịch sử, lý thuyết hệ thống.
- Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng với
quan điểm lịch sử cụ thể, toàn diện; tiếp cận hệ thống xem quản lý
GDMNTT như một hệ thống quản lý, trong đó các cấp quản lý nhà
nước về giáo dục (Chính phủ, Bộ GD&ĐT và các bộ - ngành chức
năng liên quan; UBND các cấp, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT) và các
cơ sở GDMNTT là bộ phận cấu thành của hệ thống quản lý, có mối
quan hệ tương tác với nhau theo những nét đặc thù. Cách tiếp cận này
là cơ sở khoa học cho mô hình phân cấp quản lý đối với giáo dục nói
chung và GDMNTT nói riêng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và viết luận án, tác giả sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: Phương pháp thu
thập thông tin, số liệu; phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp;
phương pháp chuyên gia; phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;
phương pháp phân tích, đánh giá; phương pháp phân tích, thống kê;
phương pháp bảng hóa và biểu đồ hóa. Ngoài ra luận án còn sử dụng
thêm các phương pháp phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp
nghiên cứu thực tiễn, phương pháp thống kê toán học, xử lý số liệu từ

nâng cao chất lượng GDMNTT trên địa bàn TPHCM.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án tổng quan các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong
và ngoài nước liên quan đến giáo dục mầm non và GDMNTT; hệ
thống và bổ sung cơ sở lý luận quản lý nhà nước về GDMNTT; tổng
kết kinh nghiệm của các địa phương trong nước, ngoài nước và rút ra
bài học kinh nghiệm trong quản lý nhà nước đối với GDMNTT tại
TPHCM.
- Luận án phân tích, đánh giá xác định được kết quả, những hạn
chế và nguyên nhân của những hạn chế về QLNN đối với GDMNTT
trên địa bàn TPHCM.
- Luận án đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với
GDMNTT trên địa bàn TPHCM.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1. Ý nghĩa khoa học
Luận án đưa ra các cách tiếp cận để làm rõ đặc trưng của loại hình
trường mầm non tư thục; tổng kết và phát triển lý luận như đề xuất
các khái niệm về QLNN đối với GDMNTT; khái quát một số hướng
nghiên cứu chính về GDMNTT và những thành tựu đạt được, rút ra
những bài học kinh nghiệm của một số địa phương về quản lý nhà
nước đối với GDMNTT; nghiên cứu, hệ thống hóa, phân tích số liệu
để chỉ ra những bất cập, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, những
nguyên nhân tồn tại trong quản lý nhà nước đối với GDMNTT tại
TPHCM trong thời gian qua.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp tổng quan tình hình
QLNN đối với GDMNTT tại TPHCM bao gồm những thực trạng thực
hiện các nội dung quản lý, những kết quả đạt được và những tồn tại
hạn chế cũng như những nguyên nhân dẫn đến những kết quả đó.
Luận án đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với GDMNTT

Giám sát Giáo dục Toàn cầu 2017/8: Trách nhiệm trong giáo dục: Đáp
ứng các cam kết của chúng tôi) [101] có nội dung đề cập đến giáo dục tư
thục và mầm non tư thục.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết với tài liệu Giáo dục mầm non, những
vấn đề lí luận và thực tiễn [84] đã khái quát những vấn đề cơ bản nhất về
GDMN; Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý GD - một số vấn đề lý luận và
thực tiễn” [41]; Bài viết của tác giả Đinh Thị Minh Tuyết, Học Viện Hành
Chính, với tiêu đề: “Về đổi mới quản lý GDĐT ở nước ta”[80]; “Xu thế
đổi mới GD ở một số quốc gia và Việt Nam trước bối cảnh hiện nay; Tài
liệu SREM (Dự án Hỗ trợ đổi mới quản lý GD-Support theo Renovation
of Education Management) “Sơ lược lịch sử GD Việt Nam và một số
nước trên thế giới” do tác giả Nguyễn Thị Thái chủ trì nhóm biên soạn
[64]; Bài viết “Mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non trên

7


địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của TS Trịnh Viết Then đã đề cập thực
trạng bạo hành ở các cơ sở GDMNTT trên địa bàn TPHCM [68].
1.2. Nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non
tư thục
1.2.1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Cuốn sách “GD Nhật Bản nhìn từ thế giới” (Lawrence McDonald,
Trung tâm thư viện Nhật Bản, 2006) [42]; Bà Amanda Ripley, tác giả của
cuốn “The smartest kids in the world: And How that got that way” [98]
Ông Pasi Sahlberg, nhà GD Phần Lan – tác giả của cuốn Lessons from
Finland: What can the world learn from educational change in Finland
[102] đã đề cập một số khía cạnh về giáo dục mầm non ngoài công lập.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước



Luật giáo dục 2005 [53] quy định vai trò và mục tiêu của giáo dục
mầm non “Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi”. Ngành học mầm non có các bậc
học là nhà trẻ, mầm non và mẫu giáo, thực hiện chăm sóc và nuôi dưỡng
trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi tạo thành một quá trình giáo dục thống nhất liên
tục.
Điều 22, Luật Giáo dục [53] Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát
triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên
của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1, hình thành và phát triển ở trẻ
em những chức năng tâm lý, sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính
chất nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết với lứa tuổi, khơi dậy và phát
triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở những
cấp học tiếp theo và học tập suốt đời.
Giáo dục mầm non giúp trẻ hình thành khả năng thích ứng với
môi trường xã hội rộng lớn sau này; vấn đề có tầm chiến lược lâu dài, ảnh
hưởng lớn đến sự phát triển giáo dục phổ thông và các thế hệ tương lai
của đất nước; là nền tảng cơ bản đảm bảo quyền trẻ em; góp phần đảm
bảo công bằng xã hội trong giáo dục.
Giáo dục mầm non sẽ chuẩn bị cho trẻ những kỹ năng như tự lập,
sự kiềm chế, khả năng diễn đạt rõ ràng, đồng thời hình thành hứng thú đối
với việc đến trường tiểu học, tăng khả năng sẵn sàng để bước vào giai
đoạn giáo dục phổ thông.
2.1.2. Giáo dục mầm non tư thục
Giáo dục mầm non tư thục là những yếu tố cấu thành loại hình
GDMN không do nhà nước thành lập và quản lý hoạt động, do tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập,
đầu tư xây xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động bằng
vốn ngoài ngân sách nhà nước, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho

tiêu của giáo dục mầm non.
So sánh giáo dục mầm non công lập và tư thục
GDMN công lập và GDMNTT là các thành tố trong hệ thống giáo
dục quốc dân. GDMN công lập và GDMNTT đều thực hiện mục tiêu phát
triển GDMN theo quy định của Luật Giáo dục và Quy chế hoạt động GDMN.
Tuy nhiên, GDMN công lập và GDMNTT khác nhau về mục tiêu hoạt động,
chủ thể thành lập, thủ tục đầu tư, góp vốn, sở hữu vốn/tài sản, phân cấp quản
lý, tổ chức nhà trường, cơ chế tài chính, nguồn tài chính, quy định số trẻ, quản
lý nhân sự, quản lý nội dung/chương trình, quản lý cơ sở vật chất.
2.1.3 Quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non tư thục
Quản lý nhà nước đối với GDMNTT là quá trình nhà nước định
hướng, tạo ra một hành lang pháp lý, lộ trình chuẩn hoá để các cơ sở
GDMNTT đạt được mục tiêu chất lượng. Quản lý nhà nước về GDMNTT
không chỉ là việc định ra chính sách quản lý mà còn phải hỗ trợ cho đối tượng
quản lý thực hiện các chính sách đó. Hiệu quả của quản lý nhà nước về
GDMNTT cần được đánh giá qua sự hài lòng của phụ huynh, chất lượng giáo
dục của các cháu, kết quả kiểm định chất lượng GDMN và sự gắn kết với
cộng đồng xã hội.
2.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non tư thục
2.2.1. Xây dựng và triển khai quy hoạch, kế hoạch hóa thực
hiện chiến lược phát triển giáo dục mầm non tư thục
Nghị quyết của HĐND Thành phố năm 2014 thông qua những nội
dung đề xuất hỗ trợ giáo dục mầm non tại Tờ trình số 2515/TTr-UBND ngày
05 tháng 6 năm 2014 của Ủy ban nhân dân thành phố trong Đề án hỗ trợ
GDMN TPHCM: Thống nhất tăng tỷ lệ cơ sở GDMN công lập trên địa bàn
thành phố đến năm 2020; tổ chức giữ trẻ mầm non từ 6 tháng tuổi đến 18

10



- Quy chế tổ chức và hoạt động của trường ngoài công lập (20022007)
- Quy chế tổ chức và hoạt động của trường mầm non tư thục
(2008-2014)
- Quy chế tổ chức và hoạt động của trường mầm non tư thục
(2015 đến nay)
2.2.5. Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo
viên ở các cơ sở giáo dục mầm non tư thục
- Cơ cấu tổ chức nhà trường, nhà trẻ tư thục
- Tiêu chuẩn đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đối với

11


giáo dục mầm non tư thục.
2.2.6. Thanh tra, kiểm tra đối với giáo dục mầm non tư thục
Mục đích thanh tra, kiểm tra đối với GDMN tư thục
Giúp giáo dục mầm non tư thục thực hiện đúng quy định của pháp
luật; Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ; Là cơ sở để xây dựng,
đổi mới mục tiêu, nội dung bồi dưỡng giáo viên mầm non trong nhà
trường
Phân loại thanh tra
a) Thanh tra hành chính
b) Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục
2.3. Vai trò quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non tư thục
2.3.1. Định hướng sự phát triển giáo dục mầm non và giáo dục mầm
non tư thục
Nhà nước đã có những chính sách định hướng cho phát triển
GDMN, gần đây nhất là Quyết định số 2161/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2017
ban hành kế hoạch thực hiện mục tiêu phát triển bền vững lĩnh vực giáo
dục đào tạo đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030, trong đó định

chất và tinh thần cho trẻ.
2.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với
giáo dục mầm non tư thục
2.4.1. Yếu tố chính trị
QLNN đối với GDMNTT cần phải được đặt trong tổng thể quá
trình thực hiện Nghị quyết của Đảng, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục đồng thời hạn chế, ngăn ngừa mặt trái của cơ chế thị trường và tiếp
tục tạo ra những tiền đề, điều kiện để GDMNTT phát triển tốt, hoạt động
có hiệu quả.
2.4.2. Thể chế và chính sách
Thể chế và chính sách tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động
QLNN đối với GDMNTT, là cơ sở pháp lý để các cơ quan QLNN thực
hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được quy định, định hướng hoạt động và
hành vi của các cơ sở GDMNTT, đội ngũ CBQL và giáo viên đang công
tác tại các cơ sở GDMNTT. Ngoài ra, chất lượng và hiệu quả hoạt động
QLNN góp phần khẳng định tính đúng đắn và ưu việt của pháp luật và
chính sách được ban hành.
2.4.3. Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ công chức
Đội ngũ CBCC là nhân tố trực tiếp quyết định đến hiệu quả quản
lý nhà nước. hoạt động QLNN đối với GDMNTT phụ thuộc rất lớn vào
trình độ, năng lực của đội ngũ CBCC, phụ thuộc vào số lượng, chất lượng
đội ngũ; chế độ chính sách đãi ngộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng công
chức trong các cơ quan thẩm quyền QLNN về giáo dục.
2.4.4. Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất
Đây là điều kiện thiết yếu để thực hiện mục tiêu giáo dục mầm
non, nâng cao chất lượng nuôi dạy cho các cơ sở GDMNTT, vừa là yếu tố
tác động đến hiệu quả quản lý trong quá trình thực hiện các chức năng
QLNN đối với GDMNTT.
2.4.5. Truyền thông và công nghệ thông tin
Các phương tiện truyền thông như phát thanh, truyền hình, báo

2.4.2. Kinh nghiệm ở nước ngoài
- Nhật Bản
- Hàn Quốc
2.4.3. Bài học kinh nghiệm cho TPHCM
Bài học từ các địa phương trong nước
Tăng cường thanh tra thường xuyên và đột xuất các cơ sở GDMN
tư thục. Đặc biệt là chú trọng “hậu kiểm tra”; phát huy vai trò của xã hội
hóa giáo dục, tăng cường sự phối hợp và giám sát của UBMTTQ, các tổ
chức chính trị xã hội, các cơ quan, ban ngành có liên quan; kiểm định chất
lượng cơ sở giáo dục; có chính sách cho cán bộ quản lý và giáo viên đang
công tác ở các cơ sở GDMNTT; giải pháp phù hợp để các chủ thể
GDMNTT được tiếp cận nguồn lực công một cách minh bạch, công bằng.
Bài học từ nước ngoài
Coi trọng đào tạo đội ngũ giáo viên; tập trung thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về giáo dục trong hoạch định chính sách, xây dựng
thể chế, ban hành các chuẩn mực giáo dục và thanh, kiểm tra; Nâng cao
chất lượng giáo viên mầm non thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng bằng
nhiều hình thức; Tăng cường hợp tác quốc tế trong giáo dục mầm non, khuyến
khích liên kết với các công ty, tập đoàn giáo dục mầm non ở nước ngoài.
Chương 3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
GIÁO DỤC MẦM NON TƯ THỤC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của TPHCM

14


3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.2. Điều kiện kinh tế
3.1.3. Điều kiện xã hội

Nhóm, lớp
Năm học
Cộng
CL
TT
Cộng
CL
TT
2012-2013

827

416

411

10608

4249

6359

2013-2014

912

419

493


4523

8189

15


2016-2017

1151

451

700

13860

4770

9090

2017-2018
465
743
4917 9499
1208
14416
Nguồn: Số liệu thống kê ngành GDMN– Cục Thống kê TPHCM
Qua bảng 3.2 cho thấy, số trường mầm non tư thục tăng hàng
năm. Tại các địa phương có khu chế xuất – khu công nghiệp hiện nay hầu

khai được chú trọng trên cơ sở tập trung thực hiện phổ cập mầm non trẻ 5
tuổi. Kế hoạch phát triển GDMN hàng năm được ngành GDMN thành phố
quan tâm thực hiện, có rà soát - điều chỉnh kịp thời. Tuy nhiên, Việc quy
hoạch thiếu tính khả thi vì khó khăn trong việc bố trí quỹ đất cho trường

16


học, hầu hết các trường, lớp mầm non tư thục đều chật hẹp, số trẻ/ lớp khá
đông, ảnh hưởng không ít đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ.
3.3.2. Xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quản lý nhà nước
đối với giáo dục mầm non tư thục
Chính quyền các cấp trên địa bàn TPHCM đã triển khai thực hiện
các văn bản QLNN đối với GDMNTT nhằm nâng cao chất lượng của
GDMNTT.
Tổng hợp từ mẫu nghiên cứu 284 CBCC tham gia khảo sát cho
thông tin phản ánh về hệ thống VBQLNN hiện nay: Tính đồng bộ, thống
nhất, không mâu thuẩn, chồng chéo nhau, Tính toàn diện, đầy đủ, Phù
hợp với thực tế, điều kiện KT-XH và địa phương, Tính khả thi, Công khai,
minh bạch đều được nhóm tham gia khảo sát đánh giá ở mức độ trung
bình.
3.3.3. Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách đối với giáo
dục mầm non tư thục
Chính sách cho trẻ, ở cấp quốc gia, các chính sách giáo dục bao
gồm phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; miễn phí giáo dục tiểu
học; phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Chiến
lược Phát triển Giáo dục giai đoạn 2011-2020; Các chính sách hỗ trợ tiền
và hiện vật cho các học sinh khó khăn nhất, bao gồm miễn, giảm học phí,
hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ tiền và gạo. Trẻ khuyết tật được hỗ trợ theo
Luật người Khuyết tật năm 2010 và Đề án Trợ giúp người Khuyết tật giai

Về tuyển dụng giáo viên: các trường mầm non tư thục được chủ
động trong việc tuyển dụng giáo viên, tuy nhiên việc tuyển dụng giáo viên
không dễ dàng. Giáo viên mầm non tư thục nghỉ việc bất ngờ. Thực tế
nhiều nơi phải dùng bảo mẫu thay thế giáo viên, hay hiệu trưởng, quản lý
cũng phải đứng lớp vì thiếu người. Đây là điều ảnh hưởng lớn nhất đến
chất lượng giáo dục mầm non, Thay đổi người chăm sóc dẫn đến cô
không quen lớp, quen trẻ; người đứng lớp thiếu chuyên môn... là nguy cơ
thiếu an toàn nhất đối với trẻ.
3.3.6. Thanh tra, kiểm tra, đánh giá đối với giáo dục mầm non
tư thục
Thanh, kiểm tra về cấp phép hoạt động; Công tác an ninh trật tự
trường mầm non; công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, y tế học
đường; quy chế tổ chức và hoạt động của đơn vị; Quản lý chuyên môn,
bán trú; Thực hiện công tác tài chính, quy chế chi tiêu nội bộ; Chế độ
chính sách đối với giáo viên, nhân viên
Hạn chế và nguyên nhân
Một là, thành phần thanh, kiểm tra ở một số đoàn chưa đảm bảo
yêu cầu về mặt chuyên môn nên gây khó khăn cho đối tượng thanh tra.
Hai là, quy định về thanh tra hiện nay ở các phường chưa rõ ràng
và đầy đủ.
Thứ ba là về kỹ năng thanh tra của phường còn hạn chế, chưa nắm
vững quy định pháp luật chuyên ngành nên trong quá trình kiểm tra chưa
chỉ rõ những sai phạm theo quy định mà chỉ nhận xét chủ quan, chung
chung, không mang tính tư vấn và xây dựng.
3.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với giáo dục
mầm non tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
3.4.1. Kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về giáo dục
mầm non tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Đảng bộ, HĐND, UBND TPHCM đã đổi mới tư duy, nhận thức
được yêu cầu đổi mới phát triển giáo dục gắn với cơ chế thị trường, đa

Thứ năm, thách thức lớn nhất đối với GDMNTT trong thời gian qua là
kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất trang thiết bị của các
cơ sở GDMNTT chưa đáp ứng yêu cầu.
Thứ sáu, thanh tra, kiểm tra đối với GDMNTT hiện nay bộc lộ nhiều
hạn chế. Công tác “hậu thanh tra, kiểm tra” chưa được chú trọng.
Thứ bảy, công tác kiểm định chất lượng giáo dục đối với GDMNTT
chưa được thực hiện nghiêm túc.
Thứ tám, công tác tuyên truyền định hướng dư luận xã hội để tạo sự
quan tâm, hỗ trợ phát triển GDMNTT còn chưa được thực hiện thường xuyên,
mạnh mẽ.
3.4.3. Nguyên nhân hạn chế
Nguyên nhân khách quan: Hệ thống thể chế đối với GDMNTT còn
nhiều bất cập và thiếu đồng bộ; Đô thị hóa nhanh và nhập cư tự do tăng áp
lực đối với GDMNTT; Trình độ dân trí và mức sống của người dân ảnh
hưởng đến sự phát triển của các cơ sở GDMNTT.
Nguyên nhân chủ quan: Tư duy QLNN đối với GDMNTT chậm

19


được đổi mới phù hợp với thực tiễn; Năng lực, trình độ QLNN đối với
GDMNTT chưa theo kịp với thực tiễn và nhu cầu phát triển theo cơ chế
thị trường định hướng XHCN; Thanh tra giáo dục còn thiếu những biện
pháp hữu hiệu để kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục đối với các cơ sở
GDMNTT; Mô hình QLNN đối với GDMNTT hiện nay ở TPHCM chưa
được xác định rõ; XHHGD đối với GDMN chưa được nhận thức đầy đủ.
Chương 4. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON TƯ THỤC TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
4.1. Dự báo nhu cầu về giáo dục mầm non và giáo dục mầm

mức sống của dân cư và đặc biệt là sự tăng dân số, kiểm soát dân nhập cư,

20


số trẻ nhập cư theo cha mẹ cũng như số trẻ được sinh ra chưa được đăng
ký tạm trú.
Cần phát huy tốt vai trò của nhà nước gắn với sử dụng công cụ
chính sách.
Có cơ chế phối hợp giữa nhà nước, phụ huynh, tổ chức đoàn thể
và cộng đồng xã hội.
4.1.4. Cơ hội và thách thức trong quản lý nhà nước đối với giáo
dục mầm non tư thục
Cơ hội, kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV vừa thông qua Nghị
quyết "Về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP HCM. Về tài
chính và nhân sự: hiện tại Sở GD&ĐT TPHCM đang khẩn trương xây
dựng đề án tự chủ. Sở GD-ĐT thành phố cũng đề nghị cho phép thực hiện
thí điểm các dự án nâng cao tầng trường học ở các quận nội thành không
còn quỹ đất, để phù hợp thực tế từng địa bàn, tính chất từng dự án, giải
quyết tình trạng thiếu phòng học ở các khu dân cư đông đúc, tập trung và
tránh lãng phí đầu tư xây dựng mặt bằng chiếm đất xây dựng.
Thách thức,tác động của nền kinh tế thị trường đối với GDMN.
Tạo lập uy tín và thương hiệu cho các trường, các cơ sở GDMN tư thục;
các cơ sở GDMN TT cần tăng cường những hình thức gắn kết với cộng
đồng xã hội; GDMN TT yếu kém nhất trong các bậc học về công tác kiểm
định chất lượng giáo dục; rất ít các chuyên gia, các nhà đầu tư tâm huyết
về giáo dục tham gia vào thành lập các trường MNTT, chưa có sự phân
tích sâu sắc những lợi thế so sánh, xác định hướng phát triển, lựa chọn mô
hình phát triển hợp lý để các cơ sở GDMN thật sự đóng góp giá trị chất
lượng vào việc giáo dục học sinh.

Thứ năm, chính quyền thành phố, các tổ chức bảo trợ xã hội cần
phối hợp và có chính sách hỗ trợ đối với trẻ khuyết tật, trẻ nhập cư có
hoàn cảnh khó khăn và quy định cơ chế cho các cơ sở GDMNTT tham
gia, chia sẻ, nuôi dạy các trẻ này và có sự hỗ trợ của nhà nước để các cơ
sở GDMNTT phát huy vai trò vì cộng đồng, vì xã hội chứ không chỉ vì lợi
nhuận.
4.2.2. Định hướng phát triển giáo dục mầm non và giáo dục
mầm non tư thục
Định hướng phát triển của ngành
a) Định hướng phát triển của ngành đối với GDMN đến năm 2025.
b) Định hướng phát triển của ngành đối với GDMNTT đến năm 2025
Định hướng phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh
a) Theo Quyết định số 2631/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2013
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
- xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.
b) Theo Nghị quyết Số: 01/2014/NQ-HĐND ngày 14 tháng 6 năm
2014 của HĐND TPHCM về hỗ trợ giáo dục mầm non TPHCM.
4.3. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với giáo dục
mầm non tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
4.3.1. Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát
triển giáo dục mầm non tư thục phù hợp yêu cầu và điều kiện của
Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục mầm
non tư thục cụ thể và khả thi; rà soát và điều chỉnh kế hoạch hàng năm.
Thứ hai, phân tích điểm mạnh, điểm yếu và cơ hội, thách thức
(SWOT) và yếu tố tác động (PEST) trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch
phát triển giáo dục mầm non tư thục.
Thứ ba, rà soát, điều chỉnh, theo dõi và đánh giá quy hoạch, kế
hoạch phát triển giáo dục mầm non tư thục.


cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ CBQL và GV trong các
cơ sở GDMNTT; Thứ ba, phối hợp với các trường đào tạo, bồi dưỡng, chú
trọng bồi dưỡng các kỹ năng mềm cho CBQL và giáo viên như: kỹ năng
kiểm soát cảm xúc, kỹ năng làm chủ bản thân; Thứ tư, tăng cường liên kết
đào tạo, đẩy mạnh hợp tác, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học trong
giáo dục mầm non ở các cơ sở GDMNTT.
Khảo sát, thống kê thực trạng về chất lượng của đội ngũ CBQL và
GV ở các cơ sở GDMNTT, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
đối với đội ngũ này. Xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng phù
hợp đối với CBQL và GV ở các cơ sở GDMNTT. Ban hành chuẩn nghề
nghiệp CBQL và GV theo đặc thù của các cơ sở GDMNTT.
4.3.5. Cụ thể hóa các chính sách đối với giáo dục mầm non tư
thục

23


Thứ nhất, đảm bảo công bằng trong GDMN, theo đó chính sách
hỗ trợ về tài chính không phân biệt trường công lập và trường tư thục;
Thứ hai, có chính sách thuế, đất và những tài sản thuộc sở hữu nhà nước
có thể huy động để hỗ trợ cho các cơ sở GDMNTT mở trường; Thứ ba,
thành phố cần ban hành chính sách hỗ trợ đóng bảo hiểm cho giáo viên
công tác ở các cơ sở GDMNTT để GV yên tâm, công tác ổn định lâu dài
và những chính sách khen thưởng cho GV cống hiến lâu dài, có nhiều
thành tích giống như ở các trường công lập; Thứ tư, thực hiện các cam kết
quốc tế về chính sách giáo dục mà chính quyền TPHCM đã tham gia.
4.3.6. Tổ chức thực hiện đồng bộ hoạt động thanh tra, kiểm tra,
kiểm định chất lượng đối với giáo dục mầm non tư thục
Thứ nhất, xây dựng, bổ sung và hoàn thiện văn bản pháp luật về
thanh tra, kiểm tra đối với giáo dục mầm non tư thục


Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,Thành lập Hội các trường mầm non tư
thục, Xây dựng phần mềm quản lý GDMNTT được phân bố từ thấp đến cao
Qua phân tích và xử lý số liệu thống kê ở Bảng 4.2 cho thấy ý
kiến nhận định về mức độ khả thi của các biện pháp về hệ thống văn bản,
phân cấp QLNN đối với GDMNTT, đội ngũ CBCC, chế độ chính sách
cho cán bộ quản lý và giáo viên ở các trường MNTT, thanh tra, kiểm tra,
quả kiểm định chất lượng giáo dục mầm non tư thục, Xây dựng quy chế
phối hợp, Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,Thành lập Hội các trường mầm
non tư thục, Xây dựng phần mềm quản lý GDMNTT được phân bố từ
thấp đến cao (theo thứ hạng).
4.4.2. Khuyến nghị
- Đối với Chính phủ, Bộ Giáo dục & Đào tạo và các Bộ, ngành
liên quan
- Đối với UBND Thành phố, quận/huyện, phường/xã và các Sở,
ngành chức năng trên địa bàn TPHCM
- Đối với các cơ sở giáo dục mầm non tư thục
KẾT LUẬN
Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo nhân
cách con người, phát triển tất cả các khả năng của trẻ, hình thành cho trẻ
những cơ sở ban đầu chuẩn bị cho trẻ khả năng học tập tốt, tạo điều kiện
thuận lợi cho trẻ bước phát triển sau này. Vì thế ngoài việc quan tâm con
người ở bậc tiểu học, trung học cơ sở hay các bậc học tiếp theo cao hơn
cần quan tâm giáo dục con người ngay từ khi còn ở độ tuổi mầm non để
xây dựng một thế hệ con người mới.
Để thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục và thực hiện mục
tiêu của giáo dục mầm non thì sự hình thành và phát triển giáo dục mầm
non tư thục là tất yếu. Quản lý nhà nước gắn với cung ứng dịch vụ công
trong giáo dục mầm non có tác động sâu sắc đến phát triển giáo dục mầm
non tư thục, do vậy, luận án đã tập trung nghiên cứu những nội dung chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status