Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG CƯƠNG

HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG CƯƠNG

HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH

HÀ NỘI, năm 2019




TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu

STT

Ý nghĩa

1

DNNVV

Doanh nghiệp nhỏ và vừa

2

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

3

GTGT

Giá trị gia tăng

4


TNDN

Thu nhập doanh nghiệp

10

TPP

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương


DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1. Phân loại DNNVV ...............................................................................11
Bảng 1.2. Tổng hợp tên Luật dành cho DNNVV của một số quốc gia và vùng
lãnh thổ .................................................................................................................24
Bảng 1.3. Ma trận nội dung cơ bản hỗ trợ DNNVV của Luật DNNVV một số
nước ......................................................................................................................29


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, DNNVV đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện
các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, DNNVV gặp phải nhiều khó
khăn trong quá trình phát triển do những hạn chế về quy mô nhỏ, thiếu vốn và
khó tiếp cận nguồn vốn, trình độ công nghệ còn lạc hậu, khả năng quản trị doanh
nghiệp yếu, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, thiếu mặt bằng để phát triển
sản xuất kinh doanh, đại bộ phận chưa quan tâm đến xây dựng thương hiệu,
khó liên kết để tạo thế mạnh chung... Chính vì vậy, trong những thập niên gần

mới với tổng vốn đăng ký là 1.478,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% về số doanh
nghiệp và tăng 14,1% về số vốn đăng ký so với năm 2017. Tại thời điểm ngày 1-72018 cho thấy, cả nước hiện có 702 nghìn doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình
thức. Từ thời điểm đó đến năm 2020 là còn 2,5 năm, với tốc độ khoảng 130 nghìn
doanh nghiệp được thành lập mới mỗi năm thì con số 1 triệu doanh nghiệp hoàn
toàn có thể đạt được theo Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ ngày 16/05/2016
về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.
Tuy nhiên, bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đang tạo
ra không ít thách thức đối với sự phát triển của các DNNVV trên các phương
diện chính sách, pháp luật. Có thể khẳng định rằng, trong một thời gian dài,
pháp luật về hỗ trợ DNNVV hiện hành còn khá nhiều hạn chế, bất cập: (i) Nhiều
chính sách hỗ trợ được quy định trong nhiều Luật chuyên ngành: Luật Đất đai,
Luật Đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Đấu thầu, Luật Khoa học và Công
nghệ, các Luật về thuế…; (ii) Các chính sách hỗ trợ tài chính, mặt bằng sản xuất,
hỗ trợ mua sắm công, ươm tạo doanh nghiệp... còn rất nhiều bất cập, hạn chế;
(iii) Việc triển khai thực hiện chính sách trợ giúp DNNVV còn rất chậm (như
bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ tài chính…); (iv) Nội dung nhiều chương trình trợ giúp
DNNVV còn dàn trải, chưa tập trung hoặc chưa gắn kết với nhau làm cho các
DNNVV chưa tiếp cận hay nhận được sự hỗ trợ một cách thuận lợi. (v) Cơ chế
điều phối hoạt động hỗ trợ DNNVV giữa các Bộ ngành, giữa Trung ương và địa

1

Nguồn: https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=382&idmid=2&ItemID=18945

2


phương chưa hiệu quả; (vi) Chưa có cơ chế thu hút sự tham gia của khu vực tư
nhân, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đối với việc xây dựng và thực
hiện các chương trình hỗ trợ phát triển DNNVV trong khi nguồn ngân sách nhà

Hỗ trợ DNNVV thông qua các cơ cấu thể chế đã có sự thay đổi dần mang
tính chất toàn cầu, trong đó nội dung khác biệt cơ bản được thể hiện qua vai trò
của Nhà nước trong sự can thiệp vào thị trường để phát triển khu vực doanh
nghiệp này. Các mô hình đầu tiên, xuất hiện từ đầu thập niên 1950 trên thế giới,
nhìn nhận khu vực DNNVV như một thực thể yếu đuối cần bảo vệ, do vậy,
chính phủ các nước theo trường phái này đã xây dựng các chính sách phát triển
DNNVV theo chiều rộng nhằm chủ yếu thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội
như giải quyết công ăn việc làm hay phát triển cân đối vùng.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về DNNVV mới chỉ xuất hiện trong vài thập
niên gần đây khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Trong
số đó, phải kể đến các công trình khoa học tiêu biểu sau:
- Vũ Quốc Tuấn/Hoàng Thu Hoà, “Phát triển DNNVV, kinh nghiệm nước
ngoài và phát triển DNNVV ở Việt Nam”, NXB Thống kê, Hà Nội 2001. Công
trình nghiên cứu này đã giới thiệu kinh nghiệm xây dựng chính sách phát triển
DNNVV, mô hình điều chỉnh pháp luật về hỗ trợ DNNVV ở một số quốc gia
trên thế giới và giới thiệu những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Hồ Xuân Phương/Đỗ Minh Tuấn/ Chu Minh Phương, “Tài chính hỗ trợ
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ”, NXB Tài Chính, Hà Nội năm 2002. Từ
cách tiếp cận của kinh tế học, các tác giả đã chỉ rõ các mô hình hỗ trợ tài chính
cho DNNVV ở một số quốc gia trên thế giới và giới thiệu những bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
- Viện nghiên cứu Thương Mại, “Xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ”, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2003. Từ
thực tiễn khảo sát hoạt động thương mại ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam,
công trình này đã chỉ rõ các phương thức xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ cho
các DNVVN hoạt động xuất khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế;
- Phạm Thị Minh Nghĩa, “Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy sự phát

4

- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hỗ trợ DNNVV theo

5


pháp luật;
- Nghiên cứu so sánh về kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật hỗ trợ DNNVV
của một số quốc gia trên thế giới: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, một số nước
ASEAN và đề xuất cho Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam hiện
nay và thực tiễn thực thi tại thành phố Đà Nẵng;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật hỗ trợ
DNNVV trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các quy định pháp luật về hỗ trợ phát triển DNNVV tại Việt Nam và thành
phố Đà Nẵng
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian, luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về hỗ trợ phát
triển DNNVV tại Việt Nam và thành phố Đà Nẵng.
+ Về thời gian, giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2017 đến nay.
+ Về nội dung, tập trung vào các quy định pháp luật về hỗ trợ cho DNNVV
của Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại thành phố Đà Nẵng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng,
trong đó vận dụng các quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử khi xem xét,
đánh giá từng vấn đề trong thời điểm cụ thể. Đồng thời dựa trên quan điểm,
đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước về những vấn đề liên
quan.

DNNVV của một số quốc gia trên thế giới: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, một số
nước ASEAN và đề xuất cho Việt Nam
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
+ Phân tích, đánh giá có hệ thống thực trạng pháp luật về hỗ trợ DNNVV ở
Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực thi tại thành phố Đà Nẵng;
+ Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ
DNNVV trong thời gian tới

7


+ Kết quả nghiên cứu của luận văn nhằm tiếp tục hoàn thiệnpháp luật về hỗ
trợ DNNVV trong thời gian tới
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của
luận văn được chia thành 3 chương, như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo
pháp luật
Chương 2. Thực trạng pháp luật hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam hiện nay và
thực tiễn thực thi tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật hỗ trợ DNNVV
trong thời gian tới

8


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA THEO PHÁP LUẬT
1.1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa

người là doanh nghiệp vừa…
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là
doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số
lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn
doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động và nguồn vốn 20 đến 100 tỷ [2,
tr. 30].
Theo Điều 4, Luật số 04/2017/QH14 hỗ trợ DNNVV ngày 12/06/2017 hiện
hành thì không đưa ra quy phạm định nghĩa về DNVVN mà chỉ khái quát các
loại DNNVV bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh
nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công
nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ, có số lao động tham gia bảo hiểm
xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí (i)
tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; (ii) tổng doanh thu của năm trước liền
kề không quá 300 tỷ đồng.
Theo Điều 6, Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 03 năm 2018 quy
định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật hỗ trợ DNVVN, tiêu chí xác định DNVVN
cụ thể như sau:
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp
siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa.
1. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản
và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình
quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng
hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động
tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu
của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
2. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và
lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình

10

nguồn vốn

Số lao
động bình
quân năm

Doanh nghiệp nhỏ
Tổng doanh
thu
năm/Tổng
nguồn vốn

Số lao
động bình
quân năm

Doanh nghiệp vừa
Tổng doanh
thu
năm/Tổng
nguồn vốn

Số lao
động bình
quân năm

1. Nông, lâm Dưới 3 tỷ 10 người

Dưới 50 tỷ


100 tỷ đồng

200 người


2. Thương

Dưới 10 tỷ 10 người

mại, dịch vụ đồng/Dưới trở xuống
3 tỷ đồng

Dưới 100 tỷ Từ trên 10 Dưới 300 tỷ Từ trên 50
đồng/Dưới

người đến đồng/Dưới

người đến

50 tỷ đồng

dưới 50

dưới 100

100 tỷ đồng

người

người


lạc hậu, khả năng quản trị doanh nghiệp yếu, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao,
thiếu mặt bằng để phát triển sản xuất kinh doanh, đại bộ phận chưa quan tâm đến xây
dựng thương hiệu, khó liên kết để tạo thế mạnh chung...
Các mô hình đầu tiên, xuất hiện từ đầu thập niên 1950 trên thế giới, nhìn
nhận khu vực DNNVV như một thực thể yếu đuối cần bảo vệ, do vậy, chính phủ
các nước theo trường phái này đã xây dựng các chính sách phát triển DNNVV
theo chiều rộng nhằm chủ yếu thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội như giải
quyết công ăn việc làm hay phát triển cân đối vùng. Do vậy, các chính sách phát
triển DNNVV được đặt ra vào thời điểm đó thường không mang các yếu tố
khách quan mà chủ yếu là để thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đã được đặt ra,
nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị. Các DNNVV được xem là những cứu
cánh để tạo ra công ăn việc làm, hay là động lực chính để phát triển cân đối vùng
và đồng thời cũng được xem là lực lượng đối trọng đối với sự tập trung quyền
lực kinh tế của các doanh nghiệp lớn.
Thứ ba, DNNVV chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty, tập đoàn lớn
và từ chính các doanh nghiệp với nhau.
Khu vực doanh nghiệp lớn với công nghệ sử dụng nhiều vốn thì cung cấp
hàng hoá cho thị trường bậc cao, trong khi đó khu vực doanh nghiệp nhỏ với
công nghệ lạc hậu thì cung cấp hàng hoá kém chất lượng cho thị trường thấp
cấp. Kết quả là các biện pháp chính sách đã tạo ra một môi trường biệt lập giữa
hai khu vực doanh nghiệp, luôn xem phía bên kia như là đối thủ và điều này
ngăn cản nghiêm trọng mối quan hệ sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp
nhỏ và doanh nghiệp lớn.
Thứ tư, do sự hạn chế về quy môn vốn và lao động, các DNVVN chủ yếu
hoạt động trong các lĩnh vực vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực
công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ.
DNNVV là loại hình có quy mô vốn và lao động nhỏ nên nó có nhiều ưu
điểm, lợi thế, cụ thể:
Một là: Dễ dàng khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp với bộ máy gọn nhẹ và

đại bộ phận chưa quan tâm đến xây dựng thương hiệu, khó liên kết để tạo thế
mạnh chung…

14


1.2. Pháp luật về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2.1. Khái niệm pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Kết quả không thành công của mô hình phát triển DNNVV theo định
hướng chính trị cùng với các tiến bộ đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin,
công nghệ vật liệu và các chương trình tự do hoá các nền kinh tế đã góp phần
chuyển dịch mô hình trên sang dạng “phát triển DNNVV có lựa chọn”. Theo
cách tiếp cận này, trọng tâm của chiến lược phát triển DNNVV ở các nước là
chương trình hỗ trợ DNNVV trong một số ngành sản xuất kỹ thuật cao hoặc dịch
vụ mới với những khoản trợ cấp lớn từ ngân sách nhà nước. Ở Hàn Quốc từ cuối
những năm 1970, phát triển DNNVV được coi là một quốc sách quan trọng
nhằm đạt được những mục tiêu xã hội là tăng trưởng và phát triển kinh tế. Hàn
Quốc có một hệ thống hỗ trợ DNNVV rộng lớn bao gồm nhiều tổ chức quan
trọng như Quỹ Bảo lãnh tín dụng (thành lập năm 1976) chức năng chủ yếu là
cung cấp vốn chuyển giao công nghệ cho các DNNVV; Viện Phát triển công
nghiệp Hàn Quốc (thành lập năm 1970) chức năng chính là đào tạo, tư vấn cho
DNNVV; Trung tâm năng suất Hàn Quốc (thành lập năm 1957), có chức năng
đào tạo, cung cấp và chuyển giao công nghệ, tư vấn cho DNNVV. Chính sách
phát triển DNNVV của Hàn Quốc tập trung chủ yếu vào các nội dung nhằm đáp
ứng những thay đổi về môi trường trong nước và quốc tế thông qua sự điều
chỉnh cơ cấu kinh tế với các biện pháp hỗ trợ DNNVV có lựa chọn theo các
chương trình:
(i) hiện đại hoá máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất nhằm phát triển sản
phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất;

pháp luật về chống độc quyền, cũng tự tìm được các thị trường ngách thích hợp
với lợi thế của sản xuất quy mô nhỏ. Đồng thời, với cơ chế này, các doanh
nghiệp được tự do phát huy các thế mạnh của mình trong việc lựa chọn các loại
hàng hoá và dịch vụ cung cấp. Do vậy, khu vực DNNVV ở nhiều nước theo
trường phái thị trường tự do cũng đạt được những thành tựu phát triển nhất định,
đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của các nước đó. Tuy nhiên, mô
hình phát triển DNNVV theo trường phái này thường chỉ đạt được kết quả khả
quan tại các nước phát triển, sự phân bổ các nguồn lực đã được thị trường điều

16


tiết khá hiệu quả. Ngược lại, đối với các nước đang phát triển, việc áp dụng mô
hình trên không thu đựoc kết quả đáng kể nào như trường hợp của nhiều quốc
gia châu Phi trong nhiều thập kỷ qua.
Đến cuối thập niên 1980 và đầu những năm 1990, với xu hướng toàn cầu
hoá và khu vực hoá một cách phổ biến, một mô hình mới với cách tiếp cận là
“tạo điều kiện thuận lợi để DNNVV phát triển”, với trọng tâm nhấn mạnh vào
năng lực cạnh tranh của DNNVV được hình thành và trở lên phổ biến ở nhiều
nước, đặc biệt là các nước đang tham gia sâu rộng và quá trình hội nhập quốc
tế. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong việc can thiệp vào thị trường dịch vụ
phát triển cho DNNVV, nhà nước chỉ lên đóng vai trò là người tạo ra các điều
kiện thuận lợi (facilitator) để thị trường cung cấp những dịch vụ phát triển tốt
nhất cho các DNNVV. Điều đó có nghĩa là, nhà nước chỉ nên dừng lại ở việc xây
dựng năng lực cho các nhà cung ứng tư nhân, thay vì thành lập ra các tổ chức
cung ứng dịch vụ của nhà nước với các công chức quan liêu và cách thức hoạt
động không theo cơ chế thị trường của các tổ chức đó. Đồng thời, các nước theo
trường phái này cũng không hoàn toàn theo mô hình thị trường tự do vì cho rằng,
quá trình giải quyết mọi vấn đề kinh tế chỉ dựa trên cơ sở thị trường là quan
điểm quá đơn giản2. Như vậy, phương thức can thiệp của chính phủ các nước

1.2.2 Nguyên tắc, nội dung pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Qua khảo sát hệ thống pháp luật trên thế giới và của Việt Nam có thể cho
phép rút ra các nguyên tắc, nội dung pháp luật hỗ trợ DNVVN như sau
Nguyên tắc pháp luật hỗ trợ DNVVN
- Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tôn trọng quy luật thị trường,
phù hợp với điều ước quốc tế mà quốc gia ddos là thành viên;
- Bảo đảm công khai, minh bạch về nội dung, đối tượng, trình tự, thủ tục,
nguồn lực, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện;
- Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có trọng tâm, có thời hạn, phù
hợp với mục tiêu hỗ trợ và khả năng cân đối nguồn lực;
- Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nguồn lực ngoài Nhà nước
do các tổ chức, cá nhân tài trợ được thực hiện theo quy định của tổ chức, cá nhân
đó nhưng không được trái quy định của pháp luật;
- Trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa đồng thời đáp ứng điều kiện của
các mức hỗ trợ khác nhau trong cùng một nội dung hỗ trợ thì doanh nghiệp được
lựa chọn mức hỗ trợ có lợi nhất;
- Ưu tiên lựa chọn doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, doanh
nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động nữ;

18


- Nguồn vốn hỗ trợ DNVVN phải là những nguồn vốn hợp pháp theo quy
định của pháp luật
Nội dung pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nhận thấy vai trò to lớn của DNNVV và tầm quan trọng của việc hỗ trợ
DNNVV phát triển, nhiều quốc gia đã xây dựng pháp luật hỗ trợ phát triển
DNNVV. Các quy định pháp luật ở các quốc gia rất đa dạng tuỳ thuộc vào đặc điểm
phát triển kinh tể của từng quốc gia, tuy nhiên, tựu chung lại có thể thấy các pháp
luật hỗ trợ phát triển DNNVV quy định các phương thức hỗ trợ sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status