VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ KIỀU OANH
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP THEO
PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ KIỀU OANH
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP THEO
PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên nghành : Luật kinh tế
Mã số
: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
mọi lý luận, thực tiễn dẫn chứng trong luận văn là trung thực và được tìm
hiểu trong tài liệu tham khảo.
Tác giả luận văn
Đinh Thị Kiều Oanh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ DOANH
NGHIỆP .................................................................................................................... 7
1.1. Tổng quan về Doanh nghiệp và Đăng ký doanh nghiệp ..................................... 7
1.2. Khái niệm, bản chất của đăng ký doanh nghiệp ................................................. 8
1.3. Nhu cầu và mục đích của đăng ký doanh nghiệp .............................................. 14
1.4. Pháp luật về đăng ký doanh nghiệp và hoạt động đăng ký nghiệp ở một số
nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam............................................................ 25
CHƯƠNG 2. THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP VÀ
THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ........... 30
2.1. Thực trạng pháp luật về đăng ký kinh doanh .................................................... 30
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố
Đà Nẵng.................................................................................................................... 36
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC THI
PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH ..................................................... 62
3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp ......... 62
3.2. Định hướng hoàn thiện việc thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp trên địa
bàn Thành phố Đà Nẵng .......................................................................................... 66
3.3. Một số giải pháp hoàn thiện việc thực thi pháp luật đăng ký doanh nghiệp trên
địa bàn Thành phố Đà Nẵng..................................................................................... 69
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 77
: Doanh nghiệp tư nhân
DNXH
: Doanh nghiệp xã hội
ĐHĐCĐ
: Đại hội đồng cổ đông
GCNĐKDN
: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
HĐTV
: Hội đồng thành viên
HĐQT
: Hội đồng quản trị
LDN
: Luật doanh nghiệp
LĐT
: Luật đầu tư
sự gia tăng nhanh chóng về khối lượng công việc của đăng ký doanh nghiệp
(ĐKDN) cũng như yêu cầu quản lý về ĐKDN. Ngày 26/11/2014, Luật Doanh
nghiệp năm 2014 được Quốc Hội thông qua. Với việc Luật Doanh nghiệp năm 2014
được thông qua, các quy định pháp luật đối với hoạt động ĐKDN có nhiều thay đổi
cần được đưa ra xem xét và kiến giải. Hiện nay việc thực thi pháp luật về ĐKKD
doanh nghiệp nói chung có nhiều cải thiện nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập, hạn
chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập. Cụ thể là: Hệ thống văn bản pháp luật về
ĐKDN chưa đồng bộ; có nhiều chủ thể có thẩm quyền thành lập và đăng ký các loại
hình doanh nghiệp khác nhau; có sự chồng chéo trong quản lý đối với ĐKDN giữa
các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài); việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong đối với ĐKDN còn
nhiều tồn tại.
Chính vì vậy việc thực thi pháp luật đối với ĐKDN đã và đang gặp rất nhiều
khó khăn với nhiều lý do cả khách quan và chủ quan. Thực tế hiện nay tình trạng
doanh nghiệp vi phạm các quy định của Luật Doanh nghiệp (không chấp hành các
nội dung trong hồ sơ ĐKDN, không chấp hành các nghĩa vụ, báo cáo của doanh
nghiệp) có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và tính chất, mức độ vi phạm. Quan
ngại hơn cả là 6 chính tình trạng này là điều kiện, cơ hội cho các cá nhân, doanh
nghiệp tổ chức lợi dụng vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của các cá nhân,
tổ chức và toàn thể xã hội và làm đau đầu các cơ quan QLNN. Thành phố Đà Nẵng
là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả nước; phát triển với nhịp độ tăng
trưởng cao, hội nhập vào nền kinh tế khu vực ASEAN và toàn cầu.
Với xu thế phát triển đó, nhu cầu phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, với
mong muốn nhanh chóng gia nhập thị trường là điều tất yếu khách quan. Hiện nay
1
cộng đồng doanh nghiệp Thành phố Đà Nẵng với số lượng doanh nghiệp vừa và
nhỏ khoảng hơn 1000 doanh nghiệp. Tại địa bàn TP Đà nẵng đã tồn tại tình trạng
cứu về sự bất cập mới phát sinh của Luật Doanh nghiệp 2014 hay đưa ra những
định hướng chủ quan góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về điều
kiện và thủ tục thành lập doanh nghiệp.Tuy nhiên, lĩnh vực thực thi pháp luật đối
với ĐKDN chưa có nhiều tác giả quan tâm. Do đó đây là một đề tài nghiên cứu
mang tính tiên phong và thực tiễn cao góp phần xây dựng cơ sở lý luận về thực thi
về pháp luật ĐKDN trên địa bàn TP Đà Nẵng. Luận văn còn chỉ ra những điểm còn
bất cập, hạn chế trong các quy định hiện hành về đăng ký doanh nghệp.
Cụ thể:
- Luận văn thạc sĩ quản lý công “Hoàn thiện công tác đăng ký kinh doanh ở
Việt Nam đến năm 2020”. Người thực hiện Nguyễn Thị Việt Anh, Người hướng
dẫn GS.TS. Lars-Torsten Eriksson, TS. Nguyễn Thùy Anh. 2013 Đại học kinh tếĐHQGHN.
- Bài viết của PGS.TS Phan Huy Hồng: “Vấn đề đăng ký ngành, nghề kinh
doanh: cần sự đổi mới mạnh mẽ và triệt để” năm 2014.
- Bài viết của Ths. Nguyễn Thị Thu Thủy “Hoàn thiện pháp luật về đăng ký
kinh doanh ở Việt nam hiện nay” năm 2015.
- Luận văn thạc sĩ Luật “Đăng ký kinh doanh theo luật doanh nghiệp Việt
Nam - thực trạng và một vài kiến nghị”. Người thực hiện: Lê Thế Phúc. Người
hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Lan Hương. Khoa Luật năm 2006. Luận văn Làm sáng
tỏ cơ sở lý luận của hoạt động đăng ký kinh doanh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài “Đăng ký Doanh nghiệp theo Pháp luật Việt Nam từ
thực tiễn Thành phố Đà Nẵng” nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp ở những giai đoạn từ trước năm
1986, từ thời kỳ 1986 đến năm 1996, luật doanh nghiêp 2005,và từ 2014 đến nay,
thông qua việc tìm hiểu thực trạng các nguyên tắc, căn cứ thành lập doanh nghiệp,
qua đó đánh giá những hạn chế, bất cập của pháp luật về đăng ký thành lập doanh
nghiệp, trên cơ sở này đưa ra những định hướng chung nhằm góp phần hoàn thiện
5.1. Phương pháp luận
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin; Phương pháp luận duy vât
4
biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật. Việc sử dụng các phương phấp tiếp cận và giải
quyết vấn đề của tôi là luôn luôn có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Tìm hiểu
những quy định của pháp luật trên cơ sở xem xét thực tế áp dụng chúng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể mà tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài
này đó là:
- Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp này chủ yếu được sử dụng
để phân tích, lý giải, lập luận những vấn đề lý luận về đăng ký thành lập doanh
nghiệp.
- Phương pháp phân tích, giải thích pháp luật được sử dụng chủ yếu để phân
tích, giải thích các quy phạm pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp.
- Phương pháp so sánh pháp luật dùng để so sánh quy phạm pháp luật về
đăng ký thành lập doanh nghiệp hiện hành với quy phạm pháp luật về đăng ký thành
lập doanh Các phương pháp nêu trên nhằm tổng hợp các quy định của pháp luật về
đăng ký thành lập doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đưa ra những phân tích, đánh giá,
nhận xét việc thực hiện các quy định này trong thực tế và chứng minh những hạn
chế, thiếu sót của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghệp dẫn đến việc đăng ký
thành lập doanh nghiệp hiện nay chưa phát huy hết vai trò doanh nghiệp, quản lý
chưa hợp lý, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế của toàn xã hội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa về lý luận
Luận văn góp phần làm rõ thêm khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa,
điểm mới của pháp luật về điều kiện và thủ tục thành lập doanh nghiệp và cơ sở
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về Doanh nghiệp và Đăng ký doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh. Đó là qúa trình thực hiện một cách liên tục, một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi. Như vậy, Doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế, một số tổ chức doanh nghiệp có các
hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ở Việt Nam hiện nay, có rất nhiều loại hình Doanh nghiệp với các loại hình
kinh doanh khác nhau, thường thì có các loại hình kinh doanh như: Công ty trách
nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân thuộc
mọi thành phần kinh tế, nhóm công ty,.. việc thành lập công ty cũng trở thành đơn giản
hơn bởi các dịch vụ tư vấn thành lập công ty rất phổ biến trên thị trường hiện nay.
Nhìn từ góc độ kinh tế, người ta xem doanh nghiệp như một cái áo khoác để
thực hiện ý tưởng kinh doanh tùy theo ý đồ, quy mô, dự tính thời gian kinh doanh.
Như vậy, có thể thấy doanh nghiệp là một thuật ngữ được sử dụng với nhiều
nghĩa khác nhau, tuy nhiên trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ doanh nghiệp thường
được dùng để chỉ: (1) một loại hành vi thương mại; hoặc (2) các thực thể kinh
doanh nói chung; (3) tập hợp tài sản có của một thương nhân nào đó được khai thác
cho mục đích thương mại.
Tuy nhiên nhiều đạo luật của Việt Nam lại thường sử dụng thuật ngữ doanh
nghiệp theo nghĩa thứ hai nêu trên. Điển hình, LDN 2005 định nghĩa: “Doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh” [4, Khoản 1 Điều 4].
Sự tiến bộ hơn về định nghĩa doanh nghiệp được thể hiện trong đạo luật
7
thừa nhận và bảo hộ kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
8
Theo đó, Đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng
ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay
đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về ĐKDN với cơ quan đăng ký kinh
doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN.
ĐKDN bao gồm: Đăng ký thành lập doanh nghiệp; đăng ký thay đổi nội
dung ĐKDN và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của NĐ
78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp.
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản hoặc văn bản điện tử mà
Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về đăng
ký doanh nghiệp.
GCNĐKDN đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký thuế của doanh nghiệp
và GCNĐKDN không phải là giấy phép kinh doanh.
Giấy phép kinh doanh là loại giấy tờ có tính chất thông hành, một trong
những thủ tục hành chính bắt buộc mà doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh phải hoàn
tất trước yêu cầu của nhà nước nhằm quản lý các công việc kinh doanh. Loại giấy
này thường được cấp sau khi đăng ký kinh doanh đối với những ngành nghề kinh
doanh có điều kiện.
Có thể phân biệt GCNĐKDN và Giấy phép kinh doanh ở một số tiêu chí sau:
Phân biệt Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Giấy phép kinh doanh
STT
1
Tiêu chí
Ý nghĩa pháp lý
GCNĐKDN
Tiêu chí
Giấy phép kinh doanh
- Thẩm định, kiểm tra
các điều kiện do cơ
quan Nhà nước có thẩm
quyền thực hiện.
3
Thời hạn tồn tại
Do nhà đầu tư quyết định và Do cơ quan Nhà nước
thường không ghi trong có thẩm quyền ghi vào
GCNĐKDN
4
giấy phép kinh doanh
Quyền của Nhà Nếu có đủ hồ sơ hợp lệ cơ Nếu có đủ hồ sơ hợp lệ,
nước
quan Nhà nước phải cấp đủ điều kiện nhưng cơ
GCNĐKDN
cho
chức cá nhân nào đó được ủy quyền thực hiện việc ghi nhận, xác nhận về một sự
việc hay một tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người được đăng ký
cũng như tổ chức, cá nhân đứng ra thực hiện việc đăng ký.
Về khái niệm thành lâp doanh nghiệp, qua tìm hiểu trong các văn bản pháp
luật (VBPL) hiện hành có thể thấy các nhà làm luật của Viêt Nam chưa đưa ra định
nghĩa cụ thể thế nào là đăng ký thành lập doanh nghiệp, mặc dù thuật ngữ này được
sử dụng khá phổ biến trong lập pháp cũng như trong thực tế. Nhìn chung, khái niệm
đăng ký thành lập doanh nghiệp được các nhà nghiên cứu lý luận và các nhà hoạt
động thực tiễn tiếp cận dưới hai góc độ: góc độ kinh tế và góc độ pháp lý.
Dưới góc độ kinh tế: Đăng ký thành lập doanh nghiệp được hiểu là việc
chuẩn bị các điều kiện vật chất cần và đủ để hình thành một tổ chức sản xuất kinh
doanh. Theo đó, để đăng ký thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư phải chuẩn bị về tài
chính, kề hoạch kinh doanh, trụ sở, nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, thiết bị kỹ
thuật, đội ngũ nhân công, nhà quản lý v.v...Đây thực sự là những công việc quan
trọng mang tính nền tảng, tiền đề, và quyết định rất nhiều tới sự thành công của
doanh nghiệp sau khi được thành lập. Ở một số quốc gia trên thế giới như
Singapore, Anh quốc, trên các websites của chính phủ như www.enterprision.gov.sg
hay www,gov.uk/set-up-business-uk, từ việc lập kế hoạch kinh doanh (đưa ra một
danh sách gợi ý những công việc phải làm trước khi khởi sự kinh doanh, ví dụ:
nghiên cứu thị trường, viết kế hoạch kinh doanh, xây dựng kế hoạch tài chính, chọn
tên kinh doanh, tìm kiếm cơ sở kinh doanh v.v...); bắt đầu hoạt động kinh doanh
(lựa chọn một mô hình doanh nghiệp phù hợp, trình tự, thủ tục ĐKDN, đăng ký
thuế,v.v...)và phát triển công việc kinh doanh đều được hướng dẫn cụ thể cho doanh
nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận, tra cứu thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
hiện thực hóa kế hoạch kinh doanh của mình.
Dưới góc độ pháp lý: Đăng ký thành lập doanh nghiệp được hiểu là thủ tục
11
12
quyền để xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp ); chuyên môn ( thể hiện công
tác kỹ thuật, giám sát, kiểm tra, điều tra, xử lý, tư vấn, kiểm toán...) và kinh tế ( thể
hiện hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh). Cùng với đó, đăng ký thành lập
doanh nghiệp là một hệ thống các biện pháp của Nhà nước về quản lý và đảm bảo
quyền tự do sản xuất, kinh doanh cho chủ đầu tư theo đường lối kinh tế của Nhà
nước trên cơ sở dự báo kinh tế phát triển bền vững trong từng thời kỳ. Với ý nghĩa
như vậy, pháp luật hiện hành đưa ra khái niệm về đăng ký thành lập doanh nghiệp
như sau:
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là ghi vào sổ cơ quan quản lý về kế hoạch
sản xuất, kinh doanh của chủ đầu tư được Nhà nước chấp nhận bằng việc cấp Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiêp.
Trong hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiêp, Nhà nước trao toàn quyền
chủ động cho doanh nghiệp được lựa chọn, quyết định và tự chịu trách nhiệm về các
nội dung trong đăng ký thành lập doanh nghiêp. Tuy nhiên, quyền tự do ở đây vẫn
phải nằm trong khuôn khổ của luật doanh nghiệp 2014. Cơ quan đăng ký kinh
doanh chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký thành lập doanh
nghiệp, không chịu trách nhiệm về những vi phạm pháp luật xảy ra trước và sau
đăng ký doanh nghiệp. Khi các thông tin và tài liệu đăng ký doanh nghiệp là phù
hợp và không trái với luật doanh nghiệp thì cơ quan đăng ký kinh doanh không
được từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Ngoài
ra, để đảm bảo quyền tự do kinh doanh, thành lập doanh nghiệp, một nhiệm vụ của
Nhà nước là phải đáp ứng, bảo đảm các điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện
quyền tự do kinh doanh như: Mở rộng kinh doanh, chọn mô hình đa dạng, phong
phú, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp đơn giản, nhanh gọn, quy định rõ ràng,
minh bạch về ngành nghề cấm và không cấm, ngành nghề kinh doanh có điều kiện
để được kinh doanh.
Khi CQĐKKD đáp ứng được các điều kiện này, đồng nghĩa với việc Nhà
của việc đăng ký doanh nghiệp.
Pháp luật về Đăng ký Doanh nghiệp
Nghiên cứu, tìm hiểu nội dung các quy định này, có thể thấy pháp luật về
đăng ký thành lập doanh nghiệp là một chế định quan trọng của pháp luật doanh
14
nghiệp Việt Nam và được hiểu về mặt lý luận như sau: Pháp luật về đăng ký thành
lập doanh nghiệp là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình đăng ký
thành lập doanh nghiệp và sản xuất, kinh doanh trong phạm vi cả nước cho các mục
tiêu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng trong một không gian, thời gian
cụ thể và những cách thức, biện pháp cụ thể để thực hiện quá trình đó.
Sự điều chỉnh của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp được thể
hiện bằng việc Nhà nước sử dụng pháp luật tác động vào hành vi xử sự của các chủ
thể kinh doanh theo hướng:
Một là, đối với những hành vi xử sự của các chủ thể phù hợp của quy định
của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp thì pháp luật bảo vệ, tạo điều kiện
khuyến khích để doanh nghiệp phát triển.
Hai là, đối với những hành vi xử sự của các chủ thể trái hoặc không phù hợp
với quy định của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp thì pháp luật xử lý,
ngăn ngừa và tiến tới loại bỏ dần khỏi đời sống xã hội.
Với ý nghĩa nêu trên có thể thấy, pháp luật về đăng ký thành lập doanh
nghiệp có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp chịu ảnh hưởng và
chi phối bởi sự lựa chọn của nhà nước trong việc thực hiện quyền tự do thành lập
doanh nghiệp. Khẳng định như vậy bởi lẽ: Nhà nước với tư cách là đại diện của
quyền lực công nên Nhà nước có quyền phân bổ và điều chỉnh doanh nghiệp cho
các mục tiêu kinh tế, xã hội. Trên cơ sở đó Nhà nước có quyền phân định các chủ
thể, trụ sở, đất đai... Cho các mục đích khác nhau theo ý đồ của Nhà nước trên cơ sở
phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam trừ
những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà
nước tại doanh nghiệp;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ
những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của nhà
nước tại DN;
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị
mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết
định xử lý hành chính tại cơ sở ca nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc
16
đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất
định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác
theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng chống tham nhũng [5, Điều 18].
Bên cạnh đó, cụ thể Điều 37 Luật phòng chống tham nhũng cũng quy định một
số đối tượng không được phép thành lập, tham gia quản lý doanh nghiệp như sau:
- Cán bộ, công chức không được làm những việc sau:
- Cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức,
đơn vị, các nhân trong khi giải quyết công việc;
- Thành lập, tham gia thành lập hoặc quản lý, điều hành DNTN, Công ty
TNHH, CTCP, CTHD, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên
cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước
ngoài về các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, những
công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc mình tham gia giải quyết;
- Kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý sau
chức làm dịch vụ; Giấy giới thiệu của tổ chức đó cho cá nhân trực tiếp thực hiện;
Văn bản ủy quyền cho cá nhân thực hiện thủ tục liên quan đến ĐKDN.
Điều kiện về khách thể
Luật doanh nghiệp khẳng định, thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh
doanh theo quy định pháp luật là quyền của cá nhân và tổ chức được nhà nước bảo
hộ. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp
không được ban hành các quy định về đăng ký doanh nghiệp áp dụng riêng cho
ngành hoặc địa phương mình; Nghiêm cấm cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu
người thành lập doanh nghiệp nộp thêm giấy tờ khác trái với quy định của Luật
doanh nghiệp; gây chậm trễ, gây phiền hà, cản trở, sách nhiễu người thành lập
doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên để đảm bảo trật tự trong quản lý kinh tế, đảm bảo sự hài hòa về
quyền và lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội, pháp luật quy định các điều kiện đăng ký kinh doanh của tổ chức, cá
nhân theo hai nội dung gồm: (1) Điều kiện về chủ thể; (2) Điều kiện về khách thể.
Theo đó, điều kiện về khách thể gồm: Điều kiện về ngành nghề kinh doanh; điều
kiện về tên doanh nghiệp; điều kiện về tài sản góp vốn.
18
Điều kiện về ngành nghề kinh doanh
Luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực 1/7/2015 đã hiện thực hóa phần nào
quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo tinh thần của Hiến pháp 2013 là
quyền tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm, làm cho DN
trở thành công cụ kinh doanh thực sự an toàn, hiệu quả hơn. Theo đó pháp luật
không quy định cụ thể các ngành nghề được phép kinh doanh mà chỉ quy định các
trường hợp cấm kinh doanh; ngành, nghề kinh doanh có điều kiện mà thôi. Cụ thể,
Doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh; tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn,
điều chỉnh ngành, nghề kinh doanh nếu như ngành nghề kinh doanh: