Xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản theo pháp luật việt nam từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ BÍCH THUẬN

XỬ LÝ VI PHẠM HỢP ĐỒNG BÁN ĐẤU GIÁ
TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ BÍCH THUẬN

XỬ LÝ VI PHẠM HỢP ĐỒNG BÁN ĐẤU GIÁ
TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 8 38 01 07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐẶNG VŨ HUÂN


ĐỒNG ĐẤU GIÁ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM ................................................ 59
3.1. Một số định hướng trong việc hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hợp
đồng đấu giá tài sản ở Việt Nam .................................................................... 59
3.2. Một số kiến nghị về giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản ở Việt Nam ... 61
KẾT LUẬN .................................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ở Việt Nam, đấu giá tài sản với tư cách là một chế định pháp lý đã ra đời rất
sớm và ngày càng khẳng định vai trò của nó trong đời sống xã hội theo yêu cầu của
hội nhập kinh tế quốc tế.
Sau nhiều năm thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 về
đấu giá tài sản (quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục đấu giá tài sản; đấu giá
viên; tổ chức đấu giá tài sản và quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản)
và Luật Đấu giá tài sản (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2017), hoạt động đấu giá tài
sản đã đạt được những kết quả đáng kể, các tài sản bắt buộc phải đấu giá được mở
rộng hơn, chất lượng hoạt động đấu giá ngày càng được nâng cao, giá trị tài sản
được cao hơn nhiều so với giá khởi điểm, thu ngân sách nhà nước thông qua hoạt
động đấu giá đạt hiệu quả cao.
Trong trường hợp nhất định quan hệ đấu giá phải được xác lập thành văn
bản chính là hợp đồng đấu giá. Hợp đồng đấu giá là một trong những công cụ hữu
hiệu hình thành cũng như định hình kết quả của quan hệ đấu giá. Nó chỉ ra quyền
và nghĩa vụ của các bên cần phải thực hiện cũng như đối tượng của quan hệ. Song
trong thực tiễn từ đối mới đến nay pháp luật đấu giá tài sản vẫn còn một số bất cập
trước áp lực của xu thế hội nhập của các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế cũng
như còn chồng chéo, mâu thuẫn với hệ thống pháp luật trong nước luôn được sửa
đổi và hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn. Đây chính là những kẽ hở cho vi phạm

giá tài sản ở Việt Nam ở những góc độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu trong
khuôn khổ luận văn, luận án có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
- Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga với đề tài
“Một số vấn đề về quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản ở Việt Nam
hiện nay”, Trường Đại học luật Hà Nội, năm 2012. Luận văn nghiên cứu những vấn
đề lý luận chung và thực trạng quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt
động đấu giá tài sản, có liên hệ với pháp luật Việt Nam.
- Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Đỗ Thị Hoa với đề tài “ đấu giá tài
sản theo pháp luật Việt Nam”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010.
Luận văn trình bày những vấn đề lý luận về đấu giá tài sản theo quy định của pháp
luật. Phân tích thực trạng đấu giá tài sản theo luật dân sự Việt Nam và đưa ra các

2


giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản.
- Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Lê Minh Hường với đề tài “Giao kết
hợp đồng trong đấu giá”, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2008. Luận
văn trình bày tổng quan những vấn đề lý luận cơ bản về giao kết hợp đồng trong
đấu giá và làm rõ điểm khác biệt của giao kết hợp đồng trong đấu giá so với giao
kết hợp đồng thông thường; nghiên cứu thực trạng giao kết hợp đồng trong đấu giá
và thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng trong đấu giá tại Việt
Nam, từ đó, đưa ra những bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam về giao
kết hợp đồng trong đấu giá. Luận văn cũng giới thiệu những quy định của pháp luật
một số nước khác về giao kết hợp đồng trong đấu giá và những điểm có thể vận
dụng tại Việt Nam; đưa ra một số định hướng như: hoàn thiện các quy định pháp
luật liên quan đến giao kết hợp đồng; xiết chặt hơn chế tài xử lý vi phạm; nâng mức
tiền đặt trước và mức lệ phí hồ sơ đấu giá; ban hành quy chế khen thưởng cho người
đấu giá; làm rõ trách nhiệm pháp lý của người và người đấu giá đối với hàng
hóa/tài sản đấu giá; hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng trong đấu giá qua

chuyên đề 10/2015 đã nêu những kết quả đạt được từ hoạt động đấu giá tài sản;
những tồn tại, hạn chế và một số giải pháp cho hoạt động này trên địa bàn tỉnh Nghệ
An.
Có thể nói, các công trình ở trên đã đề cập nghiên cứu ở nhiều giác độ khác
nhau liên quan đến các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động đấu giá tài sản,
song cho tới thời điểm này, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về đề
tài “Xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn
tỉnh Quảng Nam”. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên sẽ là nguồn tư liệu
tham khảo có giá trị để tác giả chọn lọc, kế thừa và phát triển trong quá trình nghiên
cứu để hoàn thiện Luận văn Thạc sĩ của mình theo đề tài đã lựa chọn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm khái quát những vấn đề lý luận
về xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản; thực hiện đánh giá thực trạng pháp luật
Việt Nam hiện hành vềxử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản và thực tiễn thi hành
pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, từ đó, luận văn chỉ ra các yêu cầu vàđề xuất
giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xử

4


lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản tại Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát và làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật có liên quan tới xử lý vi
phạm hợp đồng đấu giá tài sản.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi
phạm hợp đồng đấu giá tài sản và thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hợp
đồng đấu giá tài sảntrên địa bàn tỉnh Quảng Nam, làm rõ những điểm thành công,
những vấn đề còn hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn chỉ ra các yêu cầu và

giá tài sản
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi
phạm hợp đồng đấu giá tài sản ở tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành
pháp luật về xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản ở Việt Nam

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM
HỢP ĐỒNG ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
1.1. Khái quát về xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng đấu giá tài sản
1.1.1.1. Khái niệm đấu giá tài sản
Trên thế giới, đấu giá không còn là một khái niệm mới, nó đã hình thành từ
các nền văn minh thời cổ đại. Những người Babylon đã đấu giá những người vợ;
những người Hy Lạp cổ đại đã đấu giá việc nhượng quyền khai thác mỏ; giới quý
tốc cổ đại còn có những cuộc đấu giá nô lệ; người La Mã thì đấu giá tất cả mọi thứ
từ các chiến lợi phẩm từ các cuộc chiến tranh cho tới tài sản của các con nợ…
Trong thế giới hiện đại, các cuộc đấu giá thường được tiến hành đối với một số
lượng lớn về giao dịch trong kinh tế và dân sự. Chính phủ các nước sử dụng việc
đấu giá để trái phiếu kho bạc, các quyền khai thác khoáng sản, dầu mỏ, tài nguyên,
những công ty được tư nhân hóa và những tài sản khác. Nhà cửa, xe cộ, các tác
phẩm nghệ thuật, đồ cổ và nhiều loại tài sản khác của tư nhân và của các tổ chức
thường được giá tăng lên một cách nhanh chóng thông qua hình thức thương mại
điện tử.
Có thể thấy rằng, đấu giá tài sản đã có từ rất lâu đời và liên tục phát triển
cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, đấu giá
có nhiều thay đổi về hinh thức, phương thức tổ chức nhưng về bản chất vẫn không

nhân, tổ chức nếu tự nguyện lựa chọn thông qua đấu giá, thì cũng có thể được thực
hiện theo trình tự, thủ tục quy định của Luật Đấu giá tài sản.
Theo quy định của pháp luật, người có tài sản đấu giá phải ký kết hợp đồng
đấu giá tài sản với tổ chức có chức năng đấu giá tài sản để thực hiện việc đấu giá
tài sản. Hợp đồng đấu giá tài sản phải được lập thành văn bản, được thực hiện theo
quy định của pháp luật về dân sự và quy định của Luật Đấu giá tài sản. Theo quy
định của Điều 33 Luật Đấu giá tài sản năm 2016, "hợp đồng đấu giá tài sản" còn
được gọi là "hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản".
Từ các phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm: "Hợp đồng đấu giá tài sản
là hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản

8


đấu giá hoặc người đại diện của người đó để thực hiện việc đấu giá tài sản theo trình
tự và thủ tục mà pháp luật đã quy định".
1.1.1.3. Đặc điểm của hợp đồng đấu giá tài sản
- Chủ thể tham gia ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản là người có tài sản
đấu giá ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản để thực
hiện việc đấu giá tài sản.
- Hình thức hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sảnphải được lập thành văn bản,
được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định của Luật Đấu giá
tài sản.
- Trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản:
Khi ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, người có tài sản đấu giá có trách
nhiệm cung cấp cho tổ chức đấu giá tài sản bằng chứng chứng minh quyền sở hữu,
quyền sử dụng hoặc quyền được tài sản theo quy định của pháp luật và chịu trách
nhiệm trước pháp luật về bằng chứng đó. Tổ chức đấu giá tài sản không chịu trách
nhiệm về giá trị, chất lượng của tài sản đấu giá, trừ trường hợp tổ chức đấu giá tài
sản không thông báo đầy đủ, chính xác cho người tham gia đấu giá những thông tin

không thực hiện các nghĩa vụ. Người không thực hiện,thực hiện không đúng hay
không đầy đủ một phần hoặc toàn bộ những cam kết trong hợp đồng mà gây thiệt
hại cho người cùng giao kết, được coi là có hành vi vi phạm hợp đồng. Nhưng
không phải bất cứ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng không đầy đủ
hợp đồng bao giờ cũng là cơ sở của trách nhiệm hợp đồng.
Là một dạng trách nhiệm pháp lý nói chung nên trách nhiệm hợp đồng chỉ
phát sinh khi có hành vi vi phạm hợp đồng và khi hành vi vi phạm hợp đồng đó là
trái luật. Ngoài những nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng thì còn
những nghĩa vụ mặc dù các bên không thỏa thuận nhưng pháp luật có quy định thì
các bên cũng phải thực hiện theo, nếu các bên không tuân thủ các quy định đó cũng
coi là hành vi vi phạm hợp đồng. Vì vậy, khi xem xét một hành vi vi phạm hợp
đồng hay không, cần phải căn cứ vào nội dung của hợp đồng và các quy định của
pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp mà việc không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng không bị coi là trái pháp luật thì không làm
phát sinh trách nhiệm hợp đồng của người có nghĩa vụ đối với người có quyền, ví
dụ trường hợp hợp đồng không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của người có

10


quyền hoặc do sự kiện bất khả kháng.
Việc hành động bị coi là bất hợp pháp, vi phạm các điều khoản của hợp đồng
khi bên có nghĩa vụ trong hợp đồng thực hiện điều cấm của pháp luật, vi phạm điều
khoản thỏa thuận của các bên, trái với tập quán hoặc trái với bản chất của nghĩa vụ.
Biểu hiện thứ hai của hình thức vi phạm hợp đồng là không hành động, không hành
động ở đây được hiểu là hành vi không thực hiện các điều khoản trong hợp đồng,
trong khi đó theo quy định của pháp luật hoặc theo sự thỏa thuận của các bên trong
hợp đồng bên có nghĩa vụ cần phải làm điều đó nhưng đã không làm. Nghĩa vụ phải
làm hoặc không được làm có thể phát sinh từ thỏa thuận từ trong hợp đồng, từ quy
định của pháp luật, từ chính bản chất của nghĩa vụ. Ví dụ như trong quan hệ hợp

những hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật Đấu giá tài sản năm 2016.
Hợp đồng đấu giá tài sản ký kết giữa tổ chức đấu giá tài sản với người có tài sản
còn có các thỏa thuận không đúng quy định của Luật Ðấu giá tài sản về việc thu tiền
đặt trước hoặc về thù lao, chi phí dịch vụ đấu giá...
1.1.3. Vai trò của việc xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản
Xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản là công cụ quan trọng trong hoạt
động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực đấu giá tài
sản. Thông qua hoạt động phát hiện và xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản, nhà
nước điều tiết, ngăn chặn và bảo vệ quan hệ đấu giá tài sản một cách hiệu quả bằng
quyền lức của mình trong quyền hạn mà pháp luật cho phép.
Các biện pháp xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản là thái độ của Nhà
nước đối với đối tượng vi phạm; và việc áp dụng các biện pháp này không phải do
một chủ thể áp dụng, để tránh hiện tượng mỗi chủ thể lại đưa ra các biện pháp khác
nhau, làm ảnh hưởng đến tính công bằng của pháp luật thì việc xác định rõ các biện
pháp xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản là vô cùng quan trọng. Ngoài ra, việc
quy định ra các biện pháp xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản còn giúp các chủ
thể trong quan hệ đấu giá tài sản nhận thức được hậu quả pháp lý của hành vi vi
phạm trong hợp đồng đấu giá tài sản – tính giáo dục.
Xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản là công cụ góp phần bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của người bị ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm hợp đồng đấu
giá tài sản. Quyền được bình đẳng trong mọi hoạt động mua cần được tôn trọng và
bảo vệ, vì không chỉ tổn thất cho phát triển kinh tế cũng như trong công tác thi hành

12


pháp luật, đặc biệt là công tác thi hành án dân sự và xử lý vi phạm hành chính gây
thất thoát lớn cho Nhà nước; dẫn tới phân hóa và bất bình đẳng trong hoạt động đấu
giá.
Xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản là công cụ nhằm răn đe, tác động tới

thể tổchức bán đấu giá như một hoạt động thương mại. Các công ty bán đấu giá
được phép thành lập và hoạt động khi đảm bảo vềcơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất và
tài chính đầy đủ theo quy định của pháp luật. Công ty phải đảm bảo được những
yêu cầu của hoạt động đấu giá là tính trung thực, khách quan, người điều hành có
kinh nghiệm trong bán đấu giá am hiểu về các loại tài sản đấu giá. Ngoài ra, các
công chứng viên, các thừa phát lại cũng được tiến hành việc bán đấu giá tài sản tại
văn phòng của mình khi được chủ sở hữu tài sản ủy quyền làm đại diện.
Các công ty bán đấu giá có thể áp dụng nhiều biện pháp để thu hút khách
hàng, bảo đảm hiệu quả trong hoạt động bán đấu giá của mình, chẳng hạn như:
Công ty có thể bảo đảm về giá tối thiểu cho người có tài sản bán đấu giá bằng
phương thức ký kết hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm. Theo đó, công ty bảo
hiểm sẽ thanh toán khoản chênh lệch giữa giá bán tài sản thực tế và giá đã được bảo
đảm. Công ty bán đấu giá có thể tạm ứng trước tiền bán tài sản cho ngườicó tài sản
bán đấu giá. Các phiên bán đấu giá được tổ chức công khai theo những thủ tục,
phương thức đấu giá phù hợp. Giá khởi điểm của tài sản để bán là giá thấp nhất
được bên bán đồng ý hoặc giá đã được định, được thông báo công khai trước khi
bán đấugiá.
Theo pháp luật Nhật Bản, trình tự thủ tục bán đấu giá trước hết được xem
xét ở việc bán đấu giá bất động sản hay động sản. Đối với việc bán đấu giá bất động
sản, Tòa án sẽ ra quyết định bán đấu giá tài sản, cho kê biên tài sản nhằm mục đích
cấm việc tẩu tán bất động sản. Sau đó, niêm yết công khai thông tin bán đấu giá.
Khi người mua nộp tiền xong, thì quyền sở hữu bất động sản đó được chuyển cho
người mua. Để người mua được giao bất động sản một cách suôn sẻ, Tòa án có một
chế độ mệnh lệnh bắt buộc người sử dụng bất động sản phải giao trả bất động sản
cho người mua. Như đã trình bày ở trên, từ đầu đến cuối thủ tục bán đấu giá bất
động sản đều do Tòa án tổ chức thực hiện, không có một cơ quan nhà nước hay tổ
chức tư nhân nào là người thực hiện cả.

14



15


toàn bộ khoản thu từ cuộc bán đấu giá đó. Doanh nghiệp bán đấu giá câu kết với
người tham gia đấu giá khác mà gây thiệt hại cho người khác, thì cuộc bán đấu giá
sẽ không có hiệu lực và doanh nghiệp vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường
theo quy định của pháp luật, có thể xử phạt một khoản tiền từ 100% đến 500% giá
trả cao nhất đối với người bán đấu giá có hành vi cấu kết. Doanh nghiệp bán đấu giá
nếu biết rõ rằng, người ủy quyền không có ủy quyền sở hữu đối với tài sản hoặc
không có quyền xử lý tài sản, quyền tài sản theo quy định của pháp luật, mà vẫn
tiến hành bán đấu giá tài sản thị sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với người ủy quyền, người ủy quyền bán đấu giá tài sản mà mình
không có quyền sở hữu hoặc xử lý sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp
luật. Người ủy quyền tham gia trả giá hoặc ủy quyền cho người khác tham gia trả
giá sẽ bị phạt tiền đến 30% giá bán tài sản bán đấu giá.
- Đối với người tham gia đấu giá, mà cố ý cấu kết với những người tham gia
đấu giá khác và doanh nghiệp bán đấu giá sẽ bị xử phạt một khoản tiền từ 10% đến
30% của giá trả cao nhất đối với người tham gia đấu giá.
- Vi phạm từ cơ quan, cán bộ nhà nước, nhân viên cơ quan nhà nước có thẩm
quyền bán đấu giá tài sản theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, khu tự trị hoặc
chính quyền địa phương, nơi có tài sản mà không thực hiện đúng như quy định về
bán đấu giá các loại tài sản trên sẽ bị xử lý theo quy định về xử phạt vi phạm hành
chính, nếu gây thiệt hại cho Nhà nước thì phải bồi thường.
Ở Việt Nam từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, các cơ quan có thẩm quyền
đã ban hành một số văn bản liên quan đến bán đấu giá như: Pháp lệnh Thi hành án
dân sự năm 1989, Bộ luật Dân sự năm 1995. Cụthể hóa Bộ luật Dân sự năm 1995,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/1996/NĐ-CP kèm theo Quy chế bán đấu
giá tài sản. Đây là văn bản đầu tiênquy định việc thành lập các tổ chức bán đấu giá
tài sản ở các tỉnh, thành phố và quy định một số nội dung liên quan đến bán đấu giá

pháp luật liên ngành không thuần túy là một chế định riêng biệt trong một văn bản
pháp luật cụ thể nào đó mà nó có ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Quan hệ về
xử lý vi phạm hợp đồng bán đấu giá tài sản có thể mang tính chất của quan hệ dân
sự, thương mại thuần túy hoặc mang tính chất của quan hệ hành chính - tư pháp.
- Pháp luật về xử lý vi phạm hợp đồng bán đấu giá tài sản phản ánh rõ
nguyên tắc công khai của quan hệ bán đấu giá tài sản. Điều này xuất phát từ nguyên

17


lý chung là nếu không công khai thì sẽ không có nhiều người tham gia quan hệ theo
quy định của pháp luật;
- Pháp luật về xử lý vi phạm hợp đồng bán đấu giá tài sản mang đặc tính của
pháp luật về thủ tục thực hiện quan hệ pháp luật. Trong hệ thống pháp luật có thể
phân chia thành hai bộ phận cơ bản: các quy định về nội dung quan hệ và các quy
định về thủ tục thực hiện quan hệ. Pháp luật về bán đấu giá thuộc bộ phận thứ hai.
1.2.2. Những nội dung cơ bản về xử lý hợp đồng đấu giá tài sản theo
pháp luật
Theo nguyên tắc chung của pháp luật về hợp đồng, khi người có nghĩa vụ
không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng thì
bên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp
cưỡng chế để buộc người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ. Nếu bên có quyền đã
yêu cầu mà bên có nghĩa vụ vẫn không thực hiện, thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà
nước áp dụng những biện pháp cưỡng chế buộc bên kia phải thực hiện nghĩa vụ dân
sự theo hợp đồng.
Đối với việc xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá tài sản, các quy định của pháp
luật về xử lý vi phạm hợp đồng bán đấu giá tài sản được quy định trong Luật Đấu
giá tài sản, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính và các
văn bản pháp luật khác có quy định một số nội dung liên quan tới lĩnh vực bán đấu
giá tài sản. Có thể chia các pháp luật về xử lý vi phạm hợp đồng bán đấu giá tài sản

có thể cùng nhau thương lượng hoặc nhờ trung gian hòa giải; có thể yêu cầu Tòa án
hoặc Trọng tài thương mại giải quyết theo các biện pháp đã thỏa thuận trong hợp
đồng; hoặc yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xử lý về mặt hành chính; hoặc có
thể yêu cầu cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân xem xét khởi tố vụ án hình
sự...
1.2.3. Các hành vi vi phạm hợp đồng bán đấu giá tài sản:
Trước hết, cần làm rõ thế nào là hành vi vi phạm hợp đồng bán đấu giá tài sản:
“Hành vi vi phạm hợp đồng bán đấu giá tài sản là các hành vi của các bên tham gia
quan hệ hợp đồng bán đấu giá tài sản, trong quá trình thực hiện hợp đồng bán đấu
giá tài sản, đã vi phạm pháp luật về bán đấu giá tài sản, vi phạm các điều khoản thỏa
thuận của các bên đã được ghi nhận trong hợp đồng bán đấu giá tài sản”.
Các hành vi vi phạm thể hiện qua các trường hợp sau đây:

19


Thứ nhất, có sự liên kết, thông đồng giữa người có tài sản bán đấu giá và tổ
chức bán đấu giá. Lợi dụng kẽ hở của pháp luật, chủ tài sản thường lựa chọn đơn vị,
doanh nghiệp tổ chức bán đấu giá “thân thiết” để dễ bề điều khiển họ làm theo ý
mình nhằm trục lợi cá nhân. “Trong trường hợp này, chủ tài sản thường thuê các
đơn vị thẩm định giá và đưa ra giá khởi điểm rất thấp để đấu giá. Đối với đơn vị
được thuê tổ chức đấu giá, họ sẽ đăng thông tin bán đấu giá tài sản trên các phương
tiện thông tin đại chúng một cách mập mờ, chung chung với mục đích càng ít người
biết và mua hồ sơ càng tốt. Nếu nhiều người mua hồ sơ, không thể “cầm trịch” được
kết quả đấu giá như mong muốn thì chủ tài sản và đơn vị tổ chức đấu giá sẽ tìm
cách huỷ phiên đấu giá.
Thứ hai, cũng diễn ra thường xuyên và phổ biến là việc một số doanh nghiệp,
đơn vị tổ chức đấu giá gây khó khăn cho khách hàng trong việc tiếp cận, mua hồ sơ
và xem tài sản với mục đích hạn chế người tham gia đấu giá. Mặc dù, hành vi “om”
hồ sơ, gây khó khăn cho khách hàng là hành vi bị cấm và bị phạt rất nặng được quy

sản. Cụ thể, đối với trường hợp hủy theo thỏa thuận giữa người có tài sản bán đấu
giá, người mua được tài sản bán đấu giá và tổ chức bán đấu giá tài sản thì trường
hợp bán đấu giá thành nhưng vì một lý do nào đó hoặc gặp sự kiện bất khả kháng,
bên mua được tài sản không thể nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá để nhận tài sản
theo hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá và bên bán cũng không đồng ý thỏa
thuận việc hủy kết quả bán đấu giá vì khi tổ chức bán đấu giá lại, có thể sẽ không
bán được với mức giá như lần đã đấu giá thành hoặc tài sản sẽ bị giảm sút giá trị do
chất lượng tài sản bị giảm sút theo thời gian. Lúc này không có cơ sở để hủy kết quả
bán đấu giá tài sản. Trường hợp này bên bán cũng không thể nhận được tiền bán
đấu giá tài sản, bên mua cũng không thể nhận được tài sản vì không thể thanh toán
được tiền cho bên bán và tổ chức bán đấu giá tài sản cũng không thể thu lại được
các khoản chi phí đã bỏ ra để tổ chức cuộc bán đấu giá nhưng kết quả cuộc bán đấu
giá tài sản thì vẫn không thể hủy được. Việc không có cơ sở pháp lý để giải quyết
đối với trường hợp này đã làm cho giá trị tài sản càng ngày càng hao hụt, giảm sút,
trong một số trường hợp việc dây dưa, kéo dài kết quả bán đấu giá tài sản của các
bên sẽ làm giá trị của tài sản không còn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền,
lợi ích của bên có tài sản bán đấu giá và tổ chức bán đấu giá.
Thứ sáu, bên cầm giữ tài sản tự ý ký hợp đồng bán đấu giá, dẫn đến hợp đồng

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status