Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH THỊ BÍCH UYÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH THỊ BÍCH UYÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐỖ THỊ KIM ĐỊNH

HÀ NỘI, năm 2019



Tác giả

Trịnh Thị Bích Uyên


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH........................................... 11
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về phát thanh,
truyền hình...................................................................................................... 11
1.2. Nội dung quản lý Nhà nước đối với phát thanh, truyền hình ................. 20
1.3. Hình thức quản lý Nhà nước đối với PT-TH .......................................... 27
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình 29
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT
THANH, TRUYỀN HÌNH TẠI TỈNH QUẢNG NAM ............................ 33
2.1. Khái quát về phát thanh, truyền hình tại tỉnh Quảng Nam. .................... 33
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình tại tỉnh Quảng
Nam ................................................................................................................ 41
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình tại
tỉnh Quảng Nam ............................................................................................. 48
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH TẠI TỈNH
QUẢNG NAM .............................................................................................. 63
3.1. Định hướng tăng cường quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình .. 63
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước về phát thanh, truyền hình từ
thực tiễn tỉnh Quảng Nam ............................................................................. 66
KẾT LUẬN ................................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO

ĐKTS

: Đăng ký tần số

6.

HĐND

: Hội đồng nhân dân

7.

KT-XH

: Kinh tế xã hội

8.

KTV

: Kỹ thuật viên

9.

PT-TH

: Phát thanh, truyền hình

10. PV


18. XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát thanh, truyền hình với tư cách là một phương tiện truyền thông đại
chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các
phương tiện khác; PT-TH phản ánh ngay lập tức các sự kiện khi vừa mới diễn
ra, thậm chí đang diễn ra, khán thính giả có thể nghe, quan sát một cách chi
tiết, tường tận, trực tiếp và liên tục 24/24h trong ngày; mang đến cho khán,
thính giả những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật
những tin tức mới nhất. Đây là ưu thế đặc biệt của PT-TH so với các loại hình
báo chí khác, là phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao, có
khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện.
Hiện nay, cả nước có 67 Đài PT-TH bao gồm: 02 đài trực thuộc Trung
ương (Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam); 01 Đài thuộc Bộ
TTTT (Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC); 64 Đài PT-TH địa phương (62
Đài PT-TH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; riêng Thành phố Hồ
Chí Minh có 02 Đài: Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và Đài Tiếng
nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh). Với 268 kênh được cấp phép, các Đài
PT-TH không ngừng nâng cao chất lượng, sản xuất chương trình bằng công
nghệ chuẩn HD. Số lượng thuê bao của dịch vụ truyền hình trả tiền tăng
nhanh, lên tới 12,5 triệu thuê bao, doanh thu 12.000 tỷ đồng [9].
Có 6 kênh truyền hình hoạt động không có hạ tầng phát sóng truyền
hình riêng gồm: Kênh truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV TV), Kênh
truyền hình Công an nhân dân (ANTV), Kênh truyền hình Thông tấn
(Vnews), Kênh truyền hình Quốc phòng, Kênh truyền hình Quốc hội, Kênh
truyền hình Nhân dân. Số lượng kênh chương trình phát thanh trong nước là

hình mặt đất công nghệ tương tự để chuyển sang phát sóng truyền hình mặt
đất công nghệ số khi 95% số hộ gia đình có máy thu hình thu các kênh
chương trình truyền hình bằng những phương thức truyền dẫn, phát sóng số
khác nhau. Theo đó, trước năm 2020 sẽ ngừng việc sử dụng công nghệ truyền

2


hình cáp tương tự trước để chuyển sang công nghệ số. Hệ thống mạng cáp
được ngầm hóa trên các tuyến đường chính tạicác tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương…”
Hệ thống PT-TH trong cả nước hiện nay đang phát triển nhanh cả về
nội dung, chất lượng chương trình, hạ tầng kỹ thuật và phương thức truyền
dẫn, phát sóng, góp phần tích cực vào sự phát triển KT-XH của đất nước. Tuy
nhiên, sự phát triển nhanh, mạnh của hệ thống PT-TH đang đặt ra những
thách thức trong công tác quản lý nhà nước, nhất là đối với các cơ quan quản
lý nhà nước ở địa phương. PT-TH là loại hình báo chí mang tính đặc thù, đòi
hỏi sự gắn kết giữa nội dung, kỹ thuật và hạ tầng. Vì vậy, quản lý nhà nước về
PT-TH đòi hỏi sự thống nhất, mang tính đồng bộ cao cả về nội dung và kỹ
thuật, trong khi đó ở nhiều địa phương điều này vẫn chưa đáp ứng được.
Để PT-TH phát triển, phát huy tối đa vai trò là cầu nối giữa nhân dân
với Đảng, Nhà nước, cần tăng cường vai trò của quản lý nhà nước, nhất là
tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực này. Phương
tiện bảo đảm cho việc quản lý nhà nước đối với kênh thông tin này đó là pháp
luật và được tiến hành một cách đồng bộ trên cơ sở có sự phân công và phối
hợp chặt chẽ [11]. Điều 2, Luật Báo chí 2016 quy định cụ thể về hoạt động
của báo chí là trong khuôn khổ pháp luật và được nhà nước bảo hộ. Luật này
cũng quy định không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí,
nhà báo hoạt động; đồng thời không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, tự
do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của nhà nước, tập thể và công

phối lẫn nhau trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Có thể kể đến những
công trình tiêu biểu như sau:
- Hồng Chương, Lịch sử báo chí Việt Nam (1985), Nxb. Sự thật, tác giả
khái quát lịch sử báo chí từ khi xuất hiện ấn phẩm báo chí đầu tiên ở Việt
Nam năm 1865, dưới sự quản lý của chính quyền thực dân Pháp, báo chí chủ
yếu là công cụ tuyên truyền của chế độ thực dân. Nhiều đạo luật, sắc lệnh về
báo chí cho Đông Dương đã được thực dân Pháp ban hành. Sắc lệnh ngày 3012-1898 đã đình chỉ việc thi hành luật tự do báo chí, ngày 29-7-1881, của

4


Chính phủ Pháp ở Đông Dương. Theo Sắc lệnh này, việc thành lập một tờ báo
hay xuất bản ấn phẩm định kì bằng bất cứ thứ tiếng nào đều có thể bị đình chỉ
bởi nghị định của quan Toàn quyền và không một tờ báo tiếng Việt nào có thể
xuất bản nếu không được phép của quan Toàn quyền. Báo chí từ sau Cách
mạng tháng Tám được hoạt động tự do để bảo vệ chính quyền Cách mạng non
trẻ, phục vụ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; báo chí từ sau
năm 1975 nặng về thông tin một chiều.
- Hồng Chương, 124 năm báo chí Việt Nam (1985), Nxb. Bộ Tư pháp
Thành phố Hồ Chí Minh, tác phẩm giới thiệu tóm tắt lịch sử báo chí Việt
Nam, nhất là báo chí cách mạng qua các thời kỳ. Qua đó, nói lên chức năng
và vai trò của báo chí, hình thức và mức độ quản lý của Nhà nước đối với báo
chí qua từng thời kỳ.
- Đinh Văn Hường, Báo chí truyền thông Việt Nam trong tiến trình
phát triển và hội nhập, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc
gia Hà Nội (himinhcity. gov.vn/c/document library) điểm
lại tiến trình lịch sử báo chí Việt Nam từ khi có tờ Gia Định báo (năm 1865).
Trong đó, đề cập đến dấu mốc ra đời nền báo chí cách mạng Việt Nam, khi
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập báo Thanh niên. Cuốn sách cũng khẳng
định báo chí truyền thông đã có những đóng góp lớn cho sự nghiệp đấu tranh

nước đang tiến hành công cuộc đổi mới.
- Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện pháp luật về báo chí ở Việt Nam hiện
nay” (2016) của Phí Thị Thanh Tâm đã khái quát kết quả các công trình
nghiên cứu về báo chí và pháp luật báo chí trên thế giới cũng như ở Việt
Nam. Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận như khái niệm, nội dung, những
tiêu chí xác định vai trò của pháp luật báo chí. Đồng thời phân tích thực trạng
pháp luật báo chí ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay theo từng giai đoạn lịch
sử. Những lập luận và phân tích của tác giả về những tồn tại, hạn chế và
nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong pháp luật báo chí. Từ đó, đề
xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về báo chí ở Việt Nam hiện nay…
- Ngoài ra, còn có những công trình: Tạ Ngọc Tấn “Từ lý luận đến thực

6


tiễn báo chí” (2000), Nxb. Văn hóa - Thông tin; “Báo chí - những vấn đề lý
luận và thực tiễn” các kỳ xuất bản năm 1994, 1996, 1997, 2001, 2010 do các
Nxb. Giáo dục, Nxb. Đại học quốc gia xuất bản; Hà Minh Đức, “Cơ sở lý
luận báo chí - Đặc tính chung và phong cách” (2000), Nxb. Đại học quốc gia;
Nguyễn Văn Dững, Hồ Bất Khuất, “Báo chí: Những điểm nhìn từ thực tiễn”
(2000), Nxb. VHTT đã làm sáng rõ một số phạm trù, khái niệm cơ bản, tìm ra
mối quan hệ bên trong, các sự liên hệ trong quá trình vận hành với các tiến
trình xã hội; đưa ra các quy luật, phương pháp nguyên tắc, con đường nhằm
tăng cường chất lượng hoạt động của báo chí và các cơ quan quản lý báo chí.
- “Cơ sở lý luận báo chí” (2005) của nhóm tác giả Tạ Ngọc Tấn, Trịnh
Đình Thắng, Đinh Thế Huynh, Lê Mạnh Bỉnh, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền, Nxb. Lý luận chính trị; Tạ Ngọc Tấn, “Truyền thông đại chúng”
(2001), Nxb. Chính trị quốc gia; Nguyễn Văn Dững, “Cơ sở lý luận báo chí”
(2012), Nxb. Lao động; Dương Xuân Sơn, “Cơ sở lý luận báo chí truyền
thông”, các kỳ xuất bản năm 1995, 2004, 2005, do các Nxb. VHTT, Đại học

xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về PT-TH;
giúp cho các Đài PT-TH tỉnh, Đài TT-TH cấp huyện, thị xã, thành phố (sau
đây gọi chung là Đài TT-TH huyện), Đài truyền thanh xã hoạt động đúng tôn
chỉ, mục đích; bám sát thực tiễn đời sống xã hội, định hướng tư tưởng và
nhiệm vụ chính trị của tỉnh, của cơ sở; tích cực tuyên truyền, phản ánh nhiều
chiều, phong phú, đa dạng mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá-xã hội,
an ninh quốc phòng, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, hình thức cũng
như các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về PT-TH.
- Đánh giá thực trạng về hoạt động quản lý nhà nước về PT-TH tại tỉnh
Quảng Nam; phân tích, làm sáng tỏ những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân
của những hạn chế.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về PT-TH
nói chung và PT-TH tại tỉnh Quảng Nam nói riêng.

8


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động quản lý nhà nước về PT-TH tại tỉnh
Quảng Nam; những quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động
PT-TH. Đề tài sẽ không đề cập các nội dung liên quan đến vấn đề nghiệp vụ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Tỉnh Quảng Nam
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2013 đến năm 2018
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ

tất cả các lĩnh vực; đồng thời phản ánh những việc làm sai trái, vi phạm...
hướng đến thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về phát thanh,
truyền hình
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình tại
tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về
phát thanh, truyền hình tại tỉnh Quảng Nam.

10


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về phát
thanh, truyền hình
1.1.1. Khái niệm về phát thanh, truyền hình
1.1.1.1. Khái niệm về phát thanh
Phát thanh là một thể loại báo chí, thông báo về một sự kiện mới, tuyên
bố mới, tình hình mới về sự việc, hiện tượng con người đã, đang và sẽ xảy ra,
được truyền đạt trực tiếp, dễ hiểu đến đối tượng thính giả bằng phương tiện
radio. Như thế, phát thanh tác động đến thính giả bằng âm thanh, lời nói, tiếng
động, âm nhạc. Hay nói cách khác, thông qua kỹ thuật sóng điện từ và hệ
thống truyền thanh, phát thanh truyền đi âm thanh, tác động trực tiếp vào
thính giác của người tiếp nhận. Là một loại hình truyền thông độc đáo, hấp

thân mật, gần gũi với công chúng chính là sức hấp dẫn của báo phát thanh.
Với mục tiêu thu hút thính giả, tạo ra sức sống cho làn sóng phát thanh,
những người làm báo phát thanh hiện đại không chỉ quan tâm đến việc đem
lại cho công chúng những thông tin nóng hổi, bổ ích, gần gũi với cuộc sống
thường nhật mà còn ở cách thể hiện những thông tin đó một cách thân tình,
gần gũi “như nói với một người bạn”. Người làm báo phát thanh ngày nay rất
quan tâm đến những thói quen và sở thích của từng nhóm công chúng nghe
Đài, không ngừng cải tiến về hình thức, chất lượng để các chương trình phát
thanh ngày càng gần gũi hơn với thính giả, phù hợp với từng đối tượng nghe
đài, đáp ứng thị hiếu ở từng độ tuổi...
1.1.1.2. Khái niệm về truyền hình
Truyền hình (Television) có xuất xứ từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp.
Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là ở xa, “videra” có nghĩa là thấy
được, còn theo tiếng Latinh có nghĩa là thấy được từ xa, ghép hai từ đó lại là

12


“Televidera”. Tiếng Anh là Television, Tiếng Pháp cũng là “Television” [52].
Như vậy dù bất cứ quốc gia nào thì tên gọi truyền hình vẫn có chung một
nghĩa.
Với khả năng thu nhận tín hiệu sóng vô tuyến cũng như truyền dẫn các
tín hiệu điện, truyền hình mang hình ảnh và âm thanh được mã hóa. Truyền
hình được phát dưới dạng sóng vô tuyến, qua hệ thống cáp quang, hoặc cáp
đồng trục. Truyền hình đáp ứng bạn xem đài cả hình ảnh lẫn âm thanh cùng
một lúc [52].
Truyền hình có 02 loại là truyền hình sóng và truyền hình cáp.
- Truyền hình sóng:
Truyền hình sóng là truyền hình được thực hiện theo nguyên tắc kỹ
thuật như sau: hình ảnh và âm thanh được mã hóa dưới dạng các tín hiệu sóng

có khả năng thu hút đông đảo người xem cùng một lúc, kể các vùng sâu ,
vùng xa nhờ sự phát triển của khoa học và công nghệ, đó là ưu thế của truyền
hình về tính phổ cập. Tính quảng bá của truyền hình thể hiện ở chỗ khắp nơi
trên thế giới có thể tiếp nhận thông tin, sự kiện xảy ra ở bất kì đâu khi được
đưa lên vệ tinh.
Khả năng thuyết phục công chúng: Với độ tin cậy cao nhờ 2 phương
diện nghe và nhìn thông qua âm thanh và hình ảnh nên truyền hình có khả
năng tác động mạnh mẽ vào suy nghĩ, nhận thức và hành động của con người.
Khả năng thuyết phục công chúng của truyền hình là công chúng có thể
chứng kiến tận mắt những hình ảnh chân thực của sự kiện dù nó xảy ra bất cứ
ở đâu. Đây là lợi thế lớn của truyền hình so với các loại hình chí khác.
Khả năng tác động dư luận xã hội nên truyền hình trở thành diễn đàn
của nhân dân: Các chương trình truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng
hổi, hấp dẫn người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho
người xem thấy được thực tế của vấn đề, vừa tác động vào nhận thức của
công chúng.
1.1.1.3. Vai trò, chức năng của phát thanh, truyền hình trong đời sống
xã hội

14


PT-TH có vai trò, chức năng ngày càng quan trọng trong đời sống xã
hội bởi thông qua đó sẽ chuyển tải những chủ trương, đường lối của Ðảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước và của cấp ủy, chính quyền địa phương
nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân, tạo sự ổn định về an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chính vì vậy, Lênin coi
máy thu thanh là “công việc vĩ đại”, đã gọi nó là “tờ báo không có giấy và
không có khoảng cách” [Lênin toàn tập, tập 517, NXB Tiến bộ - 1978,
tr.167”].

Chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội của PT-TH thể hiện ở
chỗ duy trì và phát triển mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ thể và khách thể quản
lý thông qua việc duy trì và phát triển dòng thông tin hai chiều, bảo đảm cho
các quyết định quản lý được thông suốt và thực thi. Giám sát xã hội của báo
chí là đề cao tinh thần trách nhiệm của các nhà quản lý, những người làm
chuyên môn và của người dân trong việc theo dõi, kiểm tra quá trình thưc
hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Thông qua chức năng giám sát xã hội của báo chí sẽ kịp thời tuyên dương,
khen thưởng những gương điển hình, những cá nhân người tốt việc tốt để biểu
dương và nhân rộng; đồng thời kịp thời phát hiện những nơi đi chệch hướng,
làm sai, những vi phạm pháo luật để uốn nắn, đấu tranh và xử lý nhằm bảo
đảm cho đường lối, chính sách chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước
được thực thi đúng trong thực tế.
Chức năng kinh tế – dịch vụ: với sự phát triển của kinh tế thị trường thì
PT-TH mang tính kinh tế, dịch vụ bởi thông qua đó, nhiều nguồn thu được
tích lũy để đưa vào ngân sách nhà nước và chi vào hoạt động ý nghĩa khác
nhằm nâng cao đời sống con người.
1.1.2. Khái niệm, vai trò quản lý nhà nước đối với phát thanh, truyền
hình
1.1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý là nhằm phối hợp, tác động qua lại giữa các lao động đơn lẻ để
đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất [Các Mác – Ph. Ăng

16


ghen, toàn tập, tập 23, tr.23]. Trên thế giới hiện nay, cách hiểu về quản lý có
tính thống nhất tương đối. Khoa học về quản lý định nghĩa: Quản lý là sự tác
động liên tục, qua lại có tính tổ chức, có tính định hướng của chủ thể quản lý
lên khách thể quản lý ở các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…

nhằm phục vụ lợi ích nhân dân. Theo đó có 03 chức năng cơ bản của quản lý
nhà nước, đó là: chức năng lập pháp do cơ quan lập pháp thực hiện; chức
năng hành pháp (chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước
đảm nhiệm; chức năng tư pháp do cơ quan tư pháp thực hiện.
Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước là quản lý, điều hành các lĩnh vực
của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật của các cơ quan thực thi
quyền lực nhà nước (quyền hành pháp). Theo đó, quản lý hành chính nhà
nước là hoạt động quản lý được giới hạn trong các cơ quan hành pháp, đó là
Chính phủ và UBND các cấp; hệ thống các cơ quan quyền lực, xét xử và kiểm
sát thực hiện quyền lập pháp và tư pháp không thuộc hệ thống quản lý hành
chính nhà nước [55].
1.1.2.2. Khái niệm quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình
Quản lý nhà nước về PT-TH là cách thức quản lý hoạt động PT- TH
của các cơ quan chủ quản được nhà nước giao nhiệm vụ nhằm bảo đảm cho
hoạt động ở lĩnh vực này được ổn định và phù hợp với xu thế phát triển chung
của xã hội. Thông qua các quy định được ban hành, nhà nước đại diện cho
nhân dân, đảm bảo cho công dân được thực hiện các quyền cơ bản của mình,
trong đó có quyền về tự do ngôn luận, tự do báo chí [62]. Nhà nước có trách
nhiệm điều tiết để đảm bảo cho báo nói, báo hình phát triển, đáp ứng các nhu
cầu về thông tin của nhân dân, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng chính
sách tự do ngôn luận, tự do báo chí để đưa ra các luận điệu sai trái, thực hiện
chiến lược “diễn biến hòa bình” gây mất an ninh chính trị và trật tự trong
nước [67].
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí nói chung và PT-TH nói riêng

18






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status