VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH ANH SƠN
QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC CỦA HUYỆN PHƯỚC SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH ANH SƠN
QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC CỦA HUYỆN PHƯỚC SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 8 34 04 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. BÙI QUANG BÌNH
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ngân
sách của huyện ................................................................................................ 59
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
2.1.
2.2.
2.3.
2.4.
2.5.
2.6.
2.7
Tổng đầu tư công từ nguồn ngân sách huyện Phước
Sơn
Dự toán và quyết toán đầu tư công từ nguồn NSNN
huyện Phước Sơn
Phước Sơn là huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, diện tích tự nhiên
114.479 héc ta. Trong giai đoạn 2011- 2018, nền kinh tế - xã hội huyện có thêm
bước tiến mới, 3 khâu đột phá: xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đào tạo
nguồn nhân lực; quản lý bảo vệ rừng và phát triển dịch vụ) có chuyển biến đáng
kể. Các mục tiêu phát triển lâm – nông nghiệp hàng hóa gắn với xây dựng nông
thôn mới, phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp gắn với chuyển dịch cơ
cấu lao động, tạo việc làm và mở rộng kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã thúc đẩy
sản xuất, tiêu dùng phát triển khá thành công.
Tuy nhiên, Phước Sơn vẫn còn là huyện nghèo, thu ngân sách trên địa bàn
đạt thấp, trung bình hàng năm ngân sách tỉnh cấp bổ sung cho địa phương chiếm
khoảng 60%; khả năng nguồn vốn đầu tư công dành cho đầu tư XDCB còn nhiều
hạn chế, nhất là cho lĩnh vực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông còn hạn
hẹp.
Những kết quả đạt được từ công tác quản lý vốn đầu tư công từ nguồn
ngân sách nhà nước của huyện Phước Sơn trong thời gian qua có lúc hiệu quả
chưa cao; vẫn còn tồn tại, hạn chế, tình trạng thất thoát gây lãng phí trong việc
sử dụng nguồn vốn NSNN cho lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình giao thông
còn xảy ra cần sớm được khắc phục. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên thì có
nhiều, nhưng tựu trung lại là do một số nguyên nhân chủ yếu: Từ khâu lập quy
hoạch, thiết kế, dự toán, đấu thầu; thi công xây dựng; công tác lập kế hoạch chưa
phù hợp; có dự án xác định quy mô chưa phù hợp với khả năng nguồn vốn bố trí;
bố trí vốn đầu tư còn phân tán, dàn trải; bộ máy quản lý vốn đầu tư năng lực
chưa cao, hoạt động kém hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý. Làm thế
nào để sử dụng có hiệu quả hơn nữa nguồn vốn ngân sách nhà nước trong thời
gian tới là vấn đề cần giải quyết của địa phương. Đó chính là lý do tác giả lựa
1
chọn đề tài “Quản lý đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước của huyện
năng và nhiệm vụ mà nhà nước làm thiếu hiệu quả; đổi mới mạnh mẽ phương
thức cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cho nhân dân; tách việc quản lý nhà
nước ra khỏi nhiệm vụ sản xuất và cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công; tăng
cường tính minh bạch của các hoạt động chi tiêu công quỹ, nhất là của các quỹ
ngoài ngân sách; cải cách cơ chế bầu cử, tăng cường sự minh bạch về trách
nhiệm của các đại biểu dân cử.
- Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Đẩu về đề tài “Huy động và sử dụng
vốn đầu tư phát triển kinh tế Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp” . Luận án đã
áp dụng một hệ thống mô hình, chỉ tiêu và phương pháp khoa học để đo lường
và đánh giá hiệu quả quá trình vận động của đồng vốn đầu tư từ huy động đến sử
dụng trong nền kinh tế thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2003, chỉ ra những ưu
điểm và nhược điểm trong quá trình huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển ở
Đà Nẵng. Từ đó đề ra các giải pháp: Phát huy và đa dạng hoá các phương thức
và công cụ huy động vốn hiện đại; xây dựng và phát triển thị trường giao dịch
các loại chứng khoán dài hạn; xác định đúng trọng điểm đầu tư; áp dụng mô
hình, chỉ tiêu, phương pháp khoa học trong việc định hướng đầu tư thúc đẩy tiến
bộ công nghệ, lựa chọn dự án đầu tư công cộng, lựa chọn dự án đầu tư sản xuất
kinh doanh… đảm bảo chuyển nền kinh tế Đà Nẵng từ phát triển dựa vào sự gia
tăng đầu vào sang phát triển dựa vào tiến bộ kỹ thuật, chất lượng tri thức, năng
suất lao động.
- Cuốn sách “Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”,
của tác giả Dương Thị Bình Minh đã dựa trên cơ sở tiếp cận các lý thuyết hiện
đại về quản lý chi tiêu công để phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi tiêu
công ở Việt Nam thời gian qua (1991-2004) và đề xuất các giải pháp kiến nghị
nhằm tăng cường quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả các khoản chi tiêu
công đến năm 2010.
- Luận án tiến sĩ của NCS Phan Tất Thứ về đề tài “Hoàn thiện công tác
đánh giá hiệu quả đầu tư công cộng tại Việt Nam”, Trường Đại học kinh tế quốc
3
4
nguồn vốn nhà nước, đánh giá hiệu quả đầu tư sử dụng nguồn vốn nhà nước và
nêu định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng vốn nhà nước; nêu
ra khó khăn lớn nhất liên quan đến hoạt động đầu tư sử dụng vốn nhà nước là sự
mất cân đối rất lớn giữa nhu cầu vốn có thể cân đối và nhu cầu đầu tư; đề ra
trọng tâm đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng vốn nhà nước là
khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, không đồng bộ và cả tình trạng
đầu tư các dự án kém hiệu quả, những dự án chưa hoàn thành thủ tục đầu tư tồn
tại kéo dài qua nhiều năm.
Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông có vai trò rất quan trọng trong
quá trình thay đổi bộ mặt đô thị và phát triển kinh tế - xã hội của từng địa
phương. Hiện nay hệ thống văn bản luật và dưới luật mới vừa được ban hành,
đang được học tập, nghiên cứu và áp dụng trong quản lý đầu tư CSHTGT. Mặt
khác việc hệ thống hoá, nghiên cứu và áp dụng các văn bản luật vừa được ban
hành, các quyết định và quy định của UBND tỉnh về quản lý đầu tư CSHTGT,
nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đầu tư CSHTGT bằng vốn ngân sách của
tỉnh để tìm ra vấn đề còn tồn tại và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công
tác quản lý đầu tư CSHTGT vốn ngân sách trong giai đoạn thiếu vốn và cắt giảm
đầu tư công, quản lý chặt chẽ nợ công sắp tới luôn là vấn đề cần thiết cả về mặt
lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý đầu tư
công từ nguồn ngân sách
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát lý luận và thực tiễn về quản lý đầu tư công từ nguồn ngân sách
Đánh giá thực trạng Quản lý đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước
nghiên cứu quản lý đầu tư công còn phải xem xét chính sách tài chính của nhà
nước trong từng thời kỳ.
Phương pháp luận duy vật lịch là cơ sở để xem xét nghiên cứu quản lý đầu
tư công từ nguồn ngân sách nhà nước trong mối quan hệ với quá trình quản lý
6
đầu tư công và chi tiêu công trong quá khứ và hiện tại. Nghiên cứu kinh nghiệm
quản lý đầu tư công từ ngân sách nhà nước có thể rút ra những thành công hạn
chế nhằm hoàn thiện quản lý trong tương lai.
Phương pháp luận quản lý kinh tế cung cấp cách xem xét quản lý đầu tư
công theo quy trình đầu tư công. Đó là từ hoạch định, tổ chức thực hiện, giảm sát
và kiểm tra đầu tư công.
- Phương pháp thu thập
Do đối tượng và mục tiêu nghiên cứu đề tài chủ yếu sử dụng dữ liệu thứ
cấp: Đó là số liệu từ các niên giám thống kê, các thông tin từ Các báo cáo tình
hình kinh tế xã hội huyện Phước Sơn hàng năm từ 2014-2018; các báo cáo chi
tiêu ngân sách của Tỉnh và huyện Phước Sơn hàng năm từ 2014-2018, Báo cáo
đánh giá tổng kết thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản của huyện từ 2014-2018,
Các đề án và tham luận, các tài liệu khoa học về quản lý đầu tư công của Việt
Nam và Quảng Nam…..
Để có cơ sở dữ liệu ở đây sẽ áp dụng Phương pháp khảo cứu tài liệu: Học
sẽ thu thập và phân loại các tài liệu về chủ đề này. Tiến hành xem xét mục tiêu,
đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu… Từ đó rút ra
những điểm mạnh có thế kế thừa những khoảng trống của nghiên cứu và xây
dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu của mình.
- Phương pháp phân tích
Phương pháp diễn dịch trong suy luận: Tức là nghiên cứu lý luận về quản
lý đầu tư công từ nguồn ngân sách từ lý thuyết quản lý kinh tế và chính sách
phương pháp dãy số thời gian … để xem xét, đánh giá biến động và xu thế thay
đổi của sự thay đổi đầu tư công. Được sử dụng trong chương 2 của đề tài.
- Phân tích so sánh
Phương pháp này sẽ được sử dụng để so sánh một số nội dung trong việc
phân tích cách thức quản lý đầu tư công bằng nguồn ngân sách bằng cách tham
chiếu các tiêu chuẩn đã có từ lý luận và số liệu thực tế của quá trình này hay có
thể so sánh giữa các dữ liệu này với nhau theo từng thời kỳ để thấy sự thay đổi
cũng như mức biến động hay của các địa phương khác nhằm chỉ ra những điểm
mạnh yếu của quá trình này. Được sử dụng trong chương 2 của đề tài
- Phương pháp tổng hợp, đánh giá
Phương pháp này cho phép khái quát kết quả phân tích quá trình và cách
thức quản lý đầu tư công bằng những bình luận và các nhận định khác nhau. Từ
Tổng hợp sẽ có cái nhìn toàn cảnh về quản lý đầu tư công bằng nguồn ngân sách
8
nhà nước của huyện. Được sử dụng trong chương 2 của đề tài.
6. Ý nghĩa lý về cơ sở lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa về lý luận
Công trình nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống, luận văn góp phần
khái quát được lý luận về quản lý đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước.
6.2. Ý nghĩa về thực tiễn
Trên cơ sở đánh giá được thực trạng về công tác quản lý đầu tư công từ
nguồn ngân sách nhà nước của huyện Phước Sơn; tác giả đưa ra một số giải pháp
cơ bản để hoàn thiện công tác quản lý đầu tư này trong những năm tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp
nhà nước và các vốn khác do Nhà nước quản lý.
Luật Đầu tư công được ban hành vào năm 2014 định nghĩa “ Đầu tư công
là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội”.
10
Trong luận văn này đầu tư công bằng nguồn ngân sách là “Đầu tư công
bằng nguồn ngân sách nhà nước” là việc sử dụng nguồn vốn nhà nước để đầu tư
duy trì và mở rộng tài một bộ phận tài sản sản sản xuất của nền kinh tế thông
qua các chương trình, dự án nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội không
nhằm mục đích kinh doanh.
1.1.2. Vai trò và đặc điểm của đầu tư công từ nguồn vốn NSNN
Vai trò của đầu tư công từ nguồn vốn NSNN
- Đây là nguồn đầu tư chủ yếu cho cơ sở hạ tầng (CSHT)
Nguồn vốn đầu tư từ NSNN đóng vai trò rất lớn và chủ yếu trong phát
triển cơ sở hạ tầng nhất là khi đầu tư vào những nơi, lĩnh vực mang tính đột phá,
làm tiền đề thúc đẩy các ngành khác phát triển như: công nghiệp, du lịch, vận tải,
nông nghiệp… đồng thời đầu tư ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa;
vùng biên giới, vùng kinh tế còn khó khăn.
- Định hướng đầu tư từ nguồn vốn NSNN chủ yếu cho cơ sở hạ tầng trong
nền kinh tế
Do nhu cầu đầu tư CSHT rất lớn và giới hạn nguồn vốn NSNN, nên giải
pháp xã hội hóa luôn được quan tâm. Để thu hút, kêu gọi các nhà đầu tư khác thì
nguồn đầu tư từ NSNN là một khoản đầu tư mồi, kích thích các nhà đầu tư khác.
- Đầu tư từ nguồn vốn NSNN góp phần tăng tích lũy
cao hiệu quả vốn đầu tư.
Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tư với chi thường xuyên của
ngân sách sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng cơ
sở hạ tầng. Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản đầu tư.
Sự gắn kết giữa 2 nhóm chi tiêu này sẽ khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan,
không tình đến hiệu quả khai thác.
1.2. Quản lý đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước
1.2.1. Khái niệm, vai trò của quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN
Quản lý, theo nghĩa chung, là sự tác động có mục đích của chủ thể vào các
đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra (Phan Huy
Đường (2015).
12
Quản lý đầu tư từ nguồn NSNN là một trong những hoạt động quản lý vừa
mang tính chất quản lý hoạt động đầu tư công nhưng phải tuân thủ theo quá trình
quản lý NSNN trên cơ sở luật ngân sách và chịu chi phối của luật đầu tư.
Quản lý đâu tư từ nguồn NSNN: là sự tác động liên tục, có tổ chức, định
hướng mục tiêu; là các hoạt động chấp hành, điều hành công tác đầu tư có tính
tổ chức; được thực hiện, thi hành trên cơ sở các quy định của pháp luật; được
bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà
nước. Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng từ ngân sách bao gồm các nội dung cụ thể
như: (i) Hoạch định đầu tư cơ sở hạ tầng; (ii) Tiến hành chuẩn bị đầu tư đầu tư
cơ sở hạ tầng; (3i) Tiến hành thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng; (4i) Thực hiện vận
hành nghiệm thu và đưa vào sử dụng cơ sở hạ tầng; (5i) Tiến hành kiểm tra và
đánh giá cơ sở hạ tầng mới hoàn thành. (Phạm Văn Khoan (2007)).
1.2.2. Công cụ quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN
Hệ thống luật có liên quan đến hoạt động đầu tư như luật đầu tư, luật
công ty, luật xây dựng, luật đất đai, luật bảo vệ môi trường, luật lao động, luật
cầu đầu tư nào bức thiết nhất có tính chất quyết định tới sự phát triển kinh tế xã
hội phải đầu tư bằng vốn ngân sách. Do đó quy hoạch không đúng sẽ hình thành
cơ sở vật chất mà chủ yếu là cơ sở hạ tầng mà nó không thỏa mãn nhu cầu bức
thiết nhất, ví dụ khi nghười ta quyết định xây chợ nhưng hiện tại chợ cũ vẫn sử
dụng được, trong khi đó do thiếu phòng học, học sinh phải học 3 ca nghĩa là nhu
cầu học tập của trẻ em bức thiết hơn xây chợ đã không được thỏa mãn.
Quy hoạch đầu tư từ nguồn ngân sách là giai đoạn xây dựng mục tiêu, bố
trí không gian, dự tính nguồn lực cần thiết từ ngân sách để đạt được xây dựng cơ
sở hạ tầng một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Nghĩa là giai đoạn này sẽ phải
trả lời các câu hỏi: Các cở sở hạ tầng nào cần thiết phải đầu tư trong giai đoạn
tới; Bố trí địa điểm không gian nào; Cần bao nhiều nguồn lực từ ngân sách.
Việc quy hoạch đầu tư từ nguồn nhân sách nhà nước sẽ được thực hiện
bởi một loạt các cơ quan chính phủ và chính quyền địa phương thực hiện và dựa
trên quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của mình. Việc quy hoạch phụ thuộc
vào nguồn lực ngân sách nhà nước địa phương là bao nhiêu. Có thể nói đây gần
14
do tình hình nợ công ngày càng lớn thì yếu tố này càng quyết định.
Tiếp theo phải thực hiện Quản lý đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước.
Đây là quá trình tác động có tổ chức của các cơ quan quản lý đầu tư thông qua
các biện pháp nhằm bảo đảm quá trình đầu tư này tuân thủ quy hoạch đầu công
trong tổng thể quy hoạch đầu tư chung của địa phướng.
1.2.3.2 Thực hiện quản lý chuẩn bị đầu tư công từ nguồn NSNN
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư công từ nguồn NSNN, lập dự án đầu tư xây
dựng công trình đầu tư công từ nguồn NSNN là để trình người quyết định đầu tư
xem xét việc đầu tư dự án có khả thi hay không, đảm bảo hiệu quả hay không về
các mặt như sự phù hợp với quy hoạch, khả năng giải phóng mặt bằng, nguồn
vốn, vệ sinh môi trường, an ninh quốc phòng...; xem xét dự án có đáp ứng được
- Quản lý công tác đấu thầu
Việc lập, thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu (hoặc
hồ sơ yêu cầu), đánh giá hồ sơ dự thầu (hoặc hồ sơ đề xuất) và kết quả đấu thầu
(hoặc chỉ định thầu) tuân thủ theo quy định của pháp luật về đấu thầu như: Luật
Đấu thầu, Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ; Nghị
định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ (có hiệu lực thi hành từ
ngày 15/8/2014 đến nay)… và các văn bản hướng dẫn do Bộ Kế hoạch và Đầu
tư ban hành.
1.2.3.3. Lập, thực hiện kế hoạch đầu tư công từ nguồn NSNN
Kế hoạch đầu tư công từ nguồn NSNN là việc lập và thức hiện giao vốn
để thực hiện từng dự án đầu tư được cấp thẩm quyền phê duyệt theo từng thời kỳ
như: kế hoạch ngắn hạn thường là một năm, kế hoạch trung hạn thường là từ ba
đến năm năm, kế hoạch dài hạn thường là trên năm năm. Kế hoạch đầu tư công
từ nguồn NSNN thể hiện đầy đủ nội dung làm công cụ quản lý hoạt động đầu tư,
quản lý giải ngân. Kế hoạch đầu tư công từ nguồn NSNN phản ánh khả năng huy
động, bố trí sử dụng vốn ngân sách theo tiến độ thời gian từng dự án.
Việc lập kế hoạch đầu tư công từ nguồn NSNN phải tập trung gắn kết
chặt chẽ với mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm tiếp
theo, cho từng giai đoạn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tránh lãng phí, thất
16
thoát nguồn vốn đầu tư của nhà nước, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế
lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Phân bổ vốn cho các dự án trong kế hoạch đầu tư công từ nguồn NSNN
phải đảm bảo theo nguyên tắc: Dự án đủ các điều kiện được ghi kế hoạch trung
hạn và hàng năm; khớp đúng với chỉ tiêu được giao về tổng mức đầu tư, cơ cấu
vốn trong và ngoài nước, mức vốn các dự án quan trọng của nhà nước; bố trí vốn
tập trung cho các dự án theo chỉ đạo của trung ương về điều hành kế hoạch phát
Việc khảo sát và hồ sơ thiết kế được quản lý chặt chẽ ngay từ đầu thì đây
là một trong những khâu quan trọng góp phần chống lãng phí, thất thoát.
b. Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình được đầu tư công từ
nguồn NSNN
Tổ chức quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình theo quy định
của pháp luật; theo đó, cần phải chú ý tới công tác giám sát thi công xây dựng và
nghiệm thu công trình.
Chủ đầu tư xây dựng công trình phải tổ chức giám sát thi công xây dựng
theo những nội dung chủ yếu sau: Kiểm tra các điều kiện khởi công của công
trình xây dựng; kiểm tra sự phù hợp về điều kiện năng lực của nhà thầu thi công
xây dựng so với hồ sơ dự thầu và hợp đồng xây dựng mà nhà thầu đã cam kết, ký
kết với chủ đầu tư; kiểm tra và giám sát chất lượng vật tư, vật liệu và thiết bị lắp
đặt vào công trình do nhà thầu thi công xây dựng cung cấp theo yêu cầu của thiết
kế; kiểm tra và giám sát trong quá trình thi công xây dựng công trình theo các
điều kiện nhà thầu thi công xây dựng cam kết trong hợp đồng xây dựng. Báo cáo
chất lượng thi công xây dựng công trình cho cơ quan quản lý nhà nước về chất
lượng công trình xây dựng theo phân cấp.
Nhà thầu thi công phải tổ chức bộ phận chuyên trách đảm bảo duy trì hoạt
động giám sát thi công xây dựng công trình (giám sát B); nhà thầu thiết kế thực
hiện giám sát quyền tác giả trong suốt thời gian thi công xây dựng.
Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu công trình (nghiệm thu AB) theo đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng theo tài liệu chỉ
dẫn kỹ thuật kèm theo hợp đồng giao nhận thầu xây dựng, với các thành phần
18
theo đúng quy định.
c. Quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình được đầu tư công từ
nguồn NSNN
Tiến độ thi công xây dựng công trình phải lập trước khi triển khai thi
được duyệt và ngoài hợp đồng thì chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng phải
xem xét xử lý. Đối với công trình sử dụng vốn NSNN thì chủ đầu tư phải báo
cáo người quyết định đầu tư xem xét, quyết định.
Khối lượng phát sinh được người quyết định đầu tư, chủ đầu tư chấp
thuận, phê duyệt là cơ sở để thanh quyết toán công trình.
Nghiêm cấm việc khai khống, khai tăng khối lượng hoặc thông đồng giữa
nhà thầu và các bên tham gia dự án làm sai khối lượng thanh toán.
e. Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình được đầu tư công từ nguồn
NSNN
Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo mục tiêu, hiệu
quả dự án đầu tư xây dựng công trình và phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường;
phải theo từng công trình và phù hợp với các giai đoạn đầu tư xây dựng công
trình, các bước thiết kế, loại nguồn vốn và các quy định khác có liên quan của
nhà nước.
Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình bao gồm: tổng mức đầu tư, dự
toán xây dựng công trình; định mức và giá xây dựng; điều kiện năng lực; quyền
và trách nhiệm của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, nhà thầu trong quản lý
chi phí đầu tư xây dựng; thanh quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình sử
dụng vốn nhà nước.
f. Quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng công trình được
đầu tư công từ nguồn NSNN
Nhà thầu thi công xây dựng phải lập các biện pháp bảo đảm an toàn cho
người và công trình trên công trường xây dựng. Các biện pháp an toàn liên quan
đến nhiều bên thì phải được các bên thỏa thuận và nhất trí. Các biện pháp an
toàn, nội quy về an toàn phải được công khai trên công trường xây dựng để mọi
người biết và chấp hành. Ở những vị trí nguy hiểm trên công trường phải bố trí
20