VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN CẢNH NGHĨA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN CẢNH NGHĨA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 8 34 04 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
2.4. Đánh giá về công tác quản lí nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện
Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam .............................................................................. 55
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN
LÍ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ
SƠN ................................................................................................................. 65
3.1. Phân tích các căn cứ đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lí
nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam ....... 65
3.2. Quan điểm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa
bàn huyện Quế Sơn. ........................................................................................ 68
3.3. Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lí nhà nước về giảm nghèo
trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam ............................................... 69
3.4. Một số kiến nghị....................................................................................... 75
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮC
BHYT
Bảo hiểm y tế
CBCC
Cán bộ, công chức
ĐVT
Đơn vị tính
HĐND
TS
Tiến sĩ
UBMTTQVN
Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam
XĐGN
Xóa đói giảm nghèo
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Số hiệu
bảng
1
Bảng 1.1
Chuẩn nghèo Việt Nam qua các giai đoạn
11
2
5
Bảng 2.4
Số hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn
2013-2017
40
6
Bảng 2.5
Số hộ nghèo phân chia theo nhóm đối
tượng
41
7
Bảng 2.6
Đào tạo nghề và số lao động tham gia đào
tạo nghề
46
8
Bảng 2.7
50
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo đói hiện đang là vấn đề xã hội bức xúc, là sự thách thức, cản trở lớn đối
với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, khu vực và toàn bộ nền văn minh nhân
loại. Chính vì vậy, trong những năm gần đây nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế
đã quan tâm tìm các giải pháp nhằm hạn chế nghèo đói và giảm dần khoảng cách
phân hoá giàu, nghèo trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có cả Việt Nam.
Ở nước ta, giảm nghèo là một trong những chủ trương lớn của Đảng và nhà
nước nhằm cải thiện đời sống vật chất cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách và
trình độ phát triển giữa các vùng, các địa bàn và các dân tộc. Trong những năm qua,
Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, tập trung đầu tư nguồn lực
cho công tác giảm nghèo, qua đó đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của
con người.
Quế Sơn là huyện trung du của tỉnh Quảng Nam, có tổng diện tích tự
nhiên 25.746 ha, nằm cách Thành phố Tam Kỳ 30 km về phía Bắc, cách
Thành phố Đà Nẵng 40 km về phía Tây Nam. Phía bắc giáp với huyện Duy
Xuyên, phía Nam giáp với huyện Hiệp Đức, phía Đông giáp với huyện Thăng
Bình, phía Tây giáp với huyện Nông Sơn. Địa hình huyện Quế Sơn có trên
60% diện tích là vùng đồi núi, vùng đồng bằng nhỏ hẹp và xen kẽ giữa các
khu vực đồi gò, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn; đời sống nhân dân chủ
yếu dựa vào rừng để làm nương rẫy. Cây trồng nông nghiệp chủ lực là lúa
nước và lúa rẫy, chăn nuôi gia súc: Trâu, Bò, Dê là chủ yếu.
Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền đã quan tâm lãnh
đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác giảm nghèo, tập trung đầu tư
nguồn lực để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các chính sách khuyến khích
tế của huyện, giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn toàn huyện theo theo Nghị
quyết đại hội huyện đảng bộ đề ra đến năm 2020 trên địa bàn toàn. Vì vậy, em
chọn đề tài "Quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Quế
Sơn, tỉnh Quảng Nam" để nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.
2
2. Tình hình nghiên cứu
Trong bất kỳ một thời kỳ, giai đoạn nào của quá trình phát triển đất nước,
giảm nghèo luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu và được nhiều cơ quan trong
nước, các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở các khía cạnh
khác nhau. Nhưng đáng chú ý là một số công trình của các tác giả sau
- Bài giảng “Quản lý Nhà nước về kinh tế” (2016) của TS. Lê Bảo, Khoa Kinh
tế, Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng đã cho người đọc kiến thức về vai trò của
Nhà nước trong quản lý các vấn đề kinh tế, xã hội. Đặc biệt trong chương 5, 6, 7, 8:
QLNN về hạ tầng kinh tế - xã hội; QLNN về giáo dục, y tế; QLNN đối với các dịch
vụ tư vấn và công ích, tác giả đã đề cập đến việc quản lý các dịch vụ xã hội cơ bản
liên quan đến công tác quản lý giảm nghèo theo phương pháp tiếp cận nghèo đa
chiều mới cũng như việc quản lý các dịch vụ tư vấn và công ích cho người dân.
- Luận văn thạc sĩ “Chính sách giảm nghèo từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình” của
Trần Công Đoàn (2014): Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực
tiễn (quốc tế, Việt Nam) về nghèo đói và chính sách giảm nghèo trong phát triển
bền vững; đánh giá chính sách và thực hiện chính sách giảm nghèo tại tỉnh Hòa
Bình và từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm
nghèo tại tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới.
- Đề tài “Quản lý Nhà nước về giảm nghèo tại Thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng
Nam” Đỗ Thị Thu Thiết, Luận văn Thạc sĩ (2018), Trường Đại học Kinh tế Đà
Nẵng. Công trình nghiên cứu của tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận về phát
triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo, công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo nói
hướng và giải pháp thay đổi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi.
Đồng thời, còn có nhiều công trình khoa học, bài báo khác nghiên cứu về
công tác Quản lý Nhà nước về giảm nghèo ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên
vẫn chưa có một đề tài khoa học hay công trình nào nghiên cứu sâu sắc và toàn diện
về Quản lý nhà nước đối với công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh
Quảng Nam cho đến thời điểm hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về giảm nghèo, quản
4
lý nhà nước về giảm nghèo làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng
Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về giảm
nghèo.
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Quế
Sơn, tỉnh Quảng Nam. Từ đó, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên
nhân của những hạn chế đó.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giảm
nghèo trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo trên
địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu
từ các số liệu, tài liệu đã thu thập được thông qua số liệu để đánh giá tình hình,
chuyển biến trong công tác quản lý giảm nghèo theo từng giai đoạn và đề xuất các
giải pháp hoàn thiện công tác quản lý phù hợp với tình hình thực tế tại huyện Quế
Sơn, tỉnh Quảng Nam.
+ Phương pháp so sánh: được sử dụng nhằm đánh giá thực trạng giảm nghèo
trên địa bàn huyện và thực trạng quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo trên địa
bàn huyện Quế Sơn. Sử dụng các số liệu thu thập được, luận văn so sánh công tác
giảm nghèo qua các năm và quản lý nhà nước về giảm nghèo theo thời gian và
không gian.
Ngoài ra luận văn còn thu thập, tìm kiếm thông tin trên mạng Internet, một số
sách báo, công trình nghiên cứu khác nhau.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Về lý luận
Luận văn tổng hợp và làm rõ thêm các quan điểm lý luận về giảm nghèo hiện
nay, trên cơ sở đó làm rõ vai trò của quản lý nhà nước về giảm nghèo ở nước ta.
6
6.2. Về thực tiễn
Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo
trên địa bàn huyện Quế Sơn, qua đó chỉ ra được những hạn chế và nguyên nhân
làm cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh
vực này trên địa bàn của huyện.
7. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lí nhà nước về giảm nghèo
Chương 2: Thực trạng quản lí nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Quế
Sơn, tỉnh Quảng Nam.
dục và y tế”. Báo cáo đã mở rộng quan niệm về nghèo đói khi tính đến cả nguy cơ
dễ bị tổn thương, dễ gặp rủi ro của người nghèo. Báo cáo nêu bật “nghèo có nghĩa
là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không
8
được đến trường”. Báo cáo chỉ ra “người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước
những biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể
chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói trong
các thể chế đó”.
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu
quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không
được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có
nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có
nghĩa sự không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình
và cộng đồng. Nghèo có nghĩa dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong
các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”
(Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông
qua)
Mặc dù các khái niệm được đưa ra có một số điểm khác biệt nhưng có thể thấy
các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả đều thống nhất rằng nghèo là một hiện
tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được
thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Như vậy, nghèo đa chiều có thể được
hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản
trong cuộc sống.
* Quan niệm của Việt Nam
Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần
các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống
trung bình của cộng đồng của từng vùng, từng khu vực xét trên mọi phương diện.
1.1.1.2. Tiêu chí đánh giá nghèo.
Khái niệm nghèo đa chiều đề cập ở Việt Nam từ năm 2013 nhằm hướng tới
việc dựng lên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta.
Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết số 76/2014/QH13 về việc
đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ:
“Xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm
mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản”. Ngày 19/12/2014 Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2324/QĐ-TTg về kế hoạch hành động
triển khai Nghị quyết số 76/ 2014/QH13 của Quốc Hội; Ngày 15/9/2015 Thủ tướng
10
Chính phủ đã ký kết quyết định số 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể “
Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp
dụng cho giai đoạn 2016-2020”. Ngày 19/11/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban
hành Quyết định số: 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa
chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020. Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây
dựng trên cơ sở:
- Các tiêu chí về thu nhập
- Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp
cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin.
Bảng 1.1. Chuẩn nghèo của Việt Nam thời kỳ 2006-2020
Đơn vị: đồng/ người/ tháng
Giai đoạn
2006 – 2010
2011 – 2015
2016 – 2020
bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân
đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo
11
lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình
quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu
người /tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo
lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
* Hộ cận nghèo:
Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình
quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số
đo lường mức thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình
quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ
số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
* Hộ có mức sống trung bình:
Khu vực nông thôn: Có thu nhập bình quân đầu người /tháng trên 1.000.000
đồng đến 1.500.000 đồng
Khu vực thành thị: Có thu nhập bình quân đầu người /tháng trên 1.300.000
đồng đến 1.950.000 đồng
Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao độngThương binh và xã hội về hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng
năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 thì tiêu
chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình hằng năm được rà
soát, chấm điểm, phân loại, xác định theo Phiếu B (theo Phụ lục số 3b ban hành
kèm theo Thông tư này) cụ thể như sau:
* Danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo qua rà soát, bao gồm:
- Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ có tổng điểm B1 từ 140 điểm trở xuống
trong đó có xem xét giá trị sử dụng tài sản của hộ gia đình liên quan đến tạo thu
nhập (không đánh giá giá trị, nguồn gốc của tài sản).
Việc quy định các chỉ tiêu, mức cho điểm để đánh giá tài sản, ước lượng mức
thu nhập của hộ gia đình do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội xây dựng dựa
trên kết quả thống kê, khảo sát mức sống hộ gia đình của các vùng trên toàn quốc
do Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thực hiện; các chỉ tiêu, mức điểm
cho từng chỉ tiêu được Tổng cục Thống kê nghiên cứu, xây dựng chặt chẽ, khoa
13
học, logic, dựa trên những yếu tố chung nhất của từng vùng, phù hợp với những đặc
điểm cơ bản của các hộ gia đình sinh sống trên địa bàn, dễ thực hiện và xác minh
đúng thực trạng của hộ gia đình, khắc phục được những khó khăn khi thực hiện theo
phương pháp cũ trong giai đoạn 2011-2015.
1.1.2. Quan niệm chung về giảm nghèo
Giảm nghèo là một phạm trù lịch sử mang tính tương đối, bởi vì nghèo vẫn
luôn tồn tại trong xã hội, do sự khác biệt về năng lực, thể chất, thu nhập, địa vị xã
hội...giữa các cá nhân với nhau. Nói cách khác, có thể xóa được đói (nghèo tuyệt
đối) nhưng không thể xóa được nghèo tương đối mà chỉ có thể giảm nghèo. Giảm
nghèo là quá trình làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước
thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo
giảm.
Ở Việt Nam, giảm nghèo được quán triệt trong các chủ trương, đường lối của
Đảng trên cơ sở những luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tương Hồ Chí
Minh. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (năm 2016), đã tiếp tục
nhấn mạnh: “Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và
tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ
bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản”. Trong đó, “phương pháp đo lường
nghèo đa chiều” là một khái niệm hoàn toàn mới.
Hoạt động quản lý Nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả
các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần
chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được Nhà nước trao quyền, ủy quyền
thực hiện chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Cho đến nay chưa có khái niệm cụ thể hoặc định nghĩa chính xác quản lý nhà
nước về giảm nghèo, có thể sơ bộ đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo
như sau:
Quản lý nhà nước về giảm nghèo là hoạt động có ý thức do Nhà nước thực
hiện thông qua các công cụ (cơ chế, chính sách, pháp luật, hệ thống tổ chức, nguồn
lực…) và các biện pháp hành chính khác (thanh tra, kiểm tra, giám sát…) tác động
vào người nghèo với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng, an sinh xã
hội trong từng giai đoạn nhất định.
* Đặc điểm của Quản lý Nhà nước về giảm nghèo:
15
- Là hoạt động vừa mang tính chấp hành, vừa mang tính điều hành. Tính chấp
hành được thể hiện ở sự thực hiện trên thực tế các văn bản luật, pháp lệnh, chính
sách, nghị quyết do các cơ quan có thẩm quyền ban hành. Tính điều hành thể hiện ở
chỗ để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan có thẩm quyền được thực
hiện trên thực tế thì các chủ thể quản lý Hành chính Nhà nước phải tiến hành các
hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền.
- Hoạt động Quản lý Nhà nước về giảm nghèo cần có tính chủ động và sáng
tạo. Điều này thể hiện ở việc các chủ thể quản lý căn cứ vào tình hình, đặc điểm của
từng đối tượng nghèo, từng địa phương để đề ra các biện pháp quản lý thích hợp.
Tính chủ động sáng tạo còn thể hiện rõ nét trong hoạt động xây dựng, ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động quản lý của Nhà nước. Tính
chủ động sáng tạo được nội hàm bởi chính bản thân sự phức tạp, đa dạng, phong
phú của đối tượng nghèo và đòi hỏi các chủ thể quản lý phải áp dụng biện pháp giải
chất lượng cao hơn.
Sự quản lý của Nhà nước tạo môi trường kinh tế - xã hội và khuôn khổ hành
lang pháp lý ổn định, an toàn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện
giúp đỡ người nghèo tiếp cận các dịch vụ cơ bản: việc làm, giáo dục, y tế, chính
sách hỗ trợ... Bằng quyền lực của mình, công tác quản lý của Nhà nước góp phần
hạn chế những tác động tiêu cực nảy sinh do tình trạng đói nghèo gây ra với mỗi
cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng nghèo; đồng thời góp phần giữ vững ổn định
chính trị, xã hội. Khi mức sống được nâng cao, người nghèo từng bước được tiếp
cận với những dịch vụ thiết yếu và tham gia các hoạt động đoàn thể, xã hội; các vấn
đề về nhận thức giáo dục, chăm sóc sức khỏe… cũng được quan tâm hơn. Đời sống
vật chất và tinh thần được cải thiện, giúp củng cố thêm lòng tin của nhân dân với
Đảng, Nhà nước, chính quyền và chế độ xã hội. Điều đó góp phần làm ổn định
chính trị cho đất nước đồng nghèo.
Ngoài ra, Nhà nước còn giúp người nghèo gỡ bỏ rào cản ngăn cách kinh tế để
giảm nghèo, là cầu nối vận động thuyết phục mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội
chung tay giúp đỡ người nghèo, thực hiện công tác tuyên truyền cho người nghèo
để họ ý thức được rằng sự hỗ trợ của nhà nước, của xã hội chỉ là chất kích thích, là
động lực và là tạo đà cho chính bản thân họ đứng lên hăng hái lao động sản xuất để
chiến thắng được nghèo. Thực tế kinh nghiệm thế giới cho thấy, sự thiếu vắng vai
17
trò của Nhà nước đặc biệt có hại đối với người nghèo, cộng đồng nghèo, vì người
nghèo không tự bảo vệ được các quyền của mình, hơn nữa cũng cần nhấn mạnh
trong thành quả chung của tăng trưởng kinh tế thì Nhà nước có vai trò nòng cốt và
có trách nhiệm thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng, các tổ chức chính trị,
kinh tế, xã hội. Nhà nước tạo điều kiện để người nghèo tham gia đầy đủ vào quá
trình phát triển, có cơ hội bình đẳng như mọi người dân.
1.1.5. Tiêu chí đánh giá quản lí nhà nước về giảm nghèo