VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN CẢNH NGHĨA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 8 34 04 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
HÀ NỘI, năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả có tham khảo, kế thừa và
sử dụng những thông tin, số liệu từ một số tài liệu như cuốn sách chuyên
ngành, luận văn, tạp chí, bài tham luận… theo danh mục tài liệu tham khảo.
Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình và chịu
hoàn toàn trách nhiệm về cam đoan của mình.
Tác giả luận văn
Nguyễn Cảnh Nghĩa
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮC
BHYT
Bảo hiểm y tế
CBCC
Cán bộ, công chức
ĐVT
Đơn vị tính
HĐND
Hội đồng nhân dân
LĐ-TB&XH
Lao động-Thương binh và xã hội
NHCSXH
Ngân hàng chính sách xã hội
NTM
Nông thôn mới
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Số hiệu
bảng
1
Bảng 1.1
Chuẩn nghèo Việt Nam qua các giai đoạn
11
2
Bảng 2.1
Tình hình sử dụng đất huyện Quế Sơn năm
2017
36
Tình hình tăng trưởng kinh tế huyện Quế
Sơn giai đoạn 2013-2017
37
Diện tích, dân số và mật độ dân số năm
2017 phân theo xã, thị trấn thuộc huyện
tượng
41
7
Bảng 2.6
Đào tạo nghề và số lao động tham gia đào
tạo nghề
46
8
Bảng 2.7
Đánh giá về việc triển khai chính sách
giảm nghèo tại huyện Quế Sơn
48
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, HÌNH VẼ
STT
Số hiệu
Tên sơ đồ, hình vẽ
cho công tác giảm nghèo, qua đó đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của
con người.
Quế Sơn là huyện trung du của tỉnh Quảng Nam, có tổng diện tích tự
nhiên 25.746 ha, nằm cách Thành phố Tam Kỳ 30 km về phía Bắc, cách
Thành phố Đà Nẵng 40 km về phía Tây Nam. Phía bắc giáp với huyện Duy
Xuyên, phía Nam giáp với huyện Hiệp Đức, phía Đông giáp với huyện Thăng
Bình, phía Tây giáp với huyện Nông Sơn. Địa hình huyện Quế Sơn có trên
60% diện tích là vùng đồi núi, vùng đồng bằng nhỏ hẹp và xen kẽ giữa các
khu vực đồi gò, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn; đời sống nhân dân chủ
yếu dựa vào rừng để làm nương rẫy. Cây trồng nông nghiệp chủ lực là lúa
nước và lúa rẫy, chăn nuôi gia súc: Trâu, Bò, Dê là chủ yếu.
Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền đã quan tâm lãnh
đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác giảm nghèo, tập trung đầu tư
nguồn lực để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các chính sách khuyến khích
thoát nghèo bền vững, cùng với sự chung tay, hỗ trợ chia sẻ của cộng đồng
đã giúp nhân dân huyện nhà có điều kiện tiếp cận và thụ hưởng chính sách hỗ
1
trợ sản xuất, các dịch vụ y tế, giáo dục, dạy nghề....góp phần tác động tích
cực đến công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện đạt nhiều kết quả với tỷ lệ
hộ nghèo giảm hàng năm giảm từ 2,0-2.5%.
Tuy nhiên, việc thực hiện quản lí nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện
vẫn còn một số hạn chế, khó khăn nhất định. Cụ thể như: công tác lãnh đạo, chỉ đạo
và tổ chức thực hiện ở một số cấp ủy Đảng, chính quyền chưa kịp thời, đồng bộ,
chưa có giải pháp giảm nghèo cụ thể; công tác thông tin, tuyên truyền chưa đa dạng,
phong phú; nguồn lực đầu tư cho công tác giảm nghèo hạn chế, chưa đáp ứng yêu
tế, Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng đã cho người đọc kiến thức về vai trò của
Nhà nước trong quản lý các vấn đề kinh tế, xã hội. Đặc biệt trong chương 5, 6, 7, 8:
QLNN về hạ tầng kinh tế - xã hội; QLNN về giáo dục, y tế; QLNN đối với các dịch
vụ tư vấn và công ích, tác giả đã đề cập đến việc quản lý các dịch vụ xã hội cơ bản
liên quan đến công tác quản lý giảm nghèo theo phương pháp tiếp cận nghèo đa
chiều mới cũng như việc quản lý các dịch vụ tư vấn và công ích cho người dân.
- Luận văn thạc sĩ “Chính sách giảm nghèo từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình” của
Trần Công Đoàn (2014): Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực
tiễn (quốc tế, Việt Nam) về nghèo đói và chính sách giảm nghèo trong phát triển
bền vững; đánh giá chính sách và thực hiện chính sách giảm nghèo tại tỉnh Hòa
Bình và từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm
nghèo tại tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới.
- Đề tài “Quản lý Nhà nước về giảm nghèo tại Thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng
Nam” Đỗ Thị Thu Thiết, Luận văn Thạc sĩ (2018), Trường Đại học Kinh tế Đà
Nẵng. Công trình nghiên cứu của tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận về phát
triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo, công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo nói
chung và ở thành phố Tam Kỳ nói riêng, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý
nhà nước về giảm nghèo ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Qua đó phân tích
các điểm chỉ đạo, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng nước quản lý nhà
nước về giảm nghèo ở thành phố Tam Kỳ. Tuy vậy, thực trạng nghèo đói cũng như
tình hình phát triển kinh tế-xã hội ở mỗi địa phương cũng khác nhau nên cần nghiên
cứu cụ thể điều kiện ở mỗi địa phương từ đó có giải pháp khả thi nhất cho quản lý
nhà nước về giảm nghèo tại mỗi địa phương.
3
- Tạp chí Kinh tế & Phát triển “Chính sách giảm nghèo ở nước ta hiện nay:
Thực trạng và định hướng hoàn thiện”, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn (2013).Trong
bài viết, tác giả đã nêu quan niệm về nghèo và chính sách giảm nghèo; các chính
lý nhà nước về giảm nghèo làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng
Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về giảm
nghèo.
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Quế
Sơn, tỉnh Quảng Nam. Từ đó, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên
nhân của những hạn chế đó.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giảm
nghèo trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo trên
địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu về các nội dung liên quan đến công tác
quản lý nhà nước về giảm nghèo.
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu quản lý nhà nước về công tác giảm
nghèo trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà nước về
giảm nghèo trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 20132017 và đề xuất các giải pháp trong luận văn có ý nghĩa trong những năm tới.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Số liệu, tài liệu trong luận văn được thu thập chủ yếu từ Nghị quyết, Quyết
định, báo cáo tổng kết hằng năm, qua các giai đoạn của UBND huyện Quế Sơn,
phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Quế Sơn, thông tin do cán bộ địa
phương cung cấp; các kết quả nghiên cứu, các kinh nghiệm giảm nghèo của các địa
5
nay, trên cơ sở đó làm rõ vai trò của quản lý nhà nước về giảm nghèo ở nước ta.
6
6.2. Về thực tiễn
Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo
trên địa bàn huyện Quế Sơn, qua đó chỉ ra được những hạn chế và nguyên nhân
làm cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh
vực này trên địa bàn của huyện.
7. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lí nhà nước về giảm nghèo
Chương 2: Thực trạng quản lí nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Quế
Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lí nhà nước về giảm nghèo trên
địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO
1.1. Khái quát về giảm nghèo và quản lí nhà nước về giảm nghèo
1.1.1. Khái niệm nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo đa chiều ở Việt
Nam hiện nay.
1.1.1.1. Khái niệm về nghèo
* Quan niệm của thế giới
Tại Hội nghị chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế - Xã hội Khu vực Châu ÁThái Bình Dương tổ chức tại BangKok tháng 9/1993, các nước trong khu vực thống
nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có
nghĩa sự không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình
và cộng đồng. Nghèo có nghĩa dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong
các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”
(Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông
qua)
Mặc dù các khái niệm được đưa ra có một số điểm khác biệt nhưng có thể thấy
các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả đều thống nhất rằng nghèo là một hiện
tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được
thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Như vậy, nghèo đa chiều có thể được
hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản
trong cuộc sống.
* Quan niệm của Việt Nam
Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần
các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống
trung bình của cộng đồng của từng vùng, từng khu vực xét trên mọi phương diện.
Trong hoàn cảnh nghèo thì người nghèo và hộ nghèo cũng chỉ vật lộn với những
mưu sinh hàng ngày và kinh tế vật chất, biểu hiện trực tiếp nhất ở bữa ăn. Họ không
thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa, tinh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt
giảm bớt tới mức tổi thiểu gần nhất, gần nhu không có.
Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng
quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể
9
của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã
hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.
Nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối,
nghèo có nhu cầu tối thiểu.
Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp
dụng cho giai đoạn 2016-2020”. Ngày 19/11/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban
hành Quyết định số: 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa
chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020. Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây
dựng trên cơ sở:
- Các tiêu chí về thu nhập
- Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp
cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin.
Bảng 1.1. Chuẩn nghèo của Việt Nam thời kỳ 2006-2020
Đơn vị: đồng/ người/ tháng
Giai đoạn
2006 – 2010
2011 – 2015
2016 – 2020
Nông thôn
200.000
400.000
700.000
Thành thị
260.000
500.000
đo lường mức thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình
quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ
số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
* Hộ có mức sống trung bình:
Khu vực nông thôn: Có thu nhập bình quân đầu người /tháng trên 1.000.000
đồng đến 1.500.000 đồng
Khu vực thành thị: Có thu nhập bình quân đầu người /tháng trên 1.300.000
đồng đến 1.950.000 đồng
Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao độngThương binh và xã hội về hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng
năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 thì tiêu
chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình hằng năm được rà
soát, chấm điểm, phân loại, xác định theo Phiếu B (theo Phụ lục số 3b ban hành
kèm theo Thông tư này) cụ thể như sau:
* Danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo qua rà soát, bao gồm:
- Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ có tổng điểm B1 từ 140 điểm trở xuống
hoặc hộ có tổng điểm B1 trên 140 điểm đến 175 điểm và có tổng điểm B2 từ 30
điểm trở lên;
- Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ có tổng điểm B1 từ 120 điểm trở xuống
hoặc hộ có tổng điểm B1 trên 120 điểm đến 150 điểm và có tổng điểm B2 từ 30
12
điểm trở lên;
- Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có tổng điểm B1 trên 140 điểm đến
175 điểm và có tổng điểm B2 dưới 30 điểm;
- Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có tổng điểm B1 trên 120 điểm đến
150 điểm và có tổng điểm B2 dưới 30 điểm;
* Danh sách hộ thoát nghèo, hộ thoát cận nghèo qua rà soát, bao gồm:
phương pháp cũ trong giai đoạn 2011-2015.
1.1.2. Quan niệm chung về giảm nghèo
Giảm nghèo là một phạm trù lịch sử mang tính tương đối, bởi vì nghèo vẫn
luôn tồn tại trong xã hội, do sự khác biệt về năng lực, thể chất, thu nhập, địa vị xã
hội...giữa các cá nhân với nhau. Nói cách khác, có thể xóa được đói (nghèo tuyệt
đối) nhưng không thể xóa được nghèo tương đối mà chỉ có thể giảm nghèo. Giảm
nghèo là quá trình làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước
thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo
giảm.
Ở Việt Nam, giảm nghèo được quán triệt trong các chủ trương, đường lối của
Đảng trên cơ sở những luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tương Hồ Chí
Minh. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (năm 2016), đã tiếp tục
nhấn mạnh: “Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và
tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ
bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản”. Trong đó, “phương pháp đo lường
nghèo đa chiều” là một khái niệm hoàn toàn mới.
Tóm lại, có thể hiểu giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của
Nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo, nhằm tạo
điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng
được những nhu cầu tối thiểu và thỏa mãn được các nhu cầu cơ bản khác của con
người: y tế, giáo dục và điều kiện sống trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo
từng địa phương, từng khu vực và quốc gia.
1.1.3. Khái niệm quản lí nhà nước về giảm nghèo.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng nhìn chung có thể hiểu: Quản
lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián
tiếp hoặc trực tiếp nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến đổi
14
15
- Là hoạt động vừa mang tính chấp hành, vừa mang tính điều hành. Tính chấp
hành được thể hiện ở sự thực hiện trên thực tế các văn bản luật, pháp lệnh, chính
sách, nghị quyết do các cơ quan có thẩm quyền ban hành. Tính điều hành thể hiện ở
chỗ để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan có thẩm quyền được thực
hiện trên thực tế thì các chủ thể quản lý Hành chính Nhà nước phải tiến hành các
hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền.
- Hoạt động Quản lý Nhà nước về giảm nghèo cần có tính chủ động và sáng
tạo. Điều này thể hiện ở việc các chủ thể quản lý căn cứ vào tình hình, đặc điểm của
từng đối tượng nghèo, từng địa phương để đề ra các biện pháp quản lý thích hợp.
Tính chủ động sáng tạo còn thể hiện rõ nét trong hoạt động xây dựng, ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động quản lý của Nhà nước. Tính
chủ động sáng tạo được nội hàm bởi chính bản thân sự phức tạp, đa dạng, phong
phú của đối tượng nghèo và đòi hỏi các chủ thể quản lý phải áp dụng biện pháp giải
quyết mọi tình huống phát sinh một cách có hiệu quả nhất.
- Tính không vụ lợi: Quản lý nhà nước về giảm nghèo cần phải coi việc phục
vụ lợi ích công làm động cơ và mục đích của hoạt động. Quản lý Nhà nước không
phải vì lợi ích thù lao, càng không theo đuổi mục đích kinh doanh lợi nhuận. Cán bộ
QLNN phải bảo đảm “cần, kiệm, liêm, chính, chí,công ,vô, tư”
- Nội dung cốt lõi nhất trong quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo là
hoạch định các chính sách và quản lý các nguồn lực
Mặc dù được đưa vào hoạch định chính sách và quản lý các nguồn lực nhưng
theo nghĩa rộng, khi nói đến quản lý nhà nước luôn luôn được tính đến khía cạnh
quản lý hành chính nhà nước. Việc tính đến hoạt động quản lý hành chính nhà nước
có nghĩa là tính đến sự điều hành và phân phối các nguồn lực trong giảm nghèo.
Hơn nữa, Quản lý hành chính nhà nước nói ở đây được đặt trong khuôn khổ của
một mục tiêu phát triển công bằng, bền vững theo hướng xây dựng một xã hội dân
giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng và văn minh
giảm nghèo, là cầu nối vận động thuyết phục mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội
chung tay giúp đỡ người nghèo, thực hiện công tác tuyên truyền cho người nghèo
để họ ý thức được rằng sự hỗ trợ của nhà nước, của xã hội chỉ là chất kích thích, là
động lực và là tạo đà cho chính bản thân họ đứng lên hăng hái lao động sản xuất để
chiến thắng được nghèo. Thực tế kinh nghiệm thế giới cho thấy, sự thiếu vắng vai
17
trò của Nhà nước đặc biệt có hại đối với người nghèo, cộng đồng nghèo, vì người
nghèo không tự bảo vệ được các quyền của mình, hơn nữa cũng cần nhấn mạnh
trong thành quả chung của tăng trưởng kinh tế thì Nhà nước có vai trò nòng cốt và
có trách nhiệm thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng, các tổ chức chính trị,
kinh tế, xã hội. Nhà nước tạo điều kiện để người nghèo tham gia đầy đủ vào quá
trình phát triển, có cơ hội bình đẳng như mọi người dân.
1.1.5. Tiêu chí đánh giá quản lí nhà nước về giảm nghèo
- Xây dựng, ban hành các văn bản quản lí nhà nước về giảm nghèo có đúng
thẩm quyền, phù hợp với các văn bản của Trung ương, tỉnh; có phù hợp với tình
hình thực tế của địa phương chưa.
- Triển khai thực hiện chính sách, chương trình giảm nghèo có kịp thời, sâu
rộng đến người dân chưa; số lần tập huấn trong thực hiện giảm nghèo, số lần truyên
tuyền về công tác giảm nghèo tại địa phương.
- Kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo như chính sách tín dụng ưu đãi,
đào tạo nghề và giải quyết việc làm, chính sách bảo hiểm y tế, chính sách hỗ trợ nhà
ở……., so sánh kết quả thực hiện của năm liền kề
- Số lần kiểm tra, giám sát việc thực hiện trong công tác giảm nghèo
- Số lượng hộ nghèo giảm trong năm, so sánh với kế hoạch đề ra
1.2. Nội dung quản lí nhà nước về giảm nghèo
1.2.1. Xây dựng các chương trình, kế hoạch, chính sách giảm nghèo.
Căn cứ vào các văn bản hanh hành của Trung ương, Tỉnh thì công tác giảm
1.2.2. Triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo
1.2.2.1. Nội dung triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo
Triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo là việc nhà nước tìm cách thức
để các chính sách này tiếp cận đến người nghèo một cách hiệu quả nhất và phù hợp
với tình hình cụ thể mỗi địa phương. Để triển khai thực hiện các chính sách này cơ
quan nhà nước cấp huyện phải tạo nên một hệ thống hành chính với cơ chế, tổ chức
bộ máy gọn nhẹ, đội ngũ cán bộ, công chức về cơ bản có phẩm chất, năng lực và
trình độ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước để
đạt mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững. Cơ quan nhà nước cấp huyện cần kết
hợp tạo cơ hội và tăng cường trao quyền và sự tham gia của người nghèo.
Trên cơ sở chính sách giảm nghèo được phê duyệt thì cơ quan nhà nước cấp
19