1
Học viện Tài chính
1
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quả nêu
trong khóa luận tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị
thực tập.
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Thu Huyền
1
SV: Nguyễn Thị Thu Huyền
Lớp: CQ50/15.08
2
Học viện Tài chính
2
Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
2
SV: Nguyễn Thị Thu Huyền
HĐKD
: Hoạt động kinh doanh
NH
: Ngân hàng
NHNN
: Ngân hàng nhà nước
NHNN&PTNT
: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHTM
: Ngân hàng thương mại
NN&PTNT
: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
RRTD
: Rủi ro tín dụng
TCTD
Học viện Tài chính
5
Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu mang lại nguồn thu cho ngân hàng thương mại,
rủi ro tín dụng cao sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Ruỉ ro tín dụng luôn tồn tại trong hoạt động tín dụng, không thể loại bỏ hoàn toàn
rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa hoặc giảm thiểu khi
rủi ro xảy ra.
Đứng trước những thời cơ và thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế, vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro tín dụng tại NHTM trở
nên cấp thiết.Bên cạnh đó, tình hình kinh tế thế giới đang diễn biến phức tạp, tình
trạng khủng hoảng tài chính chưa được cải thiện nhiều.Việt Nam là một nước có
nền kinh tế mở nên không tránh khỏi những ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới. Do
đó, đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng, hạn
chế mức thấp nhất có thể những nguy cơ gây nên rủi ro và Ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Kim Động Hưng Yên không là ngoại lệ.
Với bối cảnh như vậy, rủi ro tín dụng là mối quan tâm hàng đầu của các ngân
hàng đồng thời quản trị rủi ro tín dụng giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản trị
rủi ro của ngân hàng. Chính vì vậy em chọn đề tài: “Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Kim Động Hưng
Yên” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2.Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương
pháp so sánh, các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử.
5.Kết cấu khóa luận gồm 3 chương
Chương 1: Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng rủi ro trong hoạt động tín dụng tại chi nhánh
NHNN&PTNN huyện Kim Động-Hưng Yên.
Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động
kinh doanh của chi nhánh NHNN&PTNT huyện Kim Động-Hưng Yên.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong
khoa Ngân Hàng–Bảo Hiểm cùng với những đóng góp có giá trị của ban lãnh
đạo,các cô, các chú, các anh chị trong phòng kinh doanh đã giúp em hoàn thành
khóa luận này.
Do thời gian có hạn và những hiểu biết còn hạn chế nên không thể tránh khỏi
những sai xót, em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo,
ban lãnh đạo và của các cô chú, anh chị cán bộ trong chi nhánh để khóa luận của em
được hoàn thiện hơn!
6
SV: Nguyễn Thị Thu Huyền
Lớp: CQ50/15.08
Học viện Tài chính
7
Khóa luận tốt nghiệp
Lớp: CQ50/15.08
Học viện Tài chính
8
Khóa luận tốt nghiệp
thuộc vào đặc điểm kinh tế của từng đối tượng sử dụng vốn vay nhằm sử dụng và
quản lý tín dụng có hiệu quả, phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế
khác nhau của đối tượng tín dụng.
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn tín dụng, cần thiết phải phân loại các
hình thức cấp tín dụng.
Phân loại theo thời hạn cấp tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn tối đa 12 tháng với mục
đích để bù đắp thiều hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn của các cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.
Tín dụng trung hạn được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua tài sản cố định, cải tiến
hoặc đổi mới thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh…
- Tín dụng dài hạn:Là khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn
được dùng để cấp vốn cho đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc
cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất, đầu tư chiều sâu để nâng cao năng suất
lao động và tạo vị thế cho các ngành công nghiệp then chốt và khả năng hợp tác
chuyên ngành và đa ngành, đồng thời góp phần đổi mới nền kinh tế quốc dân.
Phân loại theo mục đích cấp tín dụng
- Tín dụng kinh doanh: Loại tín dụng này đáp ứng nhu cầu kinh doanh của các
Phân loại theo phương pháp hoàn trả
- Tín dụng trả góp: là hình thức tín dụng mà khi thực hiện TCTD và khách
hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay khách hàng phải trả cộng với số nợ gốc
chia ra để trả trong nhiều kỳ hạn trong thời gian vay.
- Tín dụng phi trả góp: là hình thức tín dụng mà khi thực hiện được thanh toán
một lần theo kỳ hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Lãi vay có thể được hoàn
trả theo thỏa thuận trong hợp đồng chẳng hạn theo tháng, theo quý, theo năm.
- Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: là hình thức cấp tín dụng mà khách hàng có
thể trả nhiều lần trong thời hạn thanh toán thỏa thuận trong hợp đồng.
Phân loại theo bảo đảm tín dụng
- Tín dụng đảm bảo bằng tài sản: Là tín dụng được cấp trên cơ sở khách hàng
vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Mục đích của
loại tín dụng này để đảm bảo giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân
hàng.Trong trường hợp khách hàng đến thời điểm trả nợ cuối cùng mà khách hàng
không trả được nợ thì ngân hàng sẽ tiến hành phát mãi tài sản đảm bảo.
- Tín dụng không bảo đảm bẳng tài sản: Là hình thức tín dụng không bằng tài
sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, việc cho vay chỉ dựa trên uy tín
của bản thân khách hàng.Loại tín dụng này được áp dụng đối với những khách hàng
9
SV: Nguyễn Thị Thu Huyền
Lớp: CQ50/15.08
Học viện Tài chính
10
SV: Nguyễn Thị Thu Huyền
Lớp: CQ50/15.08
Học viện Tài chính
11
Khóa luận tốt nghiệp
Tín dụng đã tham gia trực tiếp vào quá trình luân chuyển hàng hoá và luân
chuyển tiền tệ tạo điều kiện phát triển nền kinh tế, đặc biệt những ngành kinh tế
trọng điểm trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế. Hoạt động tín dụng luôn chịu sự
chi phối trực tiếp của chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ, vì vậy đã góp
phần vào việc đẩy nhanh quá trình lưu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế thị trường,
hạn chế thấp nhất sự ứ đọng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh
vòng quay của vốn.
- Thứ tư, tín dụng góp phần thúc đẩy sử dụng vốn hiệu quả
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là cho vay có hoàn trả và có lợi tức. Ngân hàng
huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội để cho các đơn vị kinh tế trong xã hội có nhu
cầu vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi sử dụng vốn vay của ngân
hàng, các doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện trong hợp đồng tín dụng, trả
nợ vay đúng hạn, cả gốc và lãi..
Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn vay của ngân hàng phải quan
tâm tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tăng
vòng quay vốn, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp để đảm bảo trả nợ vay đúng hạn
bao gồm cả gốc và lãi cho ngân hàng.
- Thứ năm, tín dụng tạo điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước yêu cầu các doanh
kiềm chế lạm phát.
Ngân hàng tạo ra các nguồn vốn chủ yếu từ việc huy động các nguồn tiền nhàn
rỗi trong nền kinh tế thông qua chính sách lãi suất linh hoạt hấp dẫn, sau đó đầu tư
vào nền kinh tế, vào các công trình trọng điểm trong chính sách phát triển đất nước
mà Chính phủ đã đề ra. Bên cạnh đó vẫn đảm bảo đựơc không ảnh hưởng tiêu cực
đến tình hình giá cả và lưu thông tiền tệ quốc gia. Ngược lại, Nhà nước sử dụng
biện pháp khác, ví dụ như phát hành tiền giấy để tạo nguồn vốn đầu tư vào nền kinh
tế, sẽ gây ra sự mất cân đối trong lưu thông, trong quan hệ hàng hoá - tiền tệ, làm
tăng lạm phát…
1.2. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng
Có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro, đối với ngân hàng thương mại, rủi ro là
một biến cố không mong đợi gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Rủi ro tín dụng là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các
điều khoản của Hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ,
trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra
những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
12
SV: Nguyễn Thị Thu Huyền
Lớp: CQ50/15.08
Học viện Tài chính
13
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.2. Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng
+
Khâu tiếp nhận đơn đề nghị xin vay vốn của khách hàng. Công việc đầu tiên của
cán bộ tín dụng là đánh giá sơ bộ,tìm kiếm những triển vọng xem xét các điều kiện
có thể chấp nhận được. Do cán bộ tín dụng cố gắng tìm ra những điều kiện có thể
chấp nhận được lên đã khuyếch đại lên dẫn đến rủi ro tín dụng.
13
SV: Nguyễn Thị Thu Huyền
Lớp: CQ50/15.08
Học viện Tài chính
+
14
Khóa luận tốt nghiệp
Khâu thẩm định và đánh giá khoản vay không chính xác. Ngân hàng sẵn sàng cấp
tín dụng hay không cấp tín dụng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: năng lực tài
chính, tính khả thi của dự án vay vốn, thực trạng và triển vọng sản xuất kinh doanh,
tài sản thế chấp. Thực tế, đây là khâu rất quan trọng quyết định nhất đến chất lượng
tín dụng. Nó không những đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có năng lực thực sự thì mới
hạn chế được rủi ro tín dụng mà còn đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có đạo đức,trách
nhiệm trong kinh doanh, đây là khâu có mối quan hệ nhạy cảm giữa khách hàng với
cán bộ tín dụng.
+
Học viện Tài chính
15
Khóa luận tốt nghiệp
Đồng thời, ngân hàng cần đưa ra những biện pháp xử lý rủi ro hiệu quả để hạn chế
những tổn thất có thể xảy ra.
- Yếu tố công nghệ của ngân hàng: Trình độ công nghệ là yếu tố quan trọng tổ
chức kinh doanh ngân hàng, đặc biệt là đối với quản lý rủi ro tín dụng. Trình độ
công nghệ càng cao càng trợ giúp ngân hàng sàng lọc những khách hàng, ngành
nghề đang có mức độ rủi ro cao. Công nghệ ngân hàng thể hiện ở mức độ tập trung
thông tin, khả năng phân tích, xử lý thông tin, khả năng chi phối, kiểm soát đối với
các bộ phận tác nghiệp. Do vậy, nếu trình độ công nghệ ngân hàng còn yếu kém, lạc
hậu..sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến nguy cơ rủi ro tín dụng.
Nguyên nhân từ phía khách hàng
-
Trình độ quản lý yếu kém: Khi doanh nghiệp làm đơn xin cấp tín dụng để mở rộng
quy mô kinh doanh, đa phần tập trung vốn vào đầu tư tài sản vật chất chứ ít doanh
nghiệp nào đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài
chính kế toán theo đúng chuẩn mực. Kết quả là quy mô kinh doanh phùng quá to so
với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của phương án kinh doanh.
Ngoài ra,trình độ quản lý yếu kém còn thể hiện ở chỗ không tính toán kỹ lưỡng
hoặc không có khả năng tính toán nên bất chắc có thể xảy ra, không có khả năng
thích ứng và khắc phục những khó khăn trong kinh doanh sẽ dẫn tới vốn vay không
được sử dụng hiệu quả.
-
đến nguồn thu của doanh nghiệp và trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng trả nợ.
-
Tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản,
nguồn vốn nhỏ, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao. Sổ sách kế toán ghi chép không đầy
đủ, thiếu trung thực nên việc cung cấp thông tin tài chính cho NH mang tính chất
hình thức hơn là thực chất.Hiện nay các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp
cung cấp vẫn chưa phải là nguồn thông tin xác thực, bởi chúng được “phù phép”
sao cho đẹp để dễ dàng tiếp cận vốn vay.Mặc dù có những báo cáo tốt, có lợi nhuận
nhưng bên trong lại tiềm ẩn, chứa đựng nhiều vấn đề, rủi ro. Do đó, ngân hàng
không có căn cứ chính xác, tin cậy dựa vào thông tin doanh nghiệp cung cấp mà
phải dùng TSĐB để làm chỗ dựa phòng chống RRTD.
-
Chủ doanh nghiệp chủ định lừa đảo ngân hàng: trường hợp này xảy ra khi người
vay kinh doanh vẫn có lãi xong không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn hoặc không
muốn trả nợ cho ngân hàng.Họ chây ỳ với hy vọng có thể quỵt nợ hoặc sử dụng vốn
vay càng lâu càng tốt.
-
Các nguyên nhân khác từ phía người vay: khách hàng thiếu năng lực pháp lý, quản
lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản; khách hàng cá nhân gặp những
nguyên nhân bất thường trong cuộc sống (tình trạng sức khỏe, bệnh tật, mâu thuẫn
trong gia đình); người vay bị thất nghiệp tạm thời, hoặc lâu dài ảnh hưởng đến thu
nhập nguồn trả nợ chính cho ngân hàng; hoặc đạo đức cá nhân không tốt, cố tình
lừa ngân hàng.
Các nguyên nhân khách quan
khi tạo môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến các doanh nghiệp cũng như các khách
hàng cá nhân thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy
luật chọn lọc khốc liệt của thị trường.Bản thân sự cạnh tranh của các NHTM trong
nước và quốc tế trong môi trường hội nhập cũng khiến cho các ngân hàng trong
nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết
các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị ngân hàng thu hút.
Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh tín dụng còn phụ thuộc rất nhiều vào thói
quen, truyền thống, tập quán của người dân.Những yếu tố đó nhiều khi gây khó
khăn và hạn chế việc mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Do môi trường pháp lý không thuận lợi: Hệ thống pháp luật ban hành không
đồng bộ và không phù hợp với yêu cầu hoạt động kinh doanh nhiều khi gây cản trở
cho hoạt động kinh doanh.Kinh doanh tiền tệ là ngành kinh doanh có ảnh hưởng rất
nhiều đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, do đó hoạt động ngân hàng cũng
17
SV: Nguyễn Thị Thu Huyền
Lớp: CQ50/15.08
Học viện Tài chính
18
Khóa luận tốt nghiệp
chịu sự điều tiết về pháp lý của nhà nước trong đó hoạt động tín dụng ngân hàng là
đối tượng chịu sự tác động trực tiếp. Khi hành lang pháp lý chưa an toàn,môi trường
kinh doanh kém lành mạnh và những chính sách thường thay đổi, thiếu đồng bộ sẽ
gây ách tắc, hệ lụy nặng nề cho hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín
dụng nói riêng.
Học viện Tài chính
19
Khóa luận tốt nghiệp
Việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi, và các khoản phí) làm cho nguồn vốn của các
NHTM bị thất thoát, trong khi đó các ngân hàng này vẫn phải chi trả tiền lãi cho
nguồn vốn hoạt động làm cho thu nhập của ngân hàng bị giảm sút. Nếu lợi nhuận
không đủ, ngân hàng còn phải sử dụng vốn tự có của mình để bù đắp thiệt hại, điều
này đồng nghĩa với quá trình mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng gặp
nhiều khó khăn. Ngoài ra, nếu một ngân hàng gặp rủi ro lớn thì làm cho dân chúng
mất lòng tin vào ngân hàng và như vậy ngân hàng rất khó khăn trong việc huy động
vốn và khi không có nguồn vốn huy động đủ lớn thì ngân hàng khó có thể cấp tín
dụng cho khách hàng được. Quá trình này kéo dài sẽ làm cho ngân hàng sụp đổ.
Hoạt động của một ngân hàng trong một quốc gia có liên quan đến hệ thống ngân
hàng, các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế. Do vậy, nếu một ngân
hàng có kết quả hoạt động xấu, thâm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản
thì sẽ có tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu các ngân hàng và bộ phận kinh tế khác.
Nếu không có sự can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ
lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM làm cho
các NH vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
Đối với khách hàng
Khi một ngân hàng bị rủi ro tín dụng ở mức cao sẽ làm cho vốn của ngân hàng
này bị ứ đọng trong nhóm khách hàng đó, làm cho khả năng tái kinh doanh của
ngân hàng bị chậm lại ảnh hưởng đến vòng quay vốn của các khách hàng vay vốn
khác, do khả năng thanh toán của ngân hàng bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, đối tượng
Lớp: CQ50/15.08
Học viện Tài chính
21
Khóa luận tốt nghiệp
Đối với nền kinh tế
Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành và
các cá nhân, vì vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì
người gửi tiền ở các ngân hàng hoang mang, lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở
các ngân hàng, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Ngân hàng gặp
phải rủi ro hay phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân viên gặp khó khăn.Hơn
nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế.Nó
làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội
mất ổn định. Ở mức độ thấp, rủi ro tín dụng khiến cơ hội tiếp cận vốn, mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của khách hàng bị hạn chế, ảnh hưởng xấu
đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Ở mức độ cao hơn, khi một ngân hàng
lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản, thì hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra
trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây nên khủng hoảng toàn bộ nền kinh tế, ảnh
hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội cũng như sự phát triển của đất nước.Ngoài ra,
rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay nền kinh tế mỗi
quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
1.2.4. Chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
dụng dài hạn. Hay nếu kết cấu dư nợ quá tập trung vào một số doanh nghiệp hoặc
thành phần kinh tế chuyên sản xuất kinh doanh trong một hoặc một số lĩnh vực nhất
định sẽ có nguy cơ rủi ro lớn do tập trung vốn cao. Các khoản tín dụng có tài sản
đảm bảo sẽ ít rủi ro hơn so với không có tài sản bảo đảm.
Nợ quá hạn và tỉ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và lãi đã quá hạn. Ngân hàng
nào có tỷ lệ nợ quá hạn cao thì rủi ro lớn hơn vì những khoản nợ quá hạn không thu
hồi được sẽ ảnh hưởng đến quá trình khai thác và sử dụng vốn của ngân hàng, phá
vỡ kế hoạch kinh doanh và đặc biệt ảnh hưởng đến khả năng thanh toán. Nợ quá
hạn làm tăng chi phí của ngân hàng.Với một khoản tín dụng đang gặp rủi ro, ngân
hàng phải tốn các chi phí giám sát, xử lý tài sản đảm bảo, chi phí pháp lý. Trong khi
đó, các khoản nợ này không mang lại cho ngân hàng nguồn thu để trả lãi cho vốn
vay, vốn huy động từ khách hàng.
Nợ quá hạn còn làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn của các tổ
chức tín dụng, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận, giảm hiệu quả kinh
doanh. Đồng thời hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng, giảm uy tín,
khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Tổng nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Tỉ lệ nợ quá hạn càng cao thì rủi ro càng cao
Tỷ lệ nợ quá hạn =
22
SV: Nguyễn Thị Thu Huyền
Lớp: CQ50/15.08
-
Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhưng bị quá hạn từ 90 đến 180 ngày.
-
Các khoản nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất cao.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng bị mất vốn)
-
Nợ quá hạn trên 360 ngày.
-
Các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lí.
-
Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhưng bị quá hạn trên 180 ngày.
-
Các khoản nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi.
Tỷ lệ nợ xấu cũng là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín
dụng. Nếu tỉ lệ này càng cao thì rủi ro tín dụng càng cao vì đây là những khách hàng có
dấu hiệu khó khăn về tài chính nên gặp khó khăn trong việc trả nợ cho ngân hàng:
Tổng nợ xấu
Tổng dư nợ
Nguyên nhân của các khoản nợ xấu là các khách hàng chỉ muốn vay, không nỗ
hành(đưa ra hạch toán ngoại bảng) và được bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro tín
dụng.Như vậy, nếu một ngân hàng có tỷ lệ xóa nợ cao chứng tỏ chất lương tín dụng
không tốt.
Khả năng bù đắp rủi ro
Khả năng bù đắp rủi ro được tính theo công thức:
Khả năng bù đắp rủi ro
Dự phòng rủi ro
Nợ xấu
=
Hệ số khả năng bù đắp rủi ro tín dụng càng cao, càng đảm bảo rằng nếu có
rủi ro tín dụng xảy ra đối với các khoản nợ quá hạn khó đòi thì vẫn không ảnh
hưởng nhiều đến hoạt động của ngân hàng.
Tỷ lệ mất vốn
Tỷ lệ mất vốn được tính theo công thức:
Dư nợ mất
Tỷ lệ mất vốn
Dư nợ mất vốn
Tổng dư nợ
=
vốn
của ngân hàng. Hơn nữa, rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng
bị rủi ro mà còn kéo theo sự ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng, đến quan hệ kinh
tế đối ngoại, đến các thành phần kinh tế, đến khách hàng của ngân hàng bị rủi ro và
đến toàn bộ nền kinh tế.Bởi vậy, công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là
rất cần thiết và quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
1.3.2. Biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
- Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm năng của khách hàng
sử dụng vốn vay cũng như khả năng hoàn trả vốn vay ngân hàng.Phân tích tín dụng
bắt đầu từ việc thu thập thông tin có ý nghĩa đối với việc đánh giá tín dụng, phân
tích trên cơ sở thông tin thu thập được và lưu lại thông tin để sử dụng trong tương
lai.Mục đích chính của việc phân tích tín dụng là xác định khả năng trả nợ và ý
muốn của khách hàng trong việc hoàn trả tiền vay, tìm kiếm những tình huống cụ
thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng khi cho vay và tiên lượng khả năng kiểm soát của
ngân hàng về các rủi ro đó cũng như dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế
những thiệt hại có thể xảy ra.
25
SV: Nguyễn Thị Thu Huyền
Lớp: CQ50/15.08