VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN NGỌC DƯƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN QUẬN HẢI CHÂU,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2018
1
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN NGỌC DƯƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN QUẬN HẢI CHÂU,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm vừa qua, vấn đề an sinh xã hội luôn được các học giả quan
tâm, nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học, báo chí, nhiều luận văn và các
công trình nghiên cứu dưới dạng tài liệu sau:
Trong các giáo trình: “Giáo trình nhập môn ASXH” của Nguyễn Hữu
4
Hải chủ biên (2007) [25]; “Xây dựng hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội
thường xuyên ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Toản (2011) [36]; “Phát
triển hệ thống ASXH đến năm 2020” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Lan
Hương, Đặng Kim Chung, Lưu Quang Tuấn, Nguyễn Thị Bích Ngọc, Đặng
Thị Hà Thu (2013) [27] đã nêu những lý luận về ASXH; những chủ chương,
đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước về chính sách ASXH nói chung
và chính sách BTXH nói riêng, phương pháp tiếp cận, hệ thống thực thi, điểm
mạnh, điểm hạn chế của chính sách BTXH hiện hành và đề xuất, kiến nghị
hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam.
Các đề tài nghiên cứu nêu trên tuy đã chỉ ra những cơ sở lý luận mới về
chính sách ASXH, trợ giúp thường xuyên tại cộng đồng, định hướng các
phương pháp giải quyết các vấn đề ASXH, BTXH trong xu thế toàn cầu hóa
nhưng chưa đi sâu nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách BTXH; kết quả
đánh giá việc thực hiện chính sách trợ giúp thường xuyên chỉ dừng tại thời
điểm năm 2010 trở về trước. Riêng đối với quận Hải Châu, thành phố Đà
Nẵng, đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đánh giá về kết
quả thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn, nhất là trong giai đoạn
20 năm xây dựng và phát triển quận. Chính vì vậy, tôi lựa chọn hướng nghiên
cứu về những vấn đề lý luận về chính sách BTXH ở Việt Nam; kết quả thực
hiện chính sách bảo trợ xã hội trong 3 năm từ 2015 đến 2017; đưa ra giải pháp
hoàn thiện về thực hiện chính sách BTXH trong thời gian đến trên địa bàn
- Phạm vi về khách thể: Người được trợ cấp xã hội hàng tháng theo
Nghị định 136/2013/NĐ-CP bao gồm: trẻ em dưới 16 không có nguồn nuôi
dưỡng; Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo, người bị nhiễm HIV thuộc hộ
nghèo không còn khả năng lao động; Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật
thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết
tật; Người đơn thân nghèo đang nuôi con, người cao tuổi cô đơn không nơi
nương tựa; Người từ đủ 80 tuổi trở lên mà không có lương hưu, trợ cấp bảo
hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng …
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2015 đến nay.
- Phạm vi không gian: Tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của nhà nước về vấn đề an sinh xã hội và chính sách
BTXH nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin liên quan từ các các văn bản Luật, văn bản dưới
Luật (Nghị định, Thông tư…), tài liệu chuyên ngành về BTXH; các công
trình nghiên cứu, các báo cáo thống kê, báo cáo tổng hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận các chính sách về BTXH, làm rõ
vị trí, vai trò, đặc điểm chức năng các chế độ chính sách BTXH hiện hành đối
với các đối tượng yếu thế trong xã hội tại quận Hải Châu.
Qua đánh giá làm sáng tỏ cơ sở lý luận liên quan đến chính sách xã hội,
từ đó có cơ sở để đề xuất các giải pháp thực hiện chính sách BTXH đạt hiệu
sống kinh tế xã hội là công cụ tập hợp các quyết định chính trị có liên quan
nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể gắn với giải quyết các công cụ thực hiện
giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng cầm
quyền. [22]
1.1.1.2. An sinh xã hội
Nguyễn Hải Hữu (2007) định nghĩa “ASXH là một hệ thống các cơ chế
chính sách các giải pháp của nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành
viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế, xã hội làm cho
cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn,
bệnh nghề nghiệp, già cả không còn khả năng lao động hoặc vì các nguyên
nhân khác rơi vào nghèo khổ, bần cùng và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức
khỏe cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế và trợ giúp đặc biệt”. [42]
1.1.1.3. Chính sách xã hội
Là một hệ thống quan điểm, chủ trương, biện pháp dựa trên những tư
tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo, được cụ thể hóa và thể chế hóa bằng
pháp luật của nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội phù hợp với bản chất
chế độ xã hội (chính trị), phản ánh lợi ích, trách nhiệm của cộng đồng nói
chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích thỏa mãn những nhu
cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp
phần ổn định an toàn xã hội, phát triển và tiến bộ xã hội. [15]
9
1.1.1.4. Trợ giúp xã hội
Là sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc hiện vật của nhà nước (lấy từ nguồn
thu thuế, không phải đóng góp của người nhận) nhằm đảm bảo mức sống tối
thiểu cho đối tượng được nhận. Hầu hết các khoản trợ cấp được dựa trên cơ sở
đánh giá gia cảnh hoặc thu nhập nhất định. Theo quan điểm hiện đại trợ giúp xã
hội bao gồm 3 loại hình: hỗ trợ thu nhập, trợ cấp gia đình, dịch vụ xã hội. [42]
phẩm và các điều kiện vật chất khác cho các nhóm đối tượng.
1.1.2. Phân loại đối tượng bảo trợ xã hội
Tùy theo cách tiếp cận và nghiên cứu mà có các cách phân loại đối
tượng bảo trợ xã hội như sau:
+ Theo đối tượng, bao gồm: (i) Trẻ em mồ côi: cả cha lẫn mẹ, trẻ em
mồ côi cha, mồ côi mẹ, trẻ em bị bỏ rơi...;(ii) Trẻ em khuyết tật, người khuyết
tật: Người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng. Người khuyết tật
nặng là người cao tuổi, người khuyết tật nặng là trẻ em, Người khuyết tật đặc
biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi một con dưới 36
tháng tuổi…;(iii) Người cao tuổi: Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có
người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và
quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng
tháng, người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền
phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận
vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng
đồng…;(iv) Người nhiễm HIV nghèo không có khả năng lao động; (v) Đối
tượng khó khăn khác….
+ Theo loại hình thực hiện, bao gồm: (i) Trợ giúp xã hội đột xuất; (ii)
Trợ cấp xã hội hàng tháng; (iii) Trợ giúp giáo dục, đào tạo và dạy nghề…
1.1.3. Đặc trưng của chính sách bảo trợ xã hội
Người được trợ cấp thông thường không phải trực tiếp đóng góp toàn
bộ chi phí trợ giúp xã hội do nhà nước chi trả và đóng góp từ các tổ chức xã
11
hội khác...thực tế khi đã là đối tượng bảo trợ xã hội thì người dân không còn
khả năng tạm thời hoặc vĩnh viễn tự đảm bảo cho cuộc sống bản thân và gia
đình. Vì vậy, người được trợ cấp xã hội không bị ràng buộc bởi những điều
kiện đóng góp, nguồn quỹ trợ cấp thường do các tổ chức, cá nhân hoặc nhà
1.1.5.2. Đảm bảo tính hiệu quả
Để đảm bảo tính hiệu quả, việc thực hiện chính sách BTXH cần phải
đạt được mục tiêu mà chính sách đề ra với một mức chi phí hợp lý nhất, tiến
độ thực hiện chính sách đảm bảo theo kế hoạch hoặc dao động trong khoảng
thời gian cho phép.
1.1.5.3. Đảm bảo tính công bằng
Chính sách BTXH tổ chức thực hiện đã được phân loại theo từng nhóm
với từng tiêu chí. Tuy nhiên trong từng nhóm đối tượng lại có từng loại đối
tượng cụ thể khác nhau. Vì vậy, khi xác định từng loại đối tượng cụ thể cần
phải xác định đúng, tính đủ đảm bảo công bằng trong thực thi chính sách.
1.1.5.4. Đảm bảo tính công khai, minh bạch
Đảm bảo tính công khai, minh bạch là công khai hóa, minh bạch hóa
các quá trình trong thực hiện chính sách đến chủ thể thụ hưởng chính sách
cũng như chủ thể ban hành chính sách
1.1.6. Vấn đề chính sách bảo trợ xã hội
1.1.6.1. Công cụ chính sách bảo trợ xã hội
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: TGXH được thể hiện thông
qua Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ, các văn bản hướng dẫn của các Bộ, các cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (Thông tư) và các quy định của cấp địa phương.
Tùy từng chính sách để thể chế văn bản cho phù hợp. Có những chế độ trợ
giúp chỉ thực hiện trong ngắn hạn thì chưa nên thể chế trong văn bản Luật,
hoặc ngược lại có chế độ cần được bảo đảm bằng hệ thống Luật thì mới bền
vững và ổn định lâu dài. Thông thường, chính sách và cơ chế tài chính được
13
quy định do thể chế chính sách, nhưng trong TGXH có những giai đoạn việc
thể chế chính sách phụ thuộc vào nguồn lực tài chính vì điều kiện ngân sách
nguồn. [36, tr.36]
- Giáo dục, tâm lý: Công tác giáo dục được thực hiện thông qua các
hình thức giáo dục truyền thống như: giảng dạy tại trường lớp, trung tâm đào
tạo; hệ thống thông tin chuyên ngành; hệ thống tư vấn chính sách; tuyên
truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo đài, phát thanh…;
các phong trào, các hoạt động xã hội như: từ thiện nhân đạo, hoạt động chăm
sóc, phụng dưỡng các đới tượng chính sách…
1.1.6.2. Chủ thể chính sách bảo trợ xã hội
Chính sách BTXH ở nước ta xuất phát từ những đường lối, chủ trương
của Đảng. Quốc hội, Chính phủ ban hành các chính sách, tổ chức điều hành,
thực hiện và giám sát việc thực hành chính sách BTXH. Bộ Lao động –
Thương binh và xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và các đơn vị có liên
quan tổ chức hoạch định và tham mưu ban hành các chính sách BTXH thuộc
phân quyền, phân nhiệm. UBND các cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng như:
LĐ-TB&XH, Tài chính, Y tế, Giáo dục đào tạo tổ chức thực hiện chính sách;
mời Ủy ban Mặt trận tổ quốc và các hội đoàn thể cùng cấp tham gia giám sát
quá trình tổ chức thực hiện chính sách.
Việc giám sát và bình xét, đánh giá kết quả thực hiện chính sách BTXH
cần có sự tham gia của các đối tượng BTXH và cộng đồng dân cư để đảm bảo
tính khách quan, minh bạch và chính xác.
1.1.6.3. Thể chế chính sách bảo trợ xã hội
Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy
định: tại Điều 3: “…,mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có
điều kiện phát triển toàn diện” và tại Điểm 2, Điều 59: “Nhà nước tạo bình
đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an
sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người
15
giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường
giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
(ix) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại
đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;
(x) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại
đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành
quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục
bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
(xi) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở
bảo trợ xã hội, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án
phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành
chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt
buộc.
2. Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy
định tại Khoản 1 nêu trên mà đang học phổ thông, học nghề, trung học
chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất.
3. Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ
nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo
hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp
hàng tháng khác.
4. Người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng
hoặc vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và
đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng
người con đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao
đẳng, đại học văn bằng thứ nhất (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo
đang nuôi con).
5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
17
duyệt và niêm yết công khai kết quả xét duyệt tại trụ sở UBND cấp xã trong
thời gian 07 ngày, trừ những thông tin liên quan đến HIV của đối tượng
Trường hợp có khiếu nại, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được khiếu nại, hội đồng xét duyệt kết luận và công khai về vấn đề
khiếu nại, trình chủ tịch UBND cấp xã;
(iii) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được biên bản
kết luận của hội đồng xét duyệt, chủ tịch UBND cấp xã có văn bản (kèm theo
hồ sơ của đối tượng) gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội;
(iv) Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của
đối tượng và văn bản đề nghị của chủ tịch UBND cấp xã, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thẩm định, trình chủ tịch UBND quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là UBND cấp huyện)
quyết định trợ cấp xã hội cho đối tượng. Trường hợp đối tượng không đủ điều
kiện hưởng, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phải trả lời bằng văn
bản và nêu rõ lý do;
(v) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản
trình của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, chủ tịch UBND cấp
huyện xem xét, quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng.
Thời gian hưởng trợ cấp xã hội đối với người cao tuổi quy định tại
Điểm b, Khoản 5, Điều 5, Nghị định 136 kể từ thời điểm người đó đủ 80 tuổi.
Thời gian hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng của đối tượng khác, kể từ tháng
chủ tịch UBND cấp huyện ký quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng.
1.2.1.4. Thủ tục điều chỉnh, thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng
(i) Đối tượng, người giám hộ của đối tượng hoặc tổ chức, cá nhân liên
quan có kiến nghị về việc đối tượng không còn đủ điều kiện hưởng hoặc thay
đổi điều kiện hưởng gửi chủ tịch UBND cấp xã;
(ii) Trình tự thẩm định, quyết định không còn đủ điều kiện hưởng trợ
19
20
hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng; người cao tuổi thuộc hộ nghèo
không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống
ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội
nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.
(v) Con của người đơn thân nghèo đang nuôi con. Người thuộc hộ
nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồng
hoặc vợ đã chết theo quy định của pháp luật
(vi) Người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng
(vii) Người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất bảo hiểm xã
hội hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác mà chưa được cấp BHYT miễn phí
1.2.2.2. Thủ tục cấp thẻ BHYT
Trên cơ sở quyết định hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng của UBND cấp
huyện, UBND cấp xã lập văn bản đề nghị cấp thẻ BHYT đối với đối tượng
gửi về cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện.
Sau khi tiếp nhận văn bản đề nghị cấp thẻ BHYT, BHXH quận chủ trì
phối hợp với cơ quan quản lý đối tượng (phòng LĐ-TB&XH cùng cấp) để xác
định đối tượng trước khi cấp thẻ BHYT.
Thời gian quy định từ khi tiếp nhận đến khi cấp thẻ BHYT tại cơ quan
BHXH là 05 ngày làm việc.
1.2.3. Chính sách về hỗ trợ mai táng
1.2.3.1. Đối tượng BTXH khi chết được hỗ trợ chi phí mai táng bằng
20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội (theo Điều 11, Nghị định 136/2013/NĐCP).
1.2.3.2. Hồ sơ đề nghị hỗ trợ chi phí mai táng bao gồm:
(i) Văn bản hoặc đơn đề nghị của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình hoặc cá
nhân đứng ra tổ chức mai táng cho đối tượng;
(ii) Bản sao giấy chứng tử;
22
chuẩn trợ giúp xã hội (5.400.000 đồng/hộ).
(ii) Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà
ở bị đổ, sập, trôi, cháy hoàn toàn do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả
kháng khác mà không còn nơi ở thì được xem xét hỗ trợ chi phí làm nhà ở với
mức tối đa không quá 20.000.000 đồng/hộ.
(iii) Hộ phải di dời nhà ở khẩn cấp theo quyết định của cơ quan có thẩm
quyền do nguy cơ sạt lở, lũ, lụt, thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng
khác được xem xét hỗ trợ chi phí di dời nhà ở với mức tối đa không quá
20.000.000 đồng/hộ.
(iv) Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà
ở bị hư hỏng nặng do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà
không ở được thì được xem xét hỗ trợ chi phí sửa chữa nhà ở với mức tối đa
không quá 15.000.000 đồng/hộ.
2. Đối với cá nhân
(i) Hỗ trợ 15 kg gạo/người đối với tất cả thành viên hộ gia đình thiếu
đói trong dịp Tết Âm lịch.
(ii) Hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian không quá 03 tháng
cho mỗi đợt trợ giúp đối với tất cả thành viên hộ gia đình thiếu đói trong và
sau thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc lý do bất khả kháng khác.
(iii) Người bị thương nặng do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai
nạn lao động đặc biệt nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác tại nơi
cư trú hoặc ngoài nơi cư trú được xem xét hỗ trợ với mức bằng 10 lần mức
chuẩn trợ giúp xã hội (2.700.000 đồng/người)
(iv) Cơ quan, tổ chức, cá nhân tổ chức mai táng cho người chết do thiên
tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai nạn lao động đặc biệt nghiêm trọng hoặc
các lý do bất khả kháng khác không phải tại địa bàn cấp xã nơi cư trú của
quyền, các cơ quan quản lý nhà nước trên lĩnh vực BTXH, sự hướng ứng, ủng
hộ và tham gia thực hiện tích cực của các đối tượng tham gia thực hiện chính
24
sách và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách.
1.3.4. Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách bảo trợ xã hội
Việc kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách BTXH là những hoạt động
của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích
làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện các
biện pháp theo định hướng chính sách.
1.3.5. Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm
Đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách là một bộ phần trong chu
trình thực hiện chính sách, là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo điều hành
và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách. Việc đánh giá
dựa trên các tiêu chí như tiến độ thực hiện kế hoạch được giao, thời gian triển
khai của từng giai đoạn và của toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện chính sách,
có đạt được mục tiêu chính sách đã đề ra. Cơ sở để đánh giá tổng kết công tác
chỉ đạo điều hành thực thi chính sách công trong các cơ quan nhà nước là kế
hoạch được giao, đồng thời còn kết hợp sử dụng các văn bản liên tịch giữa cơ
quan nhà nước với các tổ chức xã hội và các văn bản quy phạm khác.
1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách BTXH
1.4.1. Kinh tế, xã hội
Phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội là một trong
những yêu cầu bức thiết, đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển, góp
phần giữ vững ổn định xã hội, làm nền tảng thúc đẩy quá trình phát triển kinh
tế. Ngược lại, nếu không thực hiện song song hai nội dung trên sẽ dẫn đến sự
phát triển thiếu đồng bộ, là nhân tố kiềm hãm phát triển trên cả hai lĩnh vực
kinh tế và xã hội.