Thực hiện chính sách đối với người có công từ thực tiễn huyện phú ninh, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH THỊ NGỌC HÂN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI
CÓ CÔNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÚ NINH,
TỈNH QUẢNG NAM

Ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN NGỌC TOÀN

HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Toàn bộ các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.
Tác giả luận văn

Huỳnh Thị Ngọc Hân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI



DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BB

Bệnh binh

BHYT

Bảo hiểm y tế

CP

Chính phủ

HCĐL

Huân chương độc lập

HĐND

Hội đồng nhân dân

HH

Hóa học

LS

Liệt sỹ


Tổ quốc ghi công

UBND

Ủy ban nhân dân

UBMTTQVN

Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam

UĐGDHS – SV

Ưu đãi giáo dục học sinh – sinh viên

VNAH

Việt Nam anh hùng


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

2.1.

39

Ninh (Từ năm 2013 - 2017)
2.7.
2.8.
2.9.
2.10.

Thực trạng Liệt sỹ đang quản lý, mộ Liệt sỹ gia đình quản
lý và mộ chưa tìm được trên địa bàn huyện
Thực trạng công trình nghĩa trang, mộ, kinh phí đầu trư
xây dựng từ năm 2013 - 2016.
Thực trạng Quỹ đền ơn đáp nghĩa từ năm 2013 – 2017
Thực trạng cán bộ làm công tác chính sách Người có công
xã, thị trấn của huyện Phú Ninh.

41
42
46
49

Tổng hợp nhu cầu và dự kiến kinh phí hỗ trợ nhà ở người
3.1

có công với cách mạng giai đoạn 2018 – 2021 của huyện
Phú Ninh (Ngoài QĐ 3363 xuống cấp nặng, hư hỏng, có

61

nguy cơ ngã đổ)

cuộc chiến tranh vệ quốc.
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu, với truyền thống và đạo lý của
dân tộc, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn thường xuyên dành sự ưu đãi cả
vật chất và tinh thần cho đối tượng người có công, tạo điều kiện để cuộc sống
của họ ngày càng tốt đẹp hơn.
Quảng Nam là một tỉnh giàu truyền thống cách mạng. Sự hy sinh của các
thế hệ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay là rất lớn, số
lượng người có công cũng không nhỏ. Từ thực tiễn triển khai các chính sách cho
người có công, tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết định số 1150/1998/QĐ - UB
1


ngày 03 tháng 7 năm 1998 Quyết định của Ủy ban nhân tỉnh Quảng Nam về
ban hành "Bản qui định thực hiện chính sách hỗ trợ người có công Cách mạng
cải thiện nhà ở"; Quyết định số 2740 ngày 05 tháng 9 năm 2013 về Phê duyệt
Đề án Hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở trên địa bàn tỉnh theo Quyết
định số 22/2013/QĐ - TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ….
Thực hiện chủ trương chung của tỉnh, những năm qua huyện Phú Ninh
đã luôn phấn đấu thực hiện tốt các chính sách người có công, người đã được
xác nhận và giải quyết quyền lợi theo đúng quy định của Nhà nước. Bên cạnh
đó, các cấp, các ngành cũng đã huy động các nguồn lực, sức mạnh cộng đồng,
các tổ chức, cá nhân để chăm lo đời sống gia đình chính sách, chăm sóc phần
mộ các liệt sĩ …, đối tượng được ưu đãi chính sách ngày càng được mở rộng,
mức ưu đãi được nâng lên từng bước. Nhờ vậy, đời sống người có công và gia
đình được cải thiện ngày càng ổn định góp phần ổn định tình hình kinh tế chính trị - xã hội ở địa phương.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách đối với người có công,
huyện cũng gặp không ít khó khăn như: Các văn bản liên quan đến lĩnh vực
lao động - thương binh và xã hội nói chung và lĩnh vực người có công rất
nhiều và thường có sự thay đổi, trong khi đó đội ngũ cán bộ thực hiện công
tác thương bình xã hội cũng có sự thay đổi thường xuyên, đồng thời, do

vấn đề chính sách xã hội ở nước ta hiện nay của tác giả Hoàng Chí Bảo[2].
Trong công trình này, tác giả khẳng định chính sách xã hội không ngừng thay
đổi để phù hợp với đối tượng áp dụng, và vì vậy chính sách đối với người có
công cũng được thay đổi qua từng thời kỳ, sự thay đổi đó có những mặt tích
cực và tiêu cực trong việc triển khai, thực hiện chính sách.
Tác giả Nguyễn Đình Liêu trong bài viết Pháp lệnh ưu đãi đối với người
có công - Một đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, đăng trên tạp chí Lao động xã
hội, số 91 tháng 9/1994 tác giả đã đề cập đến những vấn đề chung nhất về ưu
đãi xã hội ở nước ta. Tác giả chỉ ra những mặt tích cực cũng như những hạn

3


chế còn tồn tại trong chính sách ưu đãi người có công với cách mạng của Nhà
nước ta [15]. Tác giả chỉ ra rằng, Pháp lệnh ưu đãi người có công chính là căn
cứ để thực hiện những chính sách, những trợ cấp, chi trả hằng tháng, một lần,
các mức ưu đãi mà người có công xứng đáng được hưởng.
Bàn về những căn cứ pháp lý giúp cho người có công cũng như những
người làm công tác đền ơn đáp nghĩa có cở sở để thực hiện các chính sách có
liên quan, năm 1997, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội đã xuất bản
cuốn Những điều cần biết về chính sách với người có công[16]. Đây là cuốn
sách đề cập tới những vấn đề pháp lý trọng yếu, là căn cứ pháp lý để mọi
người và chính bản thân người có công biết được những quyền lợi nào họ
được hưởng.
Không chỉ có sách và tạp chí, trong những năm qua, đã có rất nhiều để
tài, công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này. Điển hình là các tác giả
như: Nguyễn Hiền Phương (2004), với công trình “Một số vấn đề về Pháp
luật ưu đãi xã hội”, Tạp chí Luật học số 4/2004. Qua nghiên cứu này, tác giả
đã đưa ra và phân tích một số khái niệm và nội dung cơ bản của Pháp luật Ưu
đãi người có công, luận bàn và đánh giá về những thành tựu cũng như phân

là xuất phát từ thực tiễn triển khai chính sách đối với người có công, chúng tôi
tiến hành đánh giá về công tác thực hiện chính sách đối với người có công
trên địa bàn huyện Phú Ninh hiện nay. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách ưu đãi xã hội đối
với người có công trên địa bàn huyện, hướng họ đến một cuộc sống an toàn,
tốt đẹp hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đối với
người có công từ thực tiễn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam để từ đó có
những đề xuất nhằm hoàn thiện chính sách này trong thời gian tới.

5


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác lập cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách đối với người có
công với nước.
Một là, nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách đối với
người có công;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách đối với
người có công từ thực tiễn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, tìm ra những
ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân;
Ba là, đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện chính sách và nâng cao
hiệu quả của việc thực hiện chính sách đối với người có công từ thực tiễn
huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn huyện
Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.

Góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận về chính sách công nói
chung, chính sách đối với người có công nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Giúp chính quyền các cấp tại huyện Phú Ninh nhận thức đầy đủ hơn ý
nghĩa, tầm quan trọng của chính sách đối với người có công để tổ chức thực
hiện chính sách đối với người có công có hiệu quả.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các từ viết tắt, danh
mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố trí theo 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về chính sách đối với người có công.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đối với người có công từ
thực tiễn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2013 - 2017.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách đối với người có công từ
thực tiễn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2018 – 2021.

7


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG
1.1. Một số vấn đề lý luận về Người có công
1.1.1. Khái niệm Người có công
Chế độ ưu đãi đối với người có công cách mạng đã được thực hiện ở
nước ta từ rất sớm, nhưng cho đến nay, qua nghiên cứu các văn bản quy phạm
pháp luật về ưu đãi người có công, chúng ta vẫn chưa thấy khái niệm rõ ràng
về người có công. Tuy nhiên căn cứ vào các tiêu chuẩn hiện hành đối với các
đối tượng ưu đãi của Nhà nước đã quy định, các nhà khoa học đã đưa ra quan
điểm xác định khái niệm người có công.
Theo nghĩa rộng, các tác giả cho rằng: Người có công là những người

hành của pháp luật nước ta chủ yếu áp dụng đối với đối tượng này.
1.2.2. Phân loại người có công
Người có công với cách mạng ở nước ta, theo quy định của pháp luật ưu
đãi người có công với cách mạng tại Pháp lệnh số: 04/2012/UBTVQH13 ngày
16 tháng 7 năm 2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Pháp lệnh sửa đổi,
bổ sung một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, bao
gồm các đối tượng sau [28]:
Thứ nhất, Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người
được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách
mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.
Thứ 2, Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến
ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày
khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm

9


quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc
thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày
khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Thứ 3, Liệt sĩ
Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,
bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của
nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
- Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
- Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch;
- Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn

tuyên dương Anh hàng Lao động vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao
động, sản xuất phục vụ kháng chiến.
Thứ 7, Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh.
Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm
khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp
“Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
- Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
- Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để
lại thương tích thực thể;
- Làm nghĩa vụ quốc tế;
- Đấu tranh chống tội phạm;
- Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc
phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;
- Làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn;
- Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ

11


quan có thẩm quyền giao;
- Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ
quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm.
Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân
nhân, công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21%
trở lên thuộc một trong các trường hợp quy định trên được cơ quan có thẩm
quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh"
Thứ 8, Bệnh binh
Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả

Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày là
người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời gian
bị tù, đày, không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm
tay sai cho địch.
Thứ 11, Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ
quốc và làm nghĩa vụ quốc tế
Thứ 12, Người có công giúp đỡ cách mạng.
Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ
cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm:
- Người được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có
công với nước”;
- Người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công”
hoặc Bằng “Có công với nước” trước cách mạng tháng Tám năm 1945;
- Người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến;
- Người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy
chương kháng chiến.
1.2. Chính sách đối với người có công
1.2.1. Khái niệm chính sách đối với người có công
Chính sách đối với người có công cách mạng là những quy định bằng

13


văn bản quy phạm pháp luật hướng đến sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và
tinh thần của Nhà nước và xã hội nhằm ghi nhận và đền đáp công lao đối với
những người có công với cách mạng và thân nhân của họ. Chính sách này thể
hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với người có
công cách mạng, góp phần tạo ra sự công bằng, bình đẳng, ổn định, phát triển
và tiến bộ xã hội.
1.2.2. Vai trò của chính sách đối với người có công

tư hướng dẫn thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc người có công với nước.
Chính sách đối với người có công với cách mạng không chỉ là truyền thống
đạo lý mà còn là vấn đề chính trị, tư tưởng, tình cảm, vấn đề xa hội lớn;
không chỉ là vấn đề cấp bách trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài của một chế
độ chính trị. Nhà nước đã ban hành bổ sung hàng loạt văn bản pháp quy nhằm
xử lý những bất hợp pháp về chính sách, chế độ và những vấn đề nảy sinh từ
cuộc sống, phù hợp với sự chuyển đổi không ngừng của nền kinh tế, hướng
tới bảo đảm công bằng trong việc thực hiện ưu đãi đối với thương binh, gia
đình liệt sỹ và người có công với cách mạng.
Chính sách chăm sóc người có công nhằm từng bước nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của người có công, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội, tiếp ục xây dựng nét đẹp truyền thống trong đời sống văn hóa xã hội
của đất nước.
1.4. Cơ chế chính sách và giải pháp thực hiện chính sách đối với
người có công hiện nay.
1.4.1 Cơ chế chính sách đối với người có công
Về vật chất, chính sách ưu đãi về vật chất đối với người có công được
thể hiện bằng một số cơ chế chính sách như sau:
Thứ nhất, chính sách trợ cấp bằng tiền cho đối tượng ưu đãi xã hội như:
trợ cấp, phụ cấp hằng tháng; trợ cấp mai tang phí; trợ cấp tiền tuất hằng tháng;
ưu đãi giáo dục và đào tạo…

15


Thứ hai, Chính sách trợ cấp bằng hiện vật cho các đối tượng hưởng ưu
đãi xã hội như: xây dựng nhà tình nghĩa; cấp thẻ BHYT; cấp các dụng cụ
chỉnh hình; quà tặng….
Thứ ba, cơ chế chính sách trợ cấp điều dưỡng phục hồi sức khỏe, phục
hồi chức năng, vay vốn ưu đãi sản xuất, được miễn hay giảm thuế theo quy
định của pháp luật…

tác thực hiện chính sách người có công rất cần sự phối hợp chặt chẽ giữa
chính quyền địa phương các cấp.
1.4.2.2. Công tác quản lý
Công tác quản lý thực hiện chính sách đối với người có công là hoạt
động quan trọng, vì vậy công tác này cần được tiến hành quản lý đảm bảo
đúng quy trình, thủ tục đề ra. Để thực hiện công tác này ngành Lao động –
Thương binh và Xã hội ở các cấp phảo điều tra, nắm chắc các thông tin trong
thực tế đời sống nhân dân để phản ánh kịp thời đến các cơ quan chức năng để
nắm bắt, xử lý kịp thời và đúng quy định. Công tác quản lý thực hiện chính
sách đối với người có công gồm:
Thứ nhất, Công tác xét duyệt, quản lý về chính sách đối với các đối
tượng là người có công với cách mạng. Đây là công tác chuyên môn nghiệp
vụ của người thực hiện nhiệm vụ quản lý để trình nhà quản lý hướng dẫn, chỉ
đạo về chuyên môn nghiệp vụ đối với chức năng phụ trách mảng văn hóa, xã
hội ở cấp cơ sở, các đối tượng chính sách và thân nhân của họ.
Thứ hai, ban hành văn bản hướng dẫn việc thực hiện chính sách và pháp
luật của Nhà nước về lĩnh vực người có công.
Thứ ba, phối hợp với các ngành, đoàn thể xây dựng phong trào toàn dân
chăm sóc, phụng dưỡng, giúp đỡ người có công và các đối tượng chính sách
xã hội.
Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Phối hợp với các
ngành, các cấp tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm nhằm hạn chế các

17


tiêu cực trong việc thực hiện và quản lý công tác thực hiện chính sách đối với
người có công cách mạng.
1.4.2.3. Tổ chức thực hiện
Kế hoạch triển khai công tác thực hiện chính sách đối với người có công

phương. Những đại phương có vị trí thuận lợi, ,có điều kiện kinh tế xã hội
phát triển, có điều kiện tự nhiên thuận lợi, người dân hiểu biết, nhận thức tốt
về chính sách người có công với cách mạng sẽ tác động thúc đẩy việc thực
hiện chính sách người có công thuận lợi. Ngược lại, những địa phương có vị
trí địa lý, điều kiện tự nhiên không thuận lợi, điều kiện kinh tế kém phát triển,
người dân nhận thức, hiểu biết kém về chính sách người có công cách mạng
sẽ kìm hãm, ngăn trở các hoạt động này, dẫn đến việc thực hiện chính sách
kém hiệu quả. Chính vì vậy địa phương ổn định, ít biến đổi về chính trị xã
hội, kinh tế phát triển, sẽ đưa đến sự ổn định về hệ thống chính trị cũng góp
phần thực hiện hiệu quả chính sách người có công cách mạng.
1.5.3. Nhận thức của xã hội và người dân
Đây là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự cảu chính
sách người có công với cách mạng. Người dân vừa là người trực tiếp tham gia
thực hiện chính sách, vừa là người trực tiếp thụ hưởng những lợi ích từ chính
sách. Nếu chính sách người có công đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội sẽ
nhanh chóng đi vào lòng dân và được nhân dân ủng hộ trong việc thực hiện.
Nếu chính sách người có công không thiết thực với đời sống nhân dân, không
phù hợp với điều kiện và trình độ hiện có của nhân dân thì chính sách người
có công với cách mạng sẽ khó triển khai thực hiện trong thực tiễn. Như vậy,
chính sách người có công với cách mạng muốn được triển khai thực hiện tốt
thì cần phải có sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân.
1.5.4. Thể chế bộ máy và cán bộ thực thi
Đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả của công tác tổ chức thực
hiện chính sách đối với người có công cách mạng. Các cán bộ, công chức khi

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status