VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TIÊU PHI LỰC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TIÊU PHI LỰC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. HỒ TẤN SÁNG
HÀ NỘI, năm 2019
3.2. Các giải pháp ......................................................................................................63
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSC
: Chính sách công
QLNN
: Quản lý nhà nước
UBND
: Ủy ban nhân dân
TTXD
: Trật tự xây dựng
TTVH
: Trật tự vỉa hè
VSMT
: Vệ sinh môi trường
Ở Nước ta, trong thời gian qua, cùng với quá trình CNH, HĐH đất nước, tốc
độ phát triển đô thị diễn ra nhanh chóng. Việt Nam hiện nay, đã có khoảng 745 đô
thị, trong đó, có gần 110 thành phố, thị xã. Việc xây dựng và phát triển các đô thị
này đòi hỏi phải được thực hiện theo đúng quy hoạch phê duyệt, và đúng với tiêu
1
chuẩn cho phép đối với từng khu vực. Tuy nhiên trên thực tế việc vi phạm TTĐT,
không còn là chuyện xa lạ của thế giới trong thời gian qua. Tình hình vi phạm
TTĐT đã và đang là một vấn đề nóng trong thực tế của đô thị nước ta hiện nay;
dường như đây chính là mặt trái của đô thị hoá với tốc độ quá nhanh trong khi
QLNN về đô thị lại chưa đáp ứng kịp. Hiện tượng xây dựng sai phép không đúng
với nội dung giấy phép xảy ra ở nhiều nơi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,thành
phố Hải Phòng, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh…có thể nhận thấy các
công trình vi phạm pháp luật về trật tự xây dựng ngày càng nhiều và đa dạng hơn.
Đồng thời các vi phạm về TTVH, VSMT, PCCC, về cư trú ... cũng gia tăng và diễn
biến phức tạp. Điều này đòi hỏi chính sách quản lý TTĐT phải được quan tâm một
cách nghiêm túc.
Thực tế cho thấy, những mặt tích cực và tiêu cực của sự phát triển đô thị nước
ta trong thời gian qua đã tạo ra sức ép khá lớn về nhiều mặt, có nguy cơ của sự phát
triển không bền vững. Quá trình phát triển đô thị đã, đang nảy sinh nhiều vấn đề lớn
như: gia tăng dân số cơ học ở các đô thị lớn; tình trạng lấn, chiếm đất xây dựng nhà
trái phép vi phạm các chỉ giới, sai với quy hoạch ngày càng nghiêm trọng; sự bùng
nổ các phương tiện cơ giới gây ách tắc giao thông, nhiều tuyến đường đã trở thành
nơi buôn bán hàng rong không còn chỗ cho người đi bộ; ý thức giữ gìn vệ sinh môi
trường của người dân không được nâng lên...Bên cạnh đó,quá trình phát triển đô thị
cũng chính là nguyên nhân làm giảm chất lượng môi trường, suy thoái nguồn tài
nguyên thiên nhiên và mất cân bằng sinh thái; đây chính là thách thức của công tác
quản lý nhà nước về TTĐT tại các thành phố ở nước ta.
hỏi bức thiết đang đặt ra.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, đã có nhiều giáo trình, công trình khoa học, các nghiên
cứu, hội thảo, bài viết về QLNN về TTXD đô thị, đáng chú ý như:
- Đỗ Hoàng Toàn (2005), “Giáo trình Quản lý Nhà nước về kinh tế”. Tác giả
đã nêu lên vai trò của Nhà nước, nêu lên hệ thống các cơ quan quản lý các lĩnh vực
xã hội như: cổ động, tuyên truyền, cưỡng chế, và các cơ quan quản lý khoa học kỹ
thuật, tài chính...Nhà nước phải định hướng, đảm bảo xã hội phát triển, nhân dân có
quyền đạt được những nguyên vọng chính đáng của chính mình. Tác giả cũng đã
nêu lên khái niệm QLNN về kinh tế, thực tế của QLNN về kinh tế là việc tổ chức,
3
sử dụng phải có hiệu quả các nguồn lực trong nước và ngoài nước mà Nhà nước có
khả năng tác động vì mục tiêu xây dựng và phát triển.
- Lê Bảo (2016),“Bài giảng Quản lý Nhà nước về kinh tế”.Tại chương 1, tác
giả đã nêu những vấn đề lý luận chung của QLNN về kinh tế. Nêu lên vai trò và sự
cần thiết của QLNN về kinh tế. Chức năng, nhiệm vụ của QLNN về kinh tế, đồng
thời nêu phương pháp QLNN và các công cụ của QLNN.Tại chương 4, tác giả cũng
đã nêu nội dung QLNN về hệ thống quản lý, hệ thống hạ tầng kinh tế-xã hội. Đó là
xây dựng hệ thống luật pháp, khai thác và quản lý hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội.
Quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội là một nhiệm vụ quan trọng
của mọi cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương.
- Nguyễn Đình Hương (2003), “Quản lý Đô thị”, Giáo trình gồm 10 chương,
mỗi chương tương ứng với một vấn đề đặt ra cho công tác quản lý đô thị. Giáo trình
đã làm rõ những quan niệm về đô thị và quản lý đô thị, chia loại đô thị và từng giai
- Luận văn thạc sĩ "Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị
từ thực tiễn Q.Cẩm Lệ, TP.Đà Nẵng” của tác giả Trịnh Văn Quang (2016). Các vấn
đề về xử phạt vi phạm hành chính đã được tác giả đã hệ thống hóa.; phân tích toàn
diện đặc điểm về tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực TTĐT từ thực trạng
Q.Cẩm Lệ. Đánh giá về những kết quả đạt được trong hoạt động xử phạt vi phạm
hành chính trên lĩnh vực TTĐT từ thực tiễn của Q.Cẩm Lệ. Tác giả đã đi sâu phân
tích kết quả và tìm ra những hạn chế, nguyên nhân. Đề xuất, kiến nghị các giải pháp
nâng cao hiệu lực - hiệu quả hoạt động xử phạt trong vi phạm hành chính trong lĩnh
vực TTĐT từ thực tiễn Q.Cẩm Lệ trong thời gian đến. Ngoài ra còn nhiều đề tài
nghiên cứu quản lý nhà nước trên các lĩnh vực như giao thông đô thị, đất đai,an sinh
xã hội, môi trường và tài nguyên,quy hoạch đô thị...
Có thể nhận thấy, mặc dù đã có những công trình trên đã đề cập một số khía
cạnh có liên quan, nhưng việc thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị trên địa
bàn quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng – đặc biệt chuyên sâu về 3 lĩnh vực thực
hiện chính sách quản lý về trật tự xây dựng; quản lý về vệ sinh môi trường và quản
lý về trật tự vỉa hè, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích
Góp phần nêu lên cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất một số giải pháp nâng
cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị nói chung và
quản lý trên các lĩnh vực trật tự xây dựng, trật tự vỉa hè, vệ sinh môi trường nói
riêng ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
5
3.2. Nhiệm vụ:
- Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách quản lý trật tự
đô thị.
- Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách quản lý trật tự
bản đồ hiện trạng sử dụng đất của quận, phường; báo cáo quy hoạch sử dụng đất của
quận; tình hình phân bố dân cư, lao động trên địa bàn quận; hệ thống các bảng biểu
thống kê, và các văn bản pháp luật có liên quan đến QLNN về trật tự xây dựng).
Số liệu được thu thập, tổng hợp được trình bày theo kiểu văn xuôi để thuận
lợi cho việc phân tích và đánh giá. Các dữ liệu và thông tin xử lý trên phần mềm
Excel…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Có thể là khung lý thuyết về thực hiện chính sách quản lý
trật tự đô thị nói chung và quản lý trên các lĩnh vực trật tự xây dựng, trật tự vỉa hè,
vệ sinh môi trường nói riêng.
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng lý
luận để phân tích, đánh giá kết quả thực hiện chính sách và định hướng cho việc
giải quyết trong quá trình thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị. Thực trạng và
các kiến nghị có thể được vận dụng vào việc thực hiện chính sách quản lý trật tự đô
thị ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Cũng là cơ sở để các địa phương tham
khảo nhằm nâng cao chất lượng thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị hiện nay.
Đây cũng là tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu củng cố, hoàn thiện hệ
thống chính sách quản lý TTĐT đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền đô thị tại
TP. Đà Nẵng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Lý luận về thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị trên địa bàn
quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng việc thực hiện
chính sách quản lý trật tự đô thị trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
trong giai đoạn hiện nay.
7
vụ và quản lý xã hội có thể thấy: Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của
8
nhân dân, ban hành chính sách để mưu cầu lợi ích cho cộng đồng xã hội. Chính
sách của nhà nước đã tác động rộng khắp đến mọi đối tượng, mọi quá trình trên
phạm vi toàn quốc. Chính sách khi gắn với vai trò, chức năng “lo cho cái chung”
hay “khu vực công” của nhà nước được gọi là chính sách công (Public policy).
Tích hợp những cách tiếp cận, cách hiểu, cách định nghĩa đã có, trong luận
văn này chúng tôi thống nhất cách quan niệm: Chính sách công là tổng thể chương
trình hành động của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên
các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo phương thức nhất định nhằm đạt được các
mục tiêu đề ra, bảo đảm cho xã hội phát triển bền vững, ổn định.
Khái niệm trên thể hiện đặc trưng của chính sách công là:
Do nhà nước chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản
lý một cách tương đối ổn định.
Là công cụ định hướng cho hành vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái
độ chính trị của nhà nước trong.việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời
sống xã hội;
Để đạt được mục tiêu đề ra, trước hết chính sách đó phải tồn tại trong thực tế,
nghĩa là chính sách phải thể hiện được vai trò định hướng hành động theo những
mục tiêu nhất định;
Điều kiện tồn tại của một CSC là tổng hoà những tác động tích cực của hệ
thống thể chế do nhà nước thiết lập và tinh thần nghiêm túc thực hiện, tự chủ, sáng
tạo của các chủ thể tham gia giải quyết vấn đề chính sách trong một phạm vi không
gian và thời gian nhất định;
Điều kiện bảo đảm cho sự tồn tại được thể hiện bằng các nguồn lực con
người, nguồn lực tài chính, môi trường chính trị, pháp lý, văn hóa xã hội và cả sự
bảo đảm bằng nhà nước.
Chu trình CSC theo mô hình này gồm 5 giai đoạn:
(1) Lập chương trình (Agenda setting): Các cá nhân và tổ chức, cơ quan chức
năng tham gia làm chính sách trình vấn đề công ra thảo luận, và xem xét đưa vào
chương trình chính thức. Trên thực tế, có những vấn đề chính sách dễ dàng mở
“cánh cửa cơ hội” xuất hiện trong chương trình nghị sự; trong khi nhiều vấn đề khác
lại bị trì hoãn lâu dài.
(2) Hình thành chính sách (Policy formulation, bao gồm việc thiết kế chính
sách – policy design): Chính thức đề xuất các phương án (biện pháp thay thế) nhằm
mục tiêu giải quyết vấn đề chính sách. Giải pháp thay thế trong các đề xuất chính
10
sách có thể thể hiện dưới dạng dự thảo các quy định pháp lý của chính phủ, tòa án
hoặc dự luật của Quốc hội.
(3) Thông qua chính sách (Policy adoption): Chính sách được chính thức
thông qua bởi đa số, hay được hợp pháp hoá (legitimation). Nói chung, chính sách
có thể được thông qua bởi Quốc hội, Chính phủ và Tòa án trong phạm vi luật định.
(4) Thực hiện chính sách (Policy implementation):Cơ quan hành pháp huy
động các nguồn lực triển khai thực hiện khi CSC được thông qua. Đây là giai đoạn
quan trọng mà CSC tác động đến xã hội với mục đích đạt được các mục tiêu nhà
nước đề ra; và cũng có thể dẫn tới những tác động không như dự đoán, thậm chí kết
quả có thể không đúng với dự đoán phân tích ban đầu.
(5) Đánh giá chính sách (Policy evaluation): Là giai đoạn xem xét các cơ
quan thực hiện chính;sách có đáp ứng yêu cầu, tuân thủ quy định pháp lý và đạt
được các mục tiêu của chính sách không. Vì vậy, các đơn vị chức năng liên quan
cần thực hiện thanh tra, kiểm toán để đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chính đối
với cơ quan thực hiện chính sách đó. Theo nghĩa này thì đánh giá chính sách là một
giai đoạn trong quy trình chính sách. Có thể nói, đánh giá chính sách là một phương
pháp sử dụng các công cụ phân tích để nghiên cứu, phân tích chính sách [14].
Trên cơ sở kết quả của đánh giá CSC, các cơ quan này.có thể chấm dứt sự tồn tại
của,CSC; hoặc có thể bổ sung mục tiêu, điều chỉnh các giải-pháp cho phù hợp với
tình hình thực tế.
Mô hình hoá chu trình chính sách công theo cách phân loại trên
Hoạch định chính sách công
Phân tích
chính sách công
Thực thi chính
sách công
Đánh giá chính
sách công
12
Lưu ý: Phân tích CSC không phải là một giai đoạn độc lập của chu trình
CSC, mà là một hoạt động gắn kết với các giai đoạn của chu trình CSC. Đây là hoạt
động cơ bản làm nền tảng ra quyết định cho các chủ thể hoạch định, thực thi CSC.
Do tính chuyên nghiệp và vai trò trọng yếu của công việc này mà hiện nay, nhiều
quốc gia coi hoạt động phân tích CSC là một nghề cao quý và những người làm
nghề này được gọi là nhà phân tích CSC. Muốn đánh giá CSC đương nhiên phải
phân tích CSC. Muốn xây dựng, điều chỉnh, hoặc sửa đổi chính sách mới cũng phải
tất yếu phân tích, đánh giá CSC đang thực hiện.
Cho dù có thể tồn tại nhiều cách phân loại chu trình- các bước, các công
đoạn chính sách khác nhau, nhưng tổ chức thực hiện chính sách – là một mắt khâu
có nội dung và vai trò quan trọng, quyết định đến sự thành bại của một chính sách.
trì chính sách; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính
sách đến tổng kết rút kinh nghiệm. Cần dự kiến thời gian cho mục tiêu cần đạt
được. Tùy vào chính sách, điều kiện thực tế để dự kiến mỗi bước cho phù hợp với
một chương trình cụ thể của chính sách;
+ Lên kế hoạch kiêm tra thực hiện CSC,là những dự kiên về tiến độ, hình
thức; phương pháp,kiểm tra; giám sát,tổ chức thực hiên CSC.
+ Xây dựng dự kiến những nội dung trong thực hiện CSC bao gồm: nội quy,
quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm và nghĩa vụ, quyền hạn của cán bộ,
công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành CSC; về các biện
pháp khen thưởng, kỷ luật trong tổ chức thực hiện chính sách...
+ Lãnh đạo ở cấp nào thì xem xét thông qua kế hoạch thực hiện ở cấp đó.
Sau khi quyết định thông qua, kế hoạch thực hiện CSC phải mang giá trị thiết thực
để được xã hội chấp hành thực hiện. Việc điều chỉnh kế hoạch thực hiện CSC phải
do cấp có thẩm quyền quyết định.
Thứ hai: Phổ biến tuyên truyền chính sách công
Sau khi thông qua kế hoạch triển khai thực hiện CSC, các cơ quan nhà nước
có liên quan tiến hành triển khai tổ chức thực hiện CSC theo kế hoạch. Việc trước
tiên của quá trình này là tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu rõ chính sách và
tham gia thực hiện chính sách. Đây là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng, đối với
các cơ quan nhà nước và các đối tượng tham gia thực hiện CSC. Phổ biến, tuyên
truyền CSC mà cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ sẽ giúp cho các đối tượng thực hiện chính
14
sách và người dân tham gia thực hiện hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của CSC; về tính
đúng đắn của chính sách; tính khả thi của chính sách...để họ tự giác thực hiện theo
yêu cầu của QLNN. Đồng thời, còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có nhận thức
đúng với trách nhiệm trong quá trình tổ chức thực hiện CSC; đồng thời, phải nhận
thức được tầm quan trọng, quy mô của chính sách đối với đời sống xã hội, để từ đó
khai thực hiện các mục tiêu của CSC diễn ra cũng hết sức đa dạng và phức tạp theo
không gian và thời gian, chúng xen lẫn nhau, thúc đẩy hoặc kìm hãm nhau theo quy
luật...Bởi vậy, muốn tổ chức thực hiện CSC đạt hiệu quả cần phải tiến hành phan
công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý, các ngành, các cấp chính quyền địa
phương, các yếu tố tham gia thực hiện CSC và các quy trình ảnh hưởng đến việc
thực hiện các mục tiêu CSC. Trong thực tế, cơ quan chủ trì hoặc cơ quan, đơn vị
phối hợp thường được phân công thực hiện một chính cụ thể nào đó. Chính sách có
thể tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư, nhưng kết quả tác động lại liên
quan đến nhiều yếu tố, quá trình thuộc các bộ phận khác nhau, nên cần phải phối
hợp chúng lại để đạt yêu cầu quản lý.
Hoạt động phân công, phổi hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện CSC một
cách sáng tạo, chủ động để luôn được duy trì chính sách được ổn định, góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả CSC.
Thứ tư: Duy trì chính sách công
Đây là giai đoạn nhằm bảo đảm cho CSC được tồn tại được và phát huy tác
dụng trong thực tế.Muốn vậy phải có sự thống nhất, tổng hợp mọi nguồn lực. Đối
với các chủ thể tổ chức thực hiện CSC phải thường xuyên quan tâm vận động, tuyên
truyền, các đối tượng thuộc phạm vi ảnh hưởng của chính sách và toàn xã hội tích
cực, hưởng ứng, tham gia thực hiện chính sách.
Nếu việc thực hiện CSC gặp phải những vướn mắc do môi trường bên ngoài,
thì các chủ thể quản lý của nhà nước muốn tạo lập môi trường thuận lợi cho việc
thực hiện CSC thì phải sử dụng các hệ thông công cụ quản lý để tác động đến đối
tượng. Đồng thời các chủ thể quản lý của nhà nước phải chủ động điều chỉnh chính
sách cho phù hợp tình hình thực tế. Trong một chừng mực nào đó, vì lợi ích chung
của xã hội, các chủ thể quản lý của nhà nước có thể xây dựng và đề xuất sử dụng
biện pháp hành chính đủ răn đe để chính sách tiếp tục được duy trì có hiệu quả.
Những hoạt động trên sẽ góp phần tích cực vào hiệu quả của việc duy trì
16
17
đánh giá về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội
và của toàn xã hội trong việc tham gia thực hiện CSC. Cơ sở để đánh giá tổng kết
công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện CSC trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch
được giao và những nội quy, quy chế. Đồng thời kết hợp sử dụng các văn bản liên
tịch giữa cơ quan nhà nuớc với các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và các văn
bản quy phạm khác để xem xét tình hình, phối hợp chỉ đạo, điều hành thực hiện
CSC của các tổ chức đó.
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà
nước, chúng ta cần xem xét, đánh giá việc thực hiện CSC của các đối tượng tham
gia thực hiện CSC bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và lợi ích gián
tiếp từ chính sách. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả thực hiện của các đối tượng này là:
tinh thần hưởng ứng với mục tiêu của CSC, ý thức chấp hành những quy định về cơ
chế, biện pháp do chủ thể các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực
hiện mục tiêu CSC trong từng điều kiện.
Thực thi CSC là quá trình đưa CSC vào thực tiễn đời sống xã hội, nhằm đạt
được các mục tiêu của CSC, gồm một chuỗi các bước liên quan với nhau, có nhiều
chủ thể tham gia, đòi hỏi những nguồn lực nhất định, bị chi phối bởi nhiều yếu tố.
Thực thi CSC được xem là thành công hay hiệu lực khi nó đạt được mục tiêu của
CSC một cách đầy đủ. Tuy nhiên, để thực thi CSC thành công đòi hỏi phải thõa
mãn rất nhiều điều kiện và các điều kiện này có thể nhóm thành ba nhóm:
(1) Các điều kiện liên quan đến bản thân chính sách công
Một CSC được coi là tạo thuận lợi cho việc thực thi nó thành công khi nó
thỏa mãn được điều kiện sau:
- Mục tiêu CSC được xác định rõ ràng, chính xác và nhất quán.
- Thiết kế CSC ban đầu phải tính đến tất cả các tác động chủ định và không
chủ định.
- Cơ quan chuyên trách thực thi phải diễn giải được mục tiêu chính sách
công thành những kế hoạch và công việc cụ thể.
- Cần xác định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan thực thi chính sách
công một các chi tiết và theo một trình tự logic.
- Việc thực thi CSC phải được ấn định và phân công trách nhiệm cụ thể từ đó có
thể theo dõi, nắm rõ được tình hình, các hành động liên quan đến việc thực thi CSC.
19
- Quá trình thực thi chính sách công được cấu trúc để đảm bảo đạt được kết
quả cao từ các chủ thể thực thi.
- Tính đến lợi ích và động lực của những người tham gia thực thi chính sách
công.
- Các nhà lãnh đạo cơ quan thực thi có đủ những kỹ năng chính trị, quản lý
và sự cam kết của họ với các mục tiêu ấn định.
- Cơ quan thực thi chính sách công tuân thủ đầy đủ hướng dẫn của chính
sách công.
- Thông tin và liên lạc giữa các chủ thể thực thi được cung cấp đầy đủ và
hiệu quả.
- Chủ thể phải xây dựng được cơ chế phối hợp, cơ chế đó phải phát huy hiệu
quả giữa các chủ thể trong quá trình thực thi CSC.
- Phải dự trù, đề xuất đủ mọi nguồn lực cần thiết và phải dự trù đảm bảo thời
gian không nên nóng vội mà dự trù thời gian gấp rút, quá ngắn để đạt được một
trong những mục tiêu nào của chính sách.
- Quản lý việc thực hiện phải thống nhất (định hướng mục tiêu).
(3) Các điều kiện liên quan đến bối cảnh thực thi
Quá trình thực hiện chính sách công diễn ra trong những điều kiện liên quan
đến bối cảnh thực thi nhất định và yêu cầu đối với những điều kiện này là:
- Môi trường chính trị, kinh tế, xã hội và quốc tế ổn định trong suốt quá trình