VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN CHANH
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO THỂ
THAO QUẦN CHÚNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN CHANH
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO THỂ
THAO QUẦN CHÚNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
:8340402
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRƯƠNG THỊ NHƯ YẾN
PHONG TRÀO THỂ THAO QUÀN CHÚNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM.................................................................44
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Nông
Sơn, tỉnh Quảng Nam..........................................................................................44
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển thể thao quần chúng tại huyện
Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam................................................................................48
2.3. Đánh giá chung về thực hiện chính phát triển phong trào thể thao quần
chúng trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.......................................50
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO THỂ THAO
QUẦN CHÚNG TẠI HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM.............58
3.1. Quan điểm chỉ đạo, định hướng và những mục tiêu chủ yếu của chính sách
phát triển phong trào thể thao quần chúng..........................................................58
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách phát triển phong trào thể thao quần chúng..................................................62
3.3. Một số kiến nghị...........................................................................................68
KẾT LUẬN........................................................................................................ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ
VIẾT TẮ T
TDTT
Thể dục thể thao
CSC
CSVC
Cơ sở vật chất
HCV
Huy chương vàng
HCB
Huy chương bạc
CLB
Câu lạc bộ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu tất yếu đối với tất cả
các nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực, do đó đòi hỏi nền giáo dục
và toàn xã hội phải đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức,
trí tuệ, sức khỏe, thẩm mỹ, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, nhiều phong trào thể dục thể
thao thiết thực, hiệu quả, góp phần đẩy mạnh sản xuất, nâng cao sức chiến đấu
của quân và dân, cùng cả Dân tộc hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước.
đáng khích lệ. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình thực
hiện chính sách phát triển TDTT của huyện còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế: cơ
sở vật chất (CSVC) tuy đã được đầu tư nhưng chưa đáp ứng được nguyện vọng
và yêu cầu tập luyện của quần chúng nhân dân nhất là ở cơ sở và cơ quan ban
ngành (chỉ mới đầu tư cho Trung tâm TDTT các huyện, thành phố); công tác
phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể về thực hiện chính sách vẫn còn những
hạn chế; chính sách về chế độ đãi ngộ dành cho VĐV thể thao thành tích cao, có
tài năng đặc biệt chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng “chảy máu”
tài năng thể thao; công tác đào tạo VĐV còn nhiều bất cập. Từ thực trạng nêu
trên, chúng tôi chọn đề tài “Chính sách phát triển phong trào thể thao quần
chúng trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn
thạc sĩ Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có nhiều công trình tiếp cận ở nhiều
góc độ khác nhau như:
Tác giả Nguyễn Ngọc Khuê (2018), Luận văn Thạc sĩ “Nghiên cứu một số
giải pháp nhằm phát triển TDTT tỉnh Phú Yên” Trên cơ sở đánh giá, phân tích
2
thực trạng hoạt động và các nguyên nhân ảnh hưởng đến TDTT của tỉnh Phú Yên
để làm rõ những hạn chế, yếu kém trong công tác TDTT để đưa ra các giải pháp
pháp phù hợp góp phần vào quá trình xây dựng và phát triển TDTT tỉnh Phú
Yên.
Tác giả Phạm Nhật Kỳ (2016), Luận văn Thạc sĩ "Nghiên cứu giải pháp
phát triển phong trào thể thao quần chúng ở huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
Luận văn đã nêu lên thực trạng phong trào TDTT quần chúng ở huyện nông thôn
mới Phú Ninh, Quảng Nam, chúng tôi đề xuất một số giải pháp thực tiễn có khả
năng thúc đẩy phong trào TDTT quần chúng, qua đó không ngừng nâng cao sự
phong trào thể thao quần chúng.
-
Phân tích thực trạng thực hiện chính sách phát triển tại phong trào thể thao
quần chúng tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện chính sách phát triển phong trào
thể
thao quần chúng tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách phát triển phong
trào thể thao quần chúng tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
-
Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về thực hiện chính sách
phát triển thể thao quần chúng ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
- Phạm vi thời gian: chủ yếu của đề tài là 5 năm, từ năm 2013 đến năm
2017 nhằm đánh giá kết quả đạt được và chưa đạt được để thấy rõ những thuận
lợi, khó khăn của việc chưa ban hành chính sách và bước đầu tổ chức triển khai
thực hiện chính sách phát triển thể thao của huyện Nông Sơn trong giai đoạn này.
Đồng thời, đề tài cũng nghiên cứu định hướng thực hiện chính sách phát triển thể
thao ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam đến năm 2025 là tìm ra nguyên nhân
của kết quả để có các giải pháp định hướng phát triển chính sách phát triển
Nhằm đánh giá công tác quản lý và phát triển phong trào tập luyện Thể dục
Thể thao của huyện nhà, qua đó xây dựng kế hoạch, phương hướng, lộ trình phát
triển Thể dục Thể thao quần chúng trong thời gian đến.
Mục tiêu của Thể dục Thể thao quần chúng là tạo ra một xã hội tập luyện
Thể dục Thể thao thường xuyên, ngày một đông đảo, rộng rãi, phong phú, tiến
bộ, nâng cao sức khỏe, thể lực, tầm vóc. Đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của
nhân dân góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của
huyện, qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận của khoa học
chính sách công.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong việc hoạch định và thực thi
chính sách, đồng thời nghiên cứu những giải pháp giúp cho các ban, ngành, hội,
đoàn thể tại huyện Nông Sơn, Quảng Nam hoạch định chính sách có cơ sở khoa
học và thực tiễn, tổ chức thực hiện chính sách phát triển phong trào thể thao tại
huyện đạt hiệu quả cao nhất.
5
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn này
gồm 3 chương:
Chương 1: Những vẫn đề lý luận về chính sách phát triển phong trào thể
thao quần chúng.
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển phong trào thể thao quần chúng
tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả chính sách phát triển
phong trào thể thao quần chúng tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
6
tiêu và các giải pháp để đạt mục tiêu và đưa chính sách vào cuộc sống. Qua đó,
việc thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công
chức (CBCC) trong thực thi chính sách. Thực trạng năng lực thực hiện chính
sách công ở nước ta cho thấy, bên cạnh những ưu điểm còn bộc lộ nhiều hạn chế,
7
bất cập, đo đó nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn năng lực thực hiện chính
sách có ý nghĩa khoa học, thiết thực và cấp bách hiện nay.
1.1.2.2. Vai trò của việc thực hiện chính sách công
Vai trò chủ thể việc thực thi chính sách công, góp phần nâng cao niềm tin
của đối tượng quản lý đối với chủ thể chính sách như niềm tin nhân dân đối với
cấp ủy Đảng và chính quyền. Nhận thức tầm quan trọng của ý nghĩa chính sách;
Nhiều năm qua các cấp ủy Đảng, chính quyền đã lãnh chỉ đạo phát huy sức mạnh
của hệ thống chính trị trong việc phối hợp triển khai các chính sách Nhà nước và
đạt được kết quả tốt đẹp.
Nhận thấy, chính sách công có vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện và
điều chỉnh chính sách công, nó là giai đoạn hiện thực hóa mục tiêu chính sách
công.
-
Từng bước hiện thực hóa mục tiêu của chính sách công. Những mục tiêu
chính sách công chỉ có thể đạt được thông qua quá trình thực thi chính sách
công, bởi thực thi chính sách công bao gồm các hoạt động có tổ chức được thực
hiện bởi các cơ quan Nhà nước và các đối tác xã hội hướng tới đạt được các mục
tiêu và mục đích đã tuyên bố trong chính sách công.
-
cưỡng chế. Trong quá trình quản lý, điều hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, nhà nước phải đối xử với nhiều đối tượng, nhiều thành phần, nhiều giai
cấp tầng lớp khác nhau. Trong hàng loạt các đối tượng có quan hệ với nhà nước
là hoàn toàn không giống nhau: Có những đối tượng quan hệ với nhà nước là
đồng sở hữu như các đối tượng thuộc thành phần kinh tế nhà nước; có những đối
tượng mà tính chất sở hữu gần với sở hữu nhà nước, được nhà nước kết hợp với
thành phần kinh tế nhà nước để xây dựng thành nền tảng của nền kinh tế; có đối
tượng mang tính chất kinh tế tư hữu, kinh tế tiểu nông, liên doanh liên kết đan
xen tạo nên sự chằng chịt của nền kinh tế quốc gia. Trong hệ thống các thành
phần hiện có, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo mang đặc trưng cơ bản của
chế độ xã hội. Việc phát huy những tác dụng của các đối tượng trong quá trình
vận động đến mục đích, Nhà nước phải đề ra cho phù hợp với mỗi vấn đề phát
sinh ở các thành phần kinh tế khác nhau. Quản lý xã hội, kinh tế chính sách trở
thành công cụ được nhà nước dùng để hiểu được thái độ ứng xử của mình đến
9
các đối tượng quản lý. Chúng ta đã thấy quản lý và phát triển nền kinh tế ở từng
thời điểm, nhà nước chủ động ban hành các chính sách để thể mối quan hệ với
các thành phần kinh tế theo mục tiêu cụ thể.
- Mục tiêu chung của quốc gia để thực hiện mục tiêu của chính sách công
Mục tiêu chính sách công có liên quan đến nhiều hoạt động chính trị, kinh
tế, xã hội theo những cấp độ khác nhau, nên không thể cùng một lúc giải quyết
tất cả các vấn đề có liên quan và cũng không thể đốt cháy giai đoạn của mỗi quá
trình. Ví dụ: Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội được Đảng ta quan xác định
trong cương lĩnh chính trị (thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII,
năm 1991) là vì con người. Để phấn đấu cho mục tiêu này, Nhà nước đã ban
hành nhiều chính sách, trong đó có chính sách làm giàu cho nhân dân và xã hội.
Nhu cầu của con người là toàn diện, không phải chỉ cần thỏa mãn về vật chất
cần được thỏa mãn để xã hội ổn định, phát triển là vấn đề chính sách công đó lúc
đầu được coi là đúng đắn và ngược lại. Sau khi lựa chọn đúng vấn đề chính sách
công, việc quan trọng tiếp theo là công việc hoạch định đúng chính sách công.
Chính sách công đúng đắn phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, cụ thể của một
chính sách, phải tập trung giải quyết tốt những vấn đề kinh tế, xã hội đã đề ra.
Khi một chính sách được triển khai trong toàn xã hội, thì giá trị của nó được
khẳng định và được cả xã hội thừa nhận, đặc biệt là đối tượng trực tiếp thụ
hưởng chính sách này.
- Thực thi làm cho chính sách công ngày càng hoàn chỉnh
Chính sách công là những điều kiện nhất định để chủ thể hoạch định cụ thể.
Điều đó chính sách công khi triển khai thường bị tác động rất lớn đến yếu tố môi
trường, nên dẫn tới thực hiện nó có thể sai lệch với những mục tiêu đã đề ra.
Đồng thời khi hoạch định chính sách công nó còn có thể bị tác động bởi rất nhiều
yếu tố như lợi ích của hoạch định các chủ thể, và tác động các nhóm lợi ích của
chủ thể đứng đầu dẫn đến cơ chế của hệ thống cơ quan hoạch định và thể chế
chính trị của quốc gia, những yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạch định
chính sách. Trong khi các quá trình kinh tế, xã hội lại thường xuyên vận động,
phát triển, khi chính sách được hoạch định lại, khi khoảng cách quá lớn về
11
thời gian khi hoạch định dựa vào chủ yếu hiện trạng môi trường sống cho đến lúc
tổ chức thực thi. Điều kiện trên đã bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nên giữa chính
sách công và thực tế xã hội ở giai đoạn tổ chức thực hiện chắc chắn những
khoảng cách phải lấy đầy bằng những điều chỉnh về chính sách.
1.1.2.4. Nguyên tắc thực hiện chính sách
công - Nguyên tắc vì lợi ích công cộng:
Đây được xem là nguyên tắc hàng đầu của chính sách vì nó xuất phát từ
đặc trưng cơ bản của chính sách công. Vì nhà nước đại diện cho toàn dân, nên
Đánh giá hiệu quả các chính sách công.
Nhu cầu của cộng đồng phải thể hiên qua: tính phổ biến, hợp lý và khả
năng thông tin, sự quan tâm của các nhà chính trị.
Khi công bố chính sách công của người có thẩm quyền về thủ tục dưới
12
dạng văn bản hay thông tin chính thức. Thực hiện và quản lý chính sách công là
hoạt động đưa chính sách công đến cộng đồng người dân và giám sát quá trình
thực thi chính sách công, đảm bảo đúng mục tiêu, đối tượng, định hướng, thời
gian và kinh phí thực hiện.
- Nguyên tắc tập hợp các quyết định:
Chính sách công là tập hợp các quyết định, vấn đề là cần phân biệt quá
trình làm chính sách với làm quyết định của chính quyền. Một khâu trong quá
trình làm chính sách là làm quyết định chính sách, đó là hành vi lựa chọn một
phương án trong nhiều phương án nhất định. Làm chính sách phải mất nhiều
công đoạn, thủ tục về tiến hành hoạch định. Hiếm khi có một chính sách gói gọn
trong một quyết định.
- Nguyên tắc liên đới:
Nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản khi tiến hành hoạch định chính sách
công và sau một thời gian thực thi thì các cơ quan tổ chức thực thi chính sách
tiến hành đánh giá chính sách công. Bởi vì một chính sách công thường liên
quan đến những chính sách khác về cùng vấn đề và cùng nhóm vấn đề, chúng
thường có sự liên đới giữa chính sách công trước và sau và chính sách công sau
có thể khắc phục, sửa chữa, diễn giải những nhược điểm của chính sách trước đó
để thể hiện tinh thần đổi mới. Một điều quan trọng hơn hết là khi xây dựng chính
sách công là không có sự trùng lặp hay có sự mâu thuẫn với chính sách công
trước đó.
nước mới tiến hành triển khai kế hoạch để tổ chức thực hiện. Qúa trình tuyên
truyền là quá trình rất quan trọng để vận động quần chúng tham gia thực hiện
chính sách công. Đây là một hoạt động có ý nghĩa rất lớn quan trọng đóng vai trò
chủ thể để các đối tượng thực hiện chính sách. Phổ biến, tuyên truyền chính sách
là tốt giúp cho chúng ta hiểu được quyền lợi của các đối tượng chính sách và mọi
người dân hiểu được yêu cầu, mục đích của chính sách; về tính chính sát của
chính sách trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể; và về tính bền vững của chính
sách... để mọi người phải tự giác thực hiện theo yêu cầu của nhà nước.
c. Phân công, phối hơp thực hiện chính sách công
Sau khi tuyên truyền, phổ biến là phân công, phối hợp các đơn vị, cơ quan
14
để tổ chức thực hiện chính sách công theo kế hoạch đã được phê duyệt. Chính
sách công đùa hỏi phải đảm bảo tính kha học và nó được mô tả ở nhiều khía
cạnh khác nhau, vì vậy số lượng cá nhân và tổ chức được tham gia thực thi chính
sách là rất lớn. Đây là một hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình
sáng tạo để chính sách thực hiện một cách chủ động và luôn duy trì chính sách
được ổn định, để tăng cường hiệu lực, hiệu quả của chính sách đó.
d. Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm chính sách
Chúng ta phải nhận định về giá trị để đánh giá chính sách và đúc kết để
thu được khi thực hiện một chính sách công. Đây là giai đoạn quan trọng trong
quy trình CS. Trong giai đoạn này, người ta tiến hành so sánh các kết quả của
CSC với các mục tiêu đề ra, phân tích hiệu quả KT-XH đạt được thông qua việc
thực thi CS trên thực tế.việc đánh giá CSC được tiến hành dựa vào 1 số kỹ thuật
đánh giá và các tiêu chí KT-XH nhất định. Sau khi đánh giá CS có thể phát hiện
thấy những vấn đề mới nảy sinh cần được giải quyết bằng chính sách mới.
1.2. Chính sách phát triển phong trào thể thao quần chúng
1.2.1. Khái niệm về thể dục, thể thao
Phát triển phong trào TDTT là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta và phong trào thể dục quần chúng đã phát triển mạnh mẻ trên cả nước. Từ đó
tới nay, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển phong
trào TDTT đã được ban hành và nó trở thành “một yêu cầu khách quan, là một
bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và
nâng cao sức khỏe, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, góp
phần mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ tích cực các nhiệm vụ kinh tế- xã hội, an
ninh và quốc phòng của đất nước”. [6]
Chính sách phát triển thể dục, thể thao được quy định cụ thể của luật thể
thao như sau:
-
Phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao nhằm nâng cao sức khoẻ, thể lực,
tầm vóc người Việt Nam, góp phần cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần cho
nhân dân, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về thể thao, nâng cao sự hiểu biết
giữa các quốc gia, dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp thể dục, thể
16
thao, thành lập cơ sở dịch vụ hoạt động thể thao đáp ứng nhu cầu tập luyện, vui
chơi, giải trí của nhân dân, bảo đảm để các cơ sở thể thao công lập và tư nhân
được bình đẳng trong việc hưởng ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai theo quy định
của pháp luật.
- Ưu tiên đầu tư phát triển thể dục, thể thao ở vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn, bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc.
Nội dung Chính sách phát triển thể dục, thể thaođược Hướng dẫn cụ thể
tại Điều 2, Nghị định số112/2007/NĐ-CP, ngày 26/6/2007của Chính phủ:
- Bể bơi;
- Các công trình thể dục, thể thao khác.
b)
Ủy ban nhân dân các cấp bảo đảm nguồn lực để xây dựng các công trình
thể thao công cộng tại địa phương theo quy định sau:
- Mỗi thôn, làng, ấp, bản phải có sân tập thể thao đơn giản;
- Mỗi xã, phường, thị trấn phải có ít nhất một công trình thể dục, thể thao
quy định tại điểm a khoản này;
-
Mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là
cấp huyện) phải có ít nhất hai trong các công trình thể dục, thể thao cấp huyện:
sân vận động, bể bơi, nhà tập luyện thể thao;
-
Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải có các công trình thể dục,
thể thao cấp tỉnh: sân vận động, bể bơi, nhà thi đấu thể thao.
4. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thể dục, thể thao
trong các lĩnh vực sau:
a)
Xây dựng, khai thác các công trình thể dục, thể thao công cộng;
b)
18
cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm
2020 cũng khẳng định: phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan của xã hội, là
trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân; góp phần nâng cao
chất lượng cuộc sống của nhân dân; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống
và môi trường văn hóa lành mạnh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng
quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta luôn
xác định mục tiêu đầu tư cho TDTT và cho sự phát triển của con người Việt
Nam, đẩy mạnh việc giữ gìn, tôn vinh những giá trị bản sắc dân tộc. Đây là ý
nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển TDTT về mặt toàn diện
và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Với những quan điểm đó, Đảng và Nhà nước ta đã thu hút xã hội hóa về
mọi mặt và huy động các nguồn lực khác để đầu tư xây dựng CSVC TDTT; đổi
mới phương châm quản lý, phát huy các mặt mạnh để không ngừng phát triển
nền TDTT nước nhà, đồng thời nó còn phát động các hoạt động TDTT toàn
quốc. Qua đó, vấn đề TDTT nước ta đã có những bước khởi sắc nhất định.
Những hoạt động TDTT của người cao tuổi, người khuyết tật cũng được quan
tâm hơn, thể hiện qua các hội thi được tổ chức đều đặn hằng năm. Công tác
GDTC trong nhà trường cũng có những chuyển biến tích cực cả về hình thức lẫn
nội dung.Thể thao thành tích cao đạt được nhiều kết quả, một số môn đã vươn
đến trình độ châu Á và thế giới
1.2.5. Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển
phong trào thể thao quần chúng
1.2.5.1. Quan điểm của Đảng về chính sách phát triển thể thao quần chúng Công
tác TDTT có hiệu quả tích cực trong việc nâng cao sức khoẻ của nhân dân, góp
phần làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần, xây dựng lối
sống lành mạnh, đẩy lùi tệ nạn xã hội. Đảng ta luôn coi phát triển TDTT là một