VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ VĂN NHÂN
THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TÂY TRÀ, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ VĂN NHÂN
THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TÂY TRÀ, TỈNH QUẢNG NGÃI
Ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN BÙI NAM
HÀ NỘI, năm 2019
Hồ Văn Nhân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH
SÁCH GIẢM NGHÈO SÁCH BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
THIỂU SỐ........................................................................................................... 10
1.1. Lý luận chung về chính sách dân tộc thiểu số, chính sách giảm nghèo bền
vững ở Việt Nam .................................................................................................. 10
1.2. Chính sách giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay ................. 23
1.3. Bất cập hạn chế và nguyên nhân ................................................................... 28
1.4. Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số quốc gia ................................................ 29
1.5. Kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền .......................................................... 34
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TÂY TRÀ, TỈNH QUẢNG NGÃI ..................................................... 36
2.1. Chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trên đại bàn
huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi.......................................................................... 36
2.2. Đánh giá các chủ thể chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Tây Trà,
tỉnh Quảng Ngãi ................................................................................................... 55
2.3. Đánh giá môi trường thể chế chính sách giảm nghèo ................................... 56
2.4. Đánh giá hạn chế và nguyên nhân................................................................. 57
2.5. Những kiến nghị đề xuất trong thời gian tới ................................................. 61
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN
VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ ......................................... 64
3.1. Quan điểm của Đảng bộ huyện. .................................................................... 64
3.2. Giải pháp hoàn thiện Chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân
tộc thiểu số ........................................................................................................... 68
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 77
biểu toàn quốc lần thứ IX của đảng đã nhấn mạnh coi vấn đề dân tộc và đoàn kết
1
dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng, trong đó vùng đồng
bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa là đối tượng chính của
nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo, bởi vì đa phần còn ở trình độ dân tri thấp, tập
quán sản xuất lạc hậu, thiếu thông tin nghiêm trọng về sản xuất hàng hóa trong
nền kinh tế thị trường, việc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số là
một trong những yếu tố cơ bản để thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc
ở nước ta cùng tiến lên đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ
các chương trình chính sách dân tộc, chính sách xoá đói giảm nghèo được triển
khai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các ngành Trung ương và địa phương
cùng với sự nỗ lực vươn lên của đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần quan
trọng, tạo sự chuyển biến đáng kể về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở
hạ tầng và giải quyết những vấn đề bức xúc ở vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên,
những thành tựu này mới chỉ là bước khởi đầu cho sự phát triển đất nước. Để
khắc phục những khó khăn trên cần có sự nỗ lực của toàn đảng, toàn dân và đặc
biệt là từ bản thân người nghèo tự vươn lên thoát nghèo bền vững mới góp phần
cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thực tiễn hiện nay, hiệu quả của chính sách giảm nghèo ở nước ta được
Đảng và Nhà nước phân tích, đánh giá tích cực, đầy đủ, đồng thời phải có
phương pháp phân tích, đánh giá phù hợp công tác giảm nghèo nói chung, cho
đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay
các cơ quan, đơn vị, các ngành chức năng có trách nhiệm triển khai thực hiện
Chương trình mục tiêu giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn
huyện Tây Trà vẫn chưa thực sự tiếp cận được các phương pháp để phân tích,
đánh giá chính xác về chính sách giảm nghèo đang thực thi hiện nay nhất là đánh
giá theo hướng đa chiều. Bên cạnh đó, việc tổ chức thực hiện chính sách giảm
Năm 2017, tổng số hộ dân trên địa bàn thực hiện đến ngày 31/12/2017 là
4.444 hộ, với tổng số 19.491 khẩu. Tổng số hộ nghèo 3.217 hộ, số hộ nghèo
giảm trong năm 167 hộ; tỷ lệ hộ nghèo 72,4% (giảm 4,54%); tổng số số cận
nghèo 586 hộ, tỷ lệ hộ cận nghèo 12,77%; tổng số hộ không nghèo 1.227 hộ, tỷ
lệ hộ không nghèo 27,6%.
Năm 2018, tổng số hộ dân trên địa bàn thực hiện đến ngày 31/12/2018 là
3
4.566 hộ, với tổng số 19.805 khẩu. Tổng số hộ nghèo 2.963 hộ, số hộ nghèo
giảm trong năm 245 hộ; tỷ lệ hộ nghèo 64,8% (giảm 4,54%); tổng số số cận
nghèo 586 hộ, tỷ lệ hộ cận nghèo 12,77%; tổng số hộ không nghèo 1.628 hộ, tỷ
lệ hộ không nghèo 35,6%.
Nhìn chung, công tác giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa
bàn huyện Tây Trà thực hiện có hiệu quả từ các chương trình mục tiêu quốc gia
giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số. Tập trung xây dựng cơ sở
hạ tầng thiết yếu cho sản xuất và đời sống, phát triển sản xuất, bảo đảm nhu cầu
lương thực; phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí; phát triển Y tế nâng cao
việc chăm sức khỏe cho nhân dân. Chú trọng các giải pháp tạo điều kiện và
khuyến khích hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số phấn đấu tự vươn lên
thoát nghèo bền vững. Triển khai thực hiện các mô hình giảm nghèo, hỗ trợ sinh
kế, hỗ trợ phát triển sản xuất. Quan tâm việc cho vay vốn để phát triển sản xuất,
cung cấp dịch vụ, hướng dẫn khuyến nông, khuyến lâm, nâng cao năng lực cho
người dân; chú trọng công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm; đẩy mạnh công
tác tuyên truyền và hỗ trợ cho người lao động tham gia xuất khẩu lao động.
Từ những thực tiễn đã nêu trên, để công tác giảm nghèo cho đồng bào dân
tộc thiểu số thực sự bền vững hơn bản thân chọn đề tài nghiên cứu về“ Thực thi
chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn
huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sĩ chính sách công, bản thân
nghèo của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bình Phước, từ đó
đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm giúp cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở
tỉnh Bình Phước có thể thoát nghèo bền vững.
- Nguyễn Hữu Lợi “Giảm nghèo bền vững cho người dân tộc thiểu số ở
huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam”, Tạp chí Phát triển Kinh tế xã hội (trang
30-35). Tác giả đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về giảm nghèo bền
vững, thực trạng đói nghèo ở huyện Bắc Trà My giai đoạn 2009-2013, kết quả
thực hiện một số chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số
ở huyện Bắc Trà My. Trên cơ sở đó đưa ra những định hướng và giải pháp chủ
yếu nhằm giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Bắc Trà
My, tỉnh Quảng Nam.
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên mới chỉ nghiên cứu kết quả của từng
5
chính sách giảm nghèo trong giai đoạn từ năm 2015 trở về trước. Riêng đối với
huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi, từ khi thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP của
Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm
2020 và Chương trình hành động số 16-CTr/HU ngày 31/3/2017 thực hiện Kết
luận số 31-KL/TU ngày 27/4/2016 của Tỉnh ủy về đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo bền vững ở 06 huyện miền núi của tỉnh giai đoạn 2016 2020; Nghị quyết số 04-NQ/HU ngày 25/10/2016 về việc đẩy mạnh phát triển
sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện giai đoạn 2016 - 2020; Kết luận số
107-KL/HU về việc phát động Cuộc vận động “Giảm một hộ nghèo” triển khai
thực hiện đồng bộ ở 36/36 thôn trên địa bàn huyện.
Kế hoạch số 1072a/KH-UBND ngày 16/6/2016 để triển khai thực hiện
Kết luận số 31 và Chương trình hành động số 16-CTr/HU ngày 31/3/2017 của
Ban Thường vụ Huyện ủy; Kế hoạch số 1805/UBND-KH ngày 19/8/2016 về
triển khai thực hiện Kết luận số 31-KL/TU ngày 27/6/2016 của Hội nghị Tỉnh ủy
lần thứ 3 khóa XIX về “Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu giảm
nghèo bền vững 6 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi”. Ngoài chững văn bản trên
Thực thi Chính chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc
thiểu số nước ta hiện nay đang được thực thi trên địa bàn huyện Tây Trà, tỉnh
Quãng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Các hoạt động nghiên cứu được triển khia trọng phạm vị
trên địa bàn huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi.
- Về thời gian: từ năm 2016-2018.
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu việc thực thi chính sách giảm nghèo
và giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tây
Trà, tỉnh Quảng Ngãi
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích, tổng hợp, khảo cứu tài liệu
có sẵn như các văn kiện, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước các cấp; các
báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, huyện Tây Trà, các ban, ngành Mặt
trận hội đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan tới vấn đề giảm nghèo bền vững ở
nước ta nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói chung trên địa bàn huyện Tây
7
Trà nói riêng.
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khái quát thực tiễn, suy luận logic,
diễn giải trong quá trình phân tích, đánh giá thực tiễn.
6. Ý nghĩa của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu lý luận, tác giả
nghiên cứu, bổ sung kiến thức lý thuyết về chính sách giảm nghèo bền vững ở
Việt Nam; đồng thời biết vận dụng các lý thuyết được trang bị trong suốt thời
gian học tập cũng như về quy trình phân tích chính sách công, đánh giá chính
sách công để đánh giá quá trình thực thi chính sách giảm nghèo bền vững cho
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách giảm nghèo và chính sách
giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số
Chương 2: Thực thi chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân
tộc thiểu số huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Giải pháp thực thi chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng
bào dân tộc thiểu số.
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM
NGHÈO SÁCH BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Lý luận chung về chính sách dân tộc thiểu số, chính sách giảm
nghèo bền vững ở Việt Nam
1.1.1 Khái quát chính sách dân tộc tiểu số
Trong ba năm qua, Chính phủ, đã ban hành được 41 chính sách, trong đó có
15 chính sách trực tiếp cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, 26 chính sách
chung gián tiếp cho đồng bào dân tộc thiểu số. Thống kê cho đến nay có tổng
cộng 118 chính sách, trong đó có 54 chính sách trực tiếp và 64 chính sách gián
tiếp.
Hiện nay hệ thống chính sách dân tộc thiểu số và miền núi ngày càng đồng
bộ, toàn diện, bao phủ hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Nguồn
ngân sách và huy động nguồn lực đầu tư phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền
núi ngày càng tăng. Phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi
đã đạt được kết quả quan trọng. Kết cấu hạ tầng từng bước hoàn thiện. Tỷ lệ hộ
nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số giảm mỗi năm 4% (hiện còn 28,45%). Đời
sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc được cải thiện hơn trước. Đội
ngũ cán bộ các cấp, nhất là cơ sở đã được đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng ngày càng
tốt hơn nhiệm vụ quản lý, điều hành ở địa phương. Trong thành tựu đạt được,
Nhìn chung, nghèo là một bộ phận dân cư không đủ những điều kiện như:
ăn, mặc, ở, giáo dục, quyền tham gia vào các quyết định của cộng đồng…Nghèo
thường được phản ánh dưới ba khía cạnh:
(1) Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người;
(2) Mức sống thấp dưới mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú;
(3) Không được hưởng cơ hội lựa chọn tham gia vào qúa trình phát triển
cộng đồng. Mặc dù có quan niệm khác nhau về đói nghèo, nhưng tôi đồng ý với
quan điểm của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đưa ra đây là quan niệm tôi
chọn làm đề tài luận văn. Theo đó,
* Khái niệm nghèo: Nghèo là tình trạng của một bô phận dân cư chỉ có
khả năng thỏa mãn một phần nào đó các nhu cầu cơ bản của con người và có
11
mức sống ngang bằng hoặc dưới mức sống tối thiểu của cộng đồng xét về mọi
phương diện”.[5]
Có thể chia tình trạng thành các mức khác nhau: Nghèo tuyệt đối, nghèo
tương đối và nghèo đa chiều.
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo
không có nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như: ăn, mặc, ở, đi lại….
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có
mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xem xét;
Nghèo đa chiều: Có thể tự hiểu là tình trạng con người không được đáp
ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
* Giảm nghèo là: Cách thức vận dụng các nguồn lực, vật lực của Nhà
nước, của xã hội để triển khai thực hiện các chương tình, dự án nhằm tác động
tới các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo với mục đích giúp
họ nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện khó khăn, tạo cơ hội cho họ về thu
nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người.
Thực tiễn cho thấy, mặc dù tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm (thể hiện về mặt
lượng), tuy nhiên xét về mặt chất thì nhìn chung đại bộ phận nhân dân nông
thôn, nhất là đồng bào dân tộc tiểu số vùng núi cao điều có thu nhập thấp, chỉ đạt
được chuẩn nghèo từ 5-10%, trong điều kiện vật tư trong sản xuất, hàng hóa, mặt
hàng thiết yếu đều tăng nhanh, dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt xảy ra với quy mô tầng
xuất lớn, tập trung các vùng nghèo thiệt hại cho sản xuất, tài sản và nhà ở rất lớn,
đời sống nhân dân nhất là hộ nghèo hết sức khó khăn; khả năng tự phục hồi sau
hậu qủa dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt của hộ nghèo rất hạn chế, phương thức hỗ trợ
tại chổ của cộng đồng (như qũy hỗ trợ cộng đồng…). Mặc khác, tốc độ giảm
nghèo còn chưa đồng đều giữa các khu vực, vùng khó khăn, vùng nghèo chưa đủ
điều kiện để đột phá giảm nghèo, tỷ lệ nghèo chềnh lệch rất lớn giữa các vùng
miền trên cả nước.
Nhìn chung, giảm nghèo vền vững các Nhà nhiên cứu chuyên gia kinh tế xã hội, lao động việc làm đều cho rằng hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ
nghề cũng như các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế dựa vào cộng đồng
để người nghèo có thể vươn lên thoát nghèo để làm dầu chính đáng khả năng của
mình trong điều kiện kinh tế - xã hội sẳn có.
13
Theo PGS TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng viện kinh tế Việt Nam,
không thể giúp hộ nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện …đây là cách
giảm ngèo, xóa nghèo nhanh một cách tức thời, không bền vững. Muốn xóa
nghèo, giảm nghèo bền vững, thì nhà nước phải cấp cho hộ nghèo phương thức
sản xuất mới phù hợp với điều kiện thực tế từng địa phương, hộ gia đình mà họ
không có được, bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa loại trừ các yếu tố gây rủi
ro, đặc biệt sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên
vùng có khả năng toát nghèo, hộ có khả năng thóat nghèo nhanh và bền vững.
Từ đó có thể lan tỏa đến các vùng lân cận, tác giả luận văn đang nghiên cứu làm
thế nào đó để kéo được người nghèo có khả năng tham gia và chủ động tạo ra
đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới,
trước hết là hạ tầng thiết yếu như giao thông, trường học, trạm y tế, thủy lợi nhỏ,
nước sinh hoạt; tạo điều kiện để người dân tham gia thực hiện các hoạt động của
Chương trình để tăng thu nhập thông qua tạo việc làm, từ đó nhằm phát huy hiệu
quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư, góp phần giảm rủi ro
thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, cải thiện tiếp cận thị trường...
Như vậy, các mục tiêu của chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn
2016 - 2020 được phân thành hai mục tiêu, đó là mục tiêu tổng quá và mục tiêu
cụ thể, nhưng chung quy lại đều hướng đến giảm nghèo bền vững, hạn chế tái
nghèo đối với những hộ nghèo thành công và hướng đến tỉ lệ hộ nghèo thấp nhất
theo nghị quyết mà Quốc hội đề ra. [17]
1.1.3. Tiêu chí đánh giá công tác giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
Tiêu chí xác định chuẩn nghèo:
1.1.3.1. Trên thế giới:
Chuẩn nghèo là mức sống khu dân cư để phân biệt trong xã hội: Để xác
định chuẩn nghèo thường dựa vào mức thu nhập hoặc chi tiêu của người dân, ai
thuộc diện nghèo, ai thuộc diện không nghèo. Những người được coi là nghèo
khi mức thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn mức chuẩn nghèo tối thiểu quy định.
Những người có mức thu nhập hoặc chi tiêu ở trên chuẩn nghèo này là người
không nghèo hoặc đã vượt nghèo, thoát nghèo. Chuẩn nghèo là công cụ để đo
lường và giám sát nghèo đói. Một thước đo nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá
15
tác động các chính sách của Chính phủ tới nghèo đói, cho phép đánh giá nghèo
đói theo thời gian tạo điều kiện so sánh với các nước khác và giám sát chi tiêu xã
hội theo có lợi cho người nghèo.
Chuẩn nghèo tuyệt đối: là chuẩn nghèo về mức sống được coi là tối thiểu
cần thiết cá nhân hoặc gia đình có thể tồn tại, phương pháp chung để xác định
1.1.3.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, giai đoạn trước 2015 cách đo lường và đánh giá nghèo chủ
yếu thông qua thu nhập, tức là tiếp cận dưới góc độ nghèo đơn chiều. Nếu người
có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo theo quy định được xác định thuộc diện
hộ nghèo. Song, chuẩn nghèo hiện nay ở Việt Nam được đánh giá thấp so với
các nước trên thế giới. Trên thực tế, nhiều hộ nghèo đã thoát nghèo nhưng mức
thu nhập vẫn nằm ở chuẩn cận nghèo, vì vậy tỷ lệ hộ tái nghèo cao. Hàng năm,
ước tính cứ 03 hộ thoát nghèo thì lại có một hộ trong số đó tái nghèo. [7]
Như trình bày ở trên, nếu chỉ sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường đói
nghèo là không đầy đủ. Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ
các quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập
thấp, có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền. Nhiều trường hợp
không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được với dịch vụ cơ bản về y tế,
giáo dục, thông tin. Do đó, nếu chỉ dựa trên thu nhập hay chi tiêu để xác định hộ
nghèo, người nghèo sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót các đối tượng nghèo, dẫn đến sự
thiếu công bằng trong thực thi chính sách giảm nghèo bền vững. Trong cùng một
thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, có thể là
những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sinh hoạt,
điện tháp sáng. Sử dụng một tiêu chí thu nhập (huy chi tiêu) không đủ để nắm
bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân. Đánh giá nghèo cần được tiếp
cận rộng hơn từ nhiều khía cạnh phát triển toàn diện con người.
Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia thu nhập
thấp sang các nước có thu nhập trung bình nên cách tiếp cận đánh giá nghèo đơn
chiều đã không còn phù hợp. Đã đến lúc xem xét, đánh giá nghèo từ gốc độ đa
chiều từ gốc độ vật chất, nghèo về con người, nghèo về xã hội (Nguyễn Ngọc
Sơn, 2012, Chính sách giảm nghèo ở nước ta hiện nay: Thực trạng và định
hướng hoàn thiện, Tập chí Kinh tế và Phát triển).
17
1.2. Tình trạng đi học
của trẻ em
2. Y tế
NGƯỜI THIẾU HỤT
Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên đủ 15
tuổi sinh từ 1986 trở lại không tốt nghiệp
Trung học cơ sở và hiện không đi học
Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em trong độ
tuổi đi học (5-dưới 15 tuổi) hiện không đi
học
Tiếp cận các dịch dụ Hộ gia đình có người ốm đau nhưng không
Y tế
đi khám chữa bệnh (ốm đau được xác định
18
là bệnh/chấn thương nặng đến mức là phải
nằm tại chỗ và phải có người chăm sóc tại
giường hoặc nghỉ việc/hoặc không tham gia
được các hoạt động bình thường)
2.2. Bảo hiểm Y tế
Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi
trở lên hiện tại không có bảo hiểm Y tế
Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên cố
thông tin
cận
dụng thuê bao điện thoại và internet
Hộ gia đình không có tài sản nào trong các
5.2. Tài sản phục vụ tài sản: Ti vi; radio, máy tính; và không
tiếp cận thông tin
nghe được hệ thống loa đài truyền thanh
xã/thôn
(Nguồn: Bảng chỉ số người thiếu hụt – Theo đề án đa chiều của Bộ Lao
động – Thương Binh – Xã Hội, 2015)
* Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng
cho giai đoạn 2016-2020
a) Đối với hộ nghèo
- Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
19
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng đến
1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mứ độ thiếu hụt tiếp cận các
dịnh vụ xã hội cơ bản trở lên.
- Khu vực thành thị: các hộ đáp ứng trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;