VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TRƯỜNG NHÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TRƯỜNG NHÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ
THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. THÁI THỊ TUYẾT DUNG
nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam .................................................. 44
CHƯƠNG 3. HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN
NHÂN DÂN XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI................... 54
3.1. Phương hướng xây dựng nông thôn mới của Uỷ ban nhân dân xã trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam ....................................................................................... 54
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của Uỷ
ban nhân dân xã đối với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam ................................................................................................................. 59
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND
: Ủy ban nhân dân.
HĐND
: Hội đồng nhân dân
MTQG
: Mục tiêu quốc gia
HTX
: Hợp tác xã
tôn trọng, phát huy tối đa vai trò, vị thế chủ thể của người nông dân về chính
1
trị, kinh tế và văn hóa vì sự chỉ đạo của trung ương đối với xây dựng nông
thôn mới là quan trọng nhưng sự sáng tạo của người dân, cộng đồng là quyết
định cho thành công của chương trình. Nhìn chung, trình độ học vấn của nông
dân nước ta hiện nay còn thấp, nặng về kinh nghiệm, nên cần kiên trì, lâu dài
hỗ trợ nông dân về khoa học - kỹ thuật, đưa tiến bộ khoa học vào nông
nghiệp, nông thôn.
Xuất phát từ thực tiễn: Vấn đề cốt lõi của xây dựng nông thôn mới
chính là nâng cao thu nhập, mức sống của cư dân nông thôn, tạo sự hài lòng
của người dân đối với sự quản lý, điều hành của chính quyền Nhà nước các
cấp. Song phải xác định: xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ lâu dài, không
thể nhanh chóng hoàn thành trong ngày một ngày hai, và xây dựng nông thôn
mới cũng chưa kết thúc khi các địa phương hoàn thành các tiêu chí đề ra mà
cần tiếp tục duy trì và nâng cao hơn chất lượng các tiêu chí đã đạt được.
Chính vì vậy, cần phải có những nghiên cứu lý luận, khảo sát và đánh giá
thực tiễn, tìm giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của
ủy ban nhân dân xã trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam nói riêng và cả nước nói chung nhằm mở ra triển vọng mới trên lộ trình
xây dựng môi trường sống tốt đẹp hơn cho cộng đồng.
Sau gần 8 năm triển khai, Chương trình xây dựng nông thôn mới ở cả
nước nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng đã thành công bước đầu và đạt
được một số kết quả quan trọng cả về Kinh tế - Xã hội và kinh nghiệm tổ
chức chỉ đạo của các ngành, các cấp. Tuy nhiên, xây dựng nông thôn mới là
Chương trình lớn cấp quốc gia có nội dung phong phú, toàn diện, phạm vi rất
rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp nên qua quá trình thực hiện cũng
đã bộc lộ những hạn chế bất cập cần bổ sung, sửa đổi cả về mục tiêu, nội
dung và Bộ tiêu chí đánh giá. Qua thời gian học tập, nghiên cứu ở trường
hành năm 2000...
3
Và công trình trong nước như Sách: Quản lý Nhà nước đối với ngành, lĩnh
vực của GS.TS Đinh Văn Mậu, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội,
2011;
Sách: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta của GS.TS Hoàng Ngọc Hòa, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008. Và một số bài báo về nông nghiệp đăng trên
Tạp chí QLNN số 186, số 191.
Các công trình nghiên cứu nói trên đều có những đóng góp nhất định về
mặt lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về nông thôn. Tuy nhiên, chưa có
đề tài nào tiếp cận nghiên cứu quản lý nhà nước về nông thôn mới từ thực tiễn
của Ủy ban nhân dân xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Làm rõ nội dung, bản chất; xác định mặt được, mặt chưa được, nguyên
nhân yếu kém và đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý
nhà nước (QLNN) đối với xây dựng nông thôn mới của Ủy ban nhân dân
(UBND) xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Từ đó xác định những khó khăn,
hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại cần khắc phục và đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao hơn hiệu quả quản lý nhà nước về XD NTM trên địa
bàn, hướng tới mục tiêu hoàn thành 100% số xã trong tỉnh đạt tiêu chí xã
NTM, đồng thời duy trì và nâng cao hơn các tiêu chí theo chuẩn NTM tại các
xã đã đạt chuẩn và được công nhận xã NTM.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước, nông thôn
mới và quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới.
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân
dựng nông thôn mới trong điều kiện Việt Nam.
5
6.2. Về thực tiễn
Luận văn chỉ ra mặt được, mặt chưa được và nguyên nhân yếu kém. Đồng
thời, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với xây
dựng nông thôn mới của ủy ban nhân dân xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Kết
quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho Tỉnh ủy, UBND
tỉnh Quảng Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước của ủy
ban nhân dân xã trong xây dựng nông thôn mới
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân xã đối với
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Chương 3. Hoàn thiện quản lý nhà nước của ủy ban nhân xã trong xây
dựng nông thôn mới
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Cơ sở lý luận và pháp lý về xây dựng nông thôn mới
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về xây dựng nông thôn mới
1.1.1.1. Khái niệm về xây dựng nông thôn mới
nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;
xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng
cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự
lãnh đạo của Đảng được tăng cường.
Xây dựng nông thôn mới theo chủ trương của Đảng và Nhà nước là
việc đổi mới tư duy nâng cao năng lực của người dân tạo động lực giúp họ
chủ động phát triển kinh tế, xã hội góp phần thực hiện chính sách vì nông
nghiệp, nông dân, nông thôn góp phần thay đổi cơ sở vật chất và diện mạo đời
sống, văn hóa. Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội
dung trọng tâm cần tập trung lãnh đạo chỉ đạo trong đường lối chủ trương
phát triển đất nước và của các địa phương trong giai đoạn trước mắt cũng như
lâu dài.
1.1.1.2. Đặc điểm về nông thôn mới
Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM” (Nhà xuất bản Lao
động 2010), đặc trưng của NTM thời kỳ CNH –HĐH, giai đoạn 2010-2020,
bao gồm:
Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn
được nâng cao;
Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội
hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
8
Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát
huy;
An ninh tốt, quản lý dân chủ.
Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao...
Kinh tế nông thôn là một tổng thể những nhân tố cấu thành lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông - lâm - ngư nghiệp cùng với các
ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống, các ngành tiểu thủ công nghiệp chế
thôn);
Tiêu chí 7. Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn (xã có chợ nông thôn
hoặc nơi mua bán trao đổi hàng hóa);
Tiêu chí 8. Thông tin và truyền thông (xã có điểm phục vụ bưu chính,
internet, có đài truyền thanh và hệ thống loa đến các thôn và xã có ứng dụng
công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành);
Tiêu chí 9.Nhà ở dân cư (không có nhà tạm, nhà dột nát; tỷ lệ hộ có nhà
đạt tiêu chuẩn của theo quy định).
Ba là, về kinh tế và tổ chức sản xuất gồm:
Tiêu chí 10. Thu nhập: thu nhập bình quân đầu người khu vực nông
thôn đến năm 2020 (triệu đồng/người);
Tiêu chí 11. Hộ nghèo (tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016 – 2020 theo
vùng);
Tiêu chí 12. Lao động có việc làm (tỷ lệ người làm việc trên dân số trong
độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động);
Tiêu chí 13. Hình thức tổ chức sản xuất (có tổ hợp tác, có mô hình liên kết
sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ lực đảm bảo bền vững).
Bốn là, về văn hóa - xã hội, môi trường gồm:
Tiêu chí 14. Giáo dục (đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi,
xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung
học cơ sở);
10
Tiêu chí 15. Y tế (tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế);
Tiêu chí 16. Văn hóa (có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn
làng văn hóa theo quy định của Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch);
Tiêu chí 17. Môi trường và an toàn thực phẩm(tỷ lệ hộ sử dụng nước
sạch đạt chung hơn 90%; các cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn chung về môi trường;
không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi
động phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn; thực hiện các hoạt
động nhằm hỗ trợ, thúc đẩy quá trình phát triển nông thôn. Huy động và quản
lý các nguồn vốn xây dựng nông thôn mới. Tăng cường công tác tuyên truyền
nâng cao nhận thức trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và thực hiện các chương trình kinh tế
trong phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo định hướng CNH - HĐH
kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới.
Nhà nước ban hành và thực hiện các chính sách khoa học, công nghệ và
tổ chức chuyển giao kỹ thuật cho nông dân, chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ
cấu nông nghiệp nông thôn nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông
dân và phát triển nông thôn.
Nhà nước đầu tư áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất
nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo cơ cấu thích hợp
với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội.
Quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để thực hiện xây dựng nông
thôn mới như quản lý vốn nhà nước, vốn đóng góp của nhân dân.
1.2. Quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân xã trong xây dựng
nông thôn mới
1.2.1. Khái niệm về quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới
và sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
1.2.1.1. Khái niệm về quản lý nhà nước trong xây dựng nông thôn mới
Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là một bộ phận của quản
12
lý nhà nước đối với phát triển trên các lĩnh vực nói chung. Vì vậy, để hiểu về
khái niệm quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới, tác giả cho rằng
cần tìm hiểu về khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước đối với xây
dựng nông thôn mới.
Quản lý nhà nước là việc Nhà nước và người đứng đầu cơ quan quản lý
chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản
chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường. chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng
khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong
nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ.
Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông
nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần
kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ. Kinh tế hộ, kinh tế trang trại,
HTX còn nhiều yếu kém. Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc
làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào
tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao.
Do đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét
văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang
phục…); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát. Hiện nay,
KT-XH khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch.
Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, cần
3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật. Qua việc XD NTM sẽ triển
khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH.
Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp, không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó.
Từ những lý do trên, Đảng và Nhà nước ta xác định cần phải chỉ đạo
thực hiện Chương trình XD NTM để tạo bước chuyển biến căn bản, toàn diện
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
14
1.2.2. Vai trò của UBND xã trong quản lý nhà nước đối với xây
dựng nông thôn mới
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị
Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình
MTQG về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 của Chính phủ là
luôn góp phần vào sự phát triển ổn định, giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế,
bảo đảm việc làm và thu nhập cho đông đảo lao động nông thôn. Việc đảm
bảo sự phát triển hài hòa cân đối của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc
dân đòi hỏi phải xác định chiến lược phát triển của ngành phù hợp với chiến
lược phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Hơn nửa, các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải
quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước. Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngoài ra, nông nghiệp còn liên quan mật thiết đến sức mua của dân cư
và sự phát triển thị trường trong nước, bởi với 50% lực lượng lao động cả
nước đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và gần 70% dân số sống ở
nông thôn, nên mức thu nhập trong nông nghiệp sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến
sức cầu của thị trường nội địa và tiềm năng đầu tư dài hạn.
Hiện nay, trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra trên toàn cầu,
tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm trở thành những thách thức trong
chương trình nghị sự của nhiều diễn đàn quốc tế, khiến nhiều nước trên thế
giới phải nhìn lại tầm quan trọng của phát triển nông nghiệp ở quốc gia mình.
Hai là, xây dựng nông thôn mới là chủ trương có tầm chiến lược đặc
biệt quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở và lực lượng bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền
vững, ổn định chính trị, giữ gìn an ninh, trật tự, phát huy bản sắc văn hoá dân
16
tộc và bảo vệ môi trường sinh thái ở nông thôn. Thiết nghĩ, trong chỉ đạo, tổ
chức thực hiện cần cân nhắc kỹ càng, xác định bước đi phù hợp với thực tiễn
của từng địa phương, cơ sở, khắc phục tính hình thức, chạy theo phong trào,
ngăn ngừa và hạn chế những chi phí chưa thật sự cần thiết, tránh lãng phí, làm
được như vậy thì chủ trương của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông dân,
triển nông thôn mới
Việc xây dựng đồng bộ và ban hành hệ thống thể chế tạo môi trường
pháp lý cho quá trình xây dựng nông thôn mới. Tổ chức, quản lý các hoạt
động phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn; thực hiện các hoạt
động nhằm hỗ trợ, thúc đẩy quá trình phát triển nông thôn. Huy động và quản
lý các nguồn vốn xây dựng nông thôn mới. Tăng cường công tác tuyên truyền
nâng cao nhận thức trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và thực hiện các chương trình kinh tế
trong phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo định hướng CNH - HĐH
kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới.
Nhà nước ban hành và thực hiện các chính sách khoa học, công nghệ và
tổ chức chuyển giao kỹ thuật cho nông dân, chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ
cấu nông nghiệp nông thôn nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông
dân và phát triển nông thôn.
Nhà nước đầu tư áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất
nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo cơ cấu thích hợp
với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội.
Quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để thực hiện xây dựng nông
thôn mới như quản lý vốn nhà nước, vốn đóng góp của nhân dân.
1.2.3.2. Tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước
đối với xây dựng nông thôn mới
a) Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới.
Khi đề cập đến hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn
18
mới, một trong những nhân tố quan trọng có tính chất quyết định là vấn đề tổ
chức bộ máy quản lý xây dựng nông thôn mới. Đó là một chỉnh thể gồm các
bộ phận có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau được bố trí thành từng
cấp, từng khâu để thực hiện chức năng quản lý theo mục tiêu đã xác định. Bộ
Ban quản lý xã.
+ Tổ chức xây dựng các công trình hạ tầng do Ban quản lý xã giao nằm
trên địa bàn thôn (đường giao thông, đường điện liên xóm, liên gia; xây dựng
trường mầm non, nhà văn hóa thôn...)
Các Ban cần phân công việc cụ thể cho trưởng, phó và từng thành viên
phụ trách; đồng thời phải có cơ chế giám sát chặt chẽ hoạt động của các Ban
nhằm đảm bảo chất lượng cao nhất khi thực hiện kế hoạch xây dựng xã nông
thôn mới, không để cho tham nhũng có đất sinh sôi, phát triển.
Ban Chỉ đạo và Ban Quản lý phải thường xuyên trao đổi, rút kinh
nghiệm cùng nhau, phải lường trước mọi khó khăn vướng mắc có thể xảy ra
trong quá trình thực hiện, đồng thời phải cùng nhau dự kiến những giải pháp
sẽ áp dụng nếu chúng xảy ra.
Ở địa phương, UBND xã trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của
mình tổ chức đội ngũ quản lý nhà nước, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về
xây dựng nông thôn mới; ban hành hướng dẫn chính sách phát triển nông thôn
tại địa phương; áp dụng các biện pháp cần thiết để duy trì an ninh, ổn định xã
hội và vệ sinh môi trường tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện các
tiêu chí nông thôn mới.
b) Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn
mới.
Con người chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống quản lý nhà nước,
quyết định hiệu quả của hoạt động này. Đó là đội ngũ cán bộ chuyên môn, cán
bộ quản lý nhà nước - những người trực tiếp điều hành các hoạt động xây
20