Chính sách phát triển nhân lực ngành thanh tra từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN QUANG TRUNG

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NHÂN LỰC NGÀNH THANH TRA
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành
Mã số

: Chính sách công
: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. HỒ SỸ SƠN

HÀ NỘI, năm 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Số liệu trong luận văn hoàn toàn dựa theo số liệu
thu thập và điều tra thực tế tại địa phương. Các thông tin trích dẫn và số liệu
sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn tài liệu tham khảo.
Tác giả luận văn

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CB, CC

: Cán bộ, công chức

HĐND

: Hội đồng nhân dân

NXB

: Nhà xuất bản

TW

: Trung ương

TCCB

: Tổ chức cán bộ

TTCP

: Thanh tra chính phủ

TTV

: Thanh tra viên

TTVC


38

Số liệu kết quả thanh tra hành chính của các cơ quan
2.3

thanh tra nhà nước tại tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2013

39

– 2016
2.4

2.5
2.6
2.7

Tổng hợp số liệu về tỷ lệ giải quyết khiếu nại giai
đoạn 2013 - 2016
Thống kê số liệu kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo
giai đoạn 2013 – 2016
Số liệu công tác phòng, chống tham nhũng
Kết quả đánh giá nhân lực ngành thanh tra tỉnh Quảng
Nam, giai đoạn 2013 - 2016

40

40
41
48


1


làm công tác thanh tra là một yêu cầu quan trọng, tuy nhiên điều quan trọng hơn là
phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thanh tra. Lựa chọn, bố trí người làm công
tác thanh tra đáp ứng được các yêu cầu về phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm là yêu
cầu tiên quyết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra.
Cùng với quá trình thay đổi cơ cấu tổ chức cũng như tên gọi từ ngày thành lập
đến nay thì công tác xây dựng đội ngũ nhân lực ngành thanh tra đã có những
chuyển biến quan trọng về nhận thức, quan điểm tư tưởng, được thể hiện trong cơ
chế, chính sách, pháp luật từ khâu tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo và quản lý đã từng
bước đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước hiện nay.
Về chất lượng, phần lớn đội ngũ nhân lực hiện đang công tác đã được rèn
luyện, thử thách qua quá trình đổi mới, xây dựng đất nước có bản lĩnh chính trị
vững vàng, trung thành với sự nghiệp cách mạng. Còn đa phần những cán bộ trẻ
được đào tạo bài bản về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và có một khoảng thời
gian hoạt động thực tiễn nên năng lực của đội ngũ nhân lực từng bước được nâng
cao về mọi mặt, góp phần tích cực vào thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, cũng như đổi mới của đất nước trong giai đoạn vừa qua.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, đội ngũ nhân lực thanh tra còn
những tồn tại, hạn chế: Chất lượng đội ngũ nhân lực thanh tra chưa đồng đều, trình
độ năng lực thực tế chưa tương xứng với văn bằng. Số nhân lực đào tạo mới có đủ
trình độ chuyên môn nhưng lại thiếu kinh nghiệm và ứng xử trong lĩnh vực thanh
tra. Trình độ và năng lực của đội ngũ nhân lực thanh tra chưa ngang tầm với yêu
cầu nhiệm vụ, còn bất cập về nhiều mặt như tri thức và năng lực thực thi nhiệm vụ
cũng như khả năng vận dụng khoa học công nghệ hiện đại trong công tác còn rất
hạn chế. Bên cạnh đó, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật của một bộ phận
nhân lực còn yếu, phong cách làm việc chậm đổi mới; tinh thần phục vụ nhân dân

đời, phát triển về tổ chức và những hoạt động, đóng góp chủ yếu của ngành thanh
tra qua các giai đoạn từ 1945 đến 2005.
- Giáo trình thanh tra và giải quyết khiếu nại hành chính: Đào tạo đại học
Hành chính: Lê Thị Hương (ch.b), Nguyễn Thị Anh Thư, Phan Thị Thanh Thuỷ –
NXB. Khoa học và Kỹ thuật, 2011. Sách trình bày hệ thống các quy định pháp luật
Việt Nam về thanh tra, hệ thống thanh tra, hoạt động thanh tra và giải quyết khiếu

3


nại hành chính, đồng thời kết hợp với việc khảo sát, tổng kết thực tiễn hoạt động
thanh tra và giải quyết khiếu nại hành chính.
- Một số văn bản pháp luật về công tác thanh tra do Lê Đạo chịu trách nhiệm
xuất bảng theo giấy phép xuất bảng số 42/GP-STTTT do Sở Thông tin truyền thông
tỉnh Quảng Nam cấp ngày 25/5/2009. Sách gồm các văn bản pháp luật về thanh tra;
khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng; công tác tổ chức cán bộ; chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan thanh tra; tài chính, trang
phục cho nhân lực ngành thanh tra.
- Nghiệp vụ công tác thanh tra: Chương trình cơ bản: Trần Đức Lượng,
Nguyễn Văn Liêm, Ngô Đăng Quynh...; Trần Hậu Khiêm (ch.b). NXB. Giao thông
Vận tải, 2007. Sách trình bày những vấn đề chung về thanh tra và khiếu nại, tố cáo
cùng một số kiến thức bổ trợ như vận dụng tâm lí học vào hoạt động thanh tra và
các vấn đề cơ bản về điều tra hình sự.
- Luận Văn Thạc sỹ Quản lý công “Chất lượng Thanh tra viên ở tỉnh Quảng
Nam” của Đặng Thị Xuân Lệnh đã nêu những vấn đề lý luận chung và phân tích
thực trạng chất lượng Thanh tra viên ở tỉnh Quảng Nam; từ đó đề ra các mục tiêu,
quan điểm, đồng thời đưa ra các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng Thanh tra
viên ở tỉnh Quảng Nam như nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy
đảng, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh Quảng Nam đối với công tác thanh tra và
việc nâng cao chất lượng thanh tra viên; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện

- Hệ thống hóa, phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về chính sách phát triển
nhân lực ngành thanh tra như: khái niệm, đặc điểm và vai trò của nhân lực ngành
thanh tra; mục tiêu, chủ thể, giải pháp và công cụ, những yếu tố xã hội tác động đến
chính sách phát triển nhân lực ngành thanh tra tỉnh Quảng Nam.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng chính sách phát triển nhân lực ngành thanh tra
tại tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất quan điểm, mục tiêu, định hướng và các giải pháp hoàn thiện chính
sách phát triển nhân lực ngành thanh tra tại tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là Chính sách phát triển nhân lực ngành
thanh tra ở tỉnh Quảng Nam.

5


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Nam.
- Về thời gian: Khảo sát thực trạng chính sách phát triển nhân lực ngành
Thanh tra giai đoạn 2013 - 2016 tại tỉnh Quảng Nam.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn lấy phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật
của Nhà nước về công tác cán bộ, về Nhà nước và pháp luật về thanh tra làm
phương pháp luận nghiên cứu.
Luận văn còn vận dụng phương pháp luận khoa học chính sách công về đánh
giá chính sách phát triển nhân lực, phân tích đánh giá chính sách phát triển nhân lực
ngành thanh tra, đánh giá tác động và các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách phát
triển nhân lực ngành thanh tra.

chính sách phát triển nhân lực ngành thanh tra tại tỉnh Quảng Nam.

7


CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC
NGÀNH THANH TRA
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nhân lực ngành thanh tra
1.1.1. Khái niệm nhân lực
Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con
người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể
con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá
trình lao động – con người có sức lao động [9,tr.12].
Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người
được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao
động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của hoạt động
của các cơ quan, đơn vị. Nhân lực của cơ quan, đơn vị bao gồm tất cả những người
lao động làm việc trong cơ quan, đơn vị.
1.1.2. Khái niệm ngành thanh tra
Ở Việt Nam, từ khi Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra
đặc biệt, đánh dấu sự ra đời của ngành thanh tra. Tuy nhiên, khi đề cập đến khái
niệm ngành thanh tra Việt Nam, có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau, thậm chí là
trái ngược nhau. Có quan điểm cho rằng, thanh tra là một ngành với đầy đủ những
đặc trưng cơ bản của nó với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tôn chỉ, mục đích rõ
ràng và ngành thanh tra có tính độc lập tương đối trong hoạt động của mình; nhưng
có quan điểm cho rằng thanh tra không phải là một ngành, mà thanh tra chỉ là một
hoạt động phục vụ công tác quản lý nhà nước và công tác thanh tra gắn liền với
công tác quản lý nhà nước, vì vậy thanh tra không có tính độc lập tương đối và
không được coi là một ngành.

chuyên ngành” là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo
ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật
chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành,
lĩnh vực đó [30, tr.2]
Nhân lực Thanh tra xác định rõ vị trí, chức danh các ngạch công chức. Luật
Thanh tra năm 2010, tại Điều 33 quy định ngạch Thanh tra viên có các ngạch như

9


sau: Thanh tra viên, Thanh tra viên chính, Thanh tra viên cao cấp.
Theo Điều 32, Luật Thanh tra 2010 quy định tiêu chuẩn chung của Thanh tra
viên: Thanh tra viên là công chức chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan thanh tra nhà
nước, thực hiện quyết định thanh tra và các nhiệm vụ khác của cơ quan thanh tra
nhà nước. Thanh tra viên được giao chủ trì thanh tra các vụ việc có quy mô và tính
chất phức tạp trung bình; khi tiến hành thanh tra phải tuân thủ pháp luật, chịu
trách nhiệm trước pháp luật và Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp về nhiệm vụ
được giao. Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam; có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực,
công minh, khách quan; tốt nghiệp đại học, có kiến thức quản lý nhà nước và am
hiểu pháp luật; đối với Thanh tra viên chuyên ngành còn phải có kiến thức chuyên
môn về chuyên ngành đó; có văn bằng hoặc chứng chỉ về nghiệp vụ thanh tra; có ít
nhất 02 năm làm công tác thanh tra (không kể thời gian tập sự), trừ trường hợp là
công chức, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an
nhân dân công tác ở cơ quan, tổ chức, đơn vị khác từ 05 năm trở lên chuyển sang
cơ quan thanh tra nhà nước [30, tr.20].
Thanh tra viên chính là công chức chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan thanh
tra nhà nước, thực hiện quyết định thanh tra và các nhiệm vụ khác của cơ quan
thanh tra nhà nước. Thanh tra viên chính được giao chủ trì hoặc tham gia thanh tra
các vụ việc có quy mô rộng, tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực; khi

tra nhà nước.
Thanh tra viên cao cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan
Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, Thanh tra tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương, thực hiện quyết định thanh tra và các nhiệm vụ khác của cơ
quan thanh tra nhà nước. Thanh tra viên cao cấp được giao trực tiếp chủ trì thanh
tra các vụ việc có quy mô lớn, tình tiết rất phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh
vực; khi tiến hành thanh tra phải tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp
luật và Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp về nhiệm vụ được giao [30, tr.23].
Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ thanh tra được giao, Thanh tra viên cao
cấp còn phải nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng
thời kỳ, từng ngành, từng lĩnh vực; Am hiểu sâu tình hình kinh tế - xã hội trong

11


nước và trên thế giới; nắm vững các nguyên tắc, chế độ, chính sách, quy định của
Nhà nước trong quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; có kiến thức
sâu, rộng về chuyên môn nhiều ngành, lĩnh vực; có khả năng đảm nhận trách nhiệm
trưởng đoàn, phó trưởng đoàn thanh tra các vụ việc có quy mô lớn, tình tiết rất phức
tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực; có khả năng tổ chức, điều hành thanh tra
viên chính thực hiện nhiệm vụ thanh tra được giao; chủ trì việc tổng kết, nghiên cứu
lý luận về công tác thanh tra; tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về thanh tra,
giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tham gia xây dựng
chương trình, biên soạn tài liệu chuyên môn nghiệp vụ để đào tạo, bồi dưỡng cho
thanh tra viên, thanh tra viên chính, cán bộ quản lý của các tổ chức thanh tra; có
năng lực phân tích, khái quát, tổng hợp những vấn đề thuộc phạm vi quản lý của
nhiều ngành, nhiều lĩnh vực; có bằng tốt nghiệp đại học trở lên phù hợp với chuyên
môn thuộc ngành, lĩnh vực đang công tác; có văn bằng hoặc chứng chỉ bồi dưỡng
nghiệp vụ ngạch thanh tra viên cao cấp; có văn bằng hoặc chứng chỉ bồi dưỡng

Thứ nhất, thanh tra viên là công chức, sỹ quan Quân đội nhân dân, sỹ quan
Công an nhân dân có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật mới được
bổ nhiệm thanh tra viên.
Thứ hai, thanh tra viên chỉ có trong các cơ quan thanh tra nhà nước các cấp
(các cơ quan tổ chức khác không có thanh tra viên); làm nhiệm vụ thanh tra và các
nhiệm vụ khác của cơ quan thanh tra do thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước phân
công (tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng…)
Thứ ba, thanh tra viên được pháp luật trao cho một số thẩm quyền nhất định
khi tham gia đoàn thanh tra, tổ công tác hay thanh tra độc lập (thanh tra chuyên
ngành).
Thứ tư, thanh tra viên là người phải gương mẫu, khách quan, công tâm, trung
thực.
Đặc điểm này xuất phát từ mục đích thanh tra nhằm xem xét, đánh giá việc
thực hiện các quy định của pháp luật trong công tác quản lý, kịp thời phát hiện,
chấn chỉnh những sai lệch trong quản lý và xuất phát từ chính bản thân thanh tra
viên được pháp luật trao cho những quyền hạn nhất định như đã nêu ở phần trên.
Khi xem xét, đánh giá người khác và nhất là hướng dẫn cho họ thực hiện chính
sách, pháp luật, các quy định của tổ chức mà bản thân người thanh tra lại là người

13


vi phạm hoặc có vấn đề về tư cách đạo đức thì tính thuyết phục không cao, công tác
quản lý không thể đạt được hiệu lực, hiệu quả.
Thứ năm, thanh tra viên vừa là đối tượng điều chỉnh của pháp luật về cán bộ,
công chức vừa được điều chỉnh bởi pháp luật về thanh tra; được hưởng chế độ phụ
cấp trách nhiệm theo nghề, phụ cấp thâm niên, chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ,
công chức làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh và có trang phục riêng.
Ngoài lực lượng thanh tra viên có các đặc điểm trên, nhân lực ngành thanh tra

chính nhà nước nắm được những tâm tư, nguyện vọng, những thông tin phản hồi,
các kiến nghị, góp ý của nhân dân từ thực tiễn trong việc thực hiện chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, từ đó kịp thời chấn chỉnh, bổ sung hoặc
hủy bỏ các nội dung không phù hợp.
Thông qua tiếp công dân, việc giải quyết hoạt động khiếu nại, tố cáo của công
dân liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính được tiến hành nhanh
chóng, rõ ràng hơn khi có sự tiếp xúc trực tiếp, tìm hiểu thông tin hai chiều giữa
người dân và cán bộ tiếp dân, từ đó, sẽ hạn chế việc khiếu nại, tố cáo tràn lan, vượt
cấp, kéo dài cũng như nhiều bất cập khác trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo: thanh tra viên hay chuyên viên
là lực lượng nòng cốt, chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiếp
công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; trực tiếp tham mưu thụ lý đơn (nếu đơn
thuộc thẩm quyền giải quyết), tổ chức xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, báo
cáo kết quả xác minh, xây dựng dự thảo kết luận nội dung tố cáo và quyết định
giải quyết khiếu nại khi được giao.
- Trong công tác phòng, chống tham nhũng: Thông qua những nhiệm vụ và
quyền hạn do pháp luật quy định, các cơ quan thanh tra nhà nước nói chung, lực
lượng thanh tra viên và chuyên viên nói riêng là công cụ quan trọng và hữu hiệu
trong hoạt động phòng, chống tham nhũng. Bởi vì họ là người trực tiếp thụ lý hồ sơ
vụ việc; bằng năng lực, kỹ năng kết hợp với các biện pháp nghiệp vụ thanh tra, họ
có vai trò rất lớn trong khâu phát hiện các hành vi tham nhũng, đánh giá việc thực
hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của đối tượng thanh tra thuộc nội dung thanh
tra; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan,
tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có); các biện pháp xử lý theo thẩm quyền

15


đã được áp dụng; tham mưu kết luận về nội dung thanh tra, kiến nghị các biện pháp
xử lý đối với các hành vi tham nhũng (nếu có) của đối tượng thanh tra.


Khái niệm chính sách công là một đối tượng nghiên cứu của khoa học chính
sách công. Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách
công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi. Dưới đây,
Tác giả muốn dẫn chứng một số định nghĩa chính sách công khá tiêu biểu của các
học giả nước ngoài và trong nước để cùng tham khảo trước khi đi đến một định
nghĩa thích hợp.
William Jenkin cho rằng: "Chính sách công là một tập hợp các quyết định có
liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với
việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó" [47,
tr.75]. Định nghĩa này nhấn mạnh các mặt sau:
- Chính sách công không phải là một quyết định đơn lẻ nào đó, mà là một tập
hợp các quyết định khác nhau có liên quan với nhau trong một khoảng thời gian dài.
- Chính sách công do các nhà chính trị trong bộ máy nhà nước ban hành. Nói
cách khác, các cơ quan nhà nước là chủ thể ban hành chính sách công.
- Chính sách công nhằm vào những mục tiêu nhất định theo mong muốn của
Nhà nước và bao gồm các giải pháp để đạt được mục tiêu đã lựa chọn.
B. Guy Peter đưa ra định nghĩa: "chính sách công là toàn bộ các hoạt động
của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công
dân" [45, tr.65]. Định nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi chính
sách công là Nhà nước, đồng thời nhấn mạnh tác động của chính sách công đến đời
sống của người dân với tư cách là một cộng đồng.
Tuy có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách công như đã nêu
trên, song điều đó không có nghĩa là chính sách công mang những bản chất khác
nhau. Thực ra, tùy theo quan niệm của mỗi tác giả mà các định nghĩa đưa ra nhấn
mạnh vào đặc trưng này hay đặc trưng khác của chính sách công. Những đặc trưng
này phản ánh chính sách công từ các góc độ khác nhau, song chúng đều hàm chứa
những nét đặc thù thể hiện bản chất của chính sách công.
Trên cơ sở nghiên cứu về chính sách công, tác giả thấy có những đặc trưng cơ
bản nhất như sau:

trương của Nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nếu không có việc
thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương đó
chỉ là những khẩu hiệu mà thôi.

18


Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời
sống kinh tế – xã hội theo những mục tiêu xác định. Chính sách công là một quá
trình hành động nhằm giải quyết một vấn đề nhất định. Khác với các loại công cụ
quản lý khác như chiến lược, kế hoạch của Nhà nước là những chương trình hành
động tổng quát bao quát một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế – xã hội, đặc điểm của
chính sách công là chúng được đề ra và được thực hiện nhằm giải quyết một hoặc
một số vấn đề liên quan lẫn nhau đang đặt ra trong đời sống xã hội. Chính sách
công chỉ xuất hiện trước khi đó đã tồn tại hoặc có nguy cơ chắc chắn xuất hiện một
vấn đề cần giải quyết. Vấn đề chính sách được hiểu là một mâu thuẫn hoặc một nhu
cầu thay đổi hiện trạng xuất hiện trong đời sống kinh tế – xã hội đòi hỏi Nhà nước
sử dụng quyền lực công để giải quyết. Có thể nói, vấn đề chính sách là hạt nhân
xuyên suốt toàn bộ quy tŕnh chính sách (bao gồm các giai đoạn hoạch định, thực thi
và đánh giá chính sách). Việc giải quyết những vấn đề nói trên nhằm vào những
mục tiêu mà Nhà nước mong muốn đạt được.
Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau. Trước
hết, chúng ta không nên đồng nhất khái niệm quyết định ở đây với các quyết định
hành chính, càng không thể coi đó chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật của
Nhà nước. Khái niệm quyết định ở đây có nghĩa rộng hơn, nó có thể được coi như
một sự lựa chọn hành động của Nhà nước. Các quyết định này có thể bao gồm cả
luật, các quyết định dưới luật, thậm chí cả những tư tưởng của các nhà lãnh đạo thể
hiện trong lời nói và hành động của họ. Song, chính sách không đồng nghĩa với một
đạo luật riêng biệt hay một văn bản nào đó. Chính sách là một chuỗi hay một loạt
các quyết định cùng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay

vững vàng; trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ cao; có đạo đức nghề nghiệp,
phẩm chất và năng lực tốt; có cơ cấu phù hợp với mục tiêu và phương hướng phát
triển của ngành Thanh tra, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Chú
trọng xây dựng công chức lãnh đạo, quản lý các đơn vị và công chức thanh tra có
trình độ chuyên môn cao, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các
thế hệ.
1.2.2.2. Mục tiêu cụ thể
Đến năm 2015: Tổng số lao động toàn ngành đạt trên 24.000 người, trong đó
60% có trình độ đại học, trên 17% có trình độ trên đại học; 70% được bổ nhiệm vào

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status