Thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
\
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ VĂN THÀNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO TỪ THỰC TIỄN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành

: Chính sách công

Mã số

: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH HẢO

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học
độc lập của tôi.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO ............................................... 8
1.1. Khái niệm và những vấn đề liên quan đến thực hiện chính sách phát triển nhân
lực chất lượng cao ............................................................................................................... 8
1.2. Thiết kế chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao ........................................ 11
1.3. Cách tiếp cận và phương pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực
chất lượng cao .................................................................................................................... 16
1.4. Trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách ............................................... 20
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất
lượng cao ............................................................................................................................ 23
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN
VÀ MÔI TRƢỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ........................................... 29
2.1. Chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay ..................... 29
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình nhân lực chất lượng cao của Trường Đại
học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh .............................................. 37
2.3. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao ở Trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh ...................................... 52
2.4. Đánh giá chung về việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất
lượng cao ở Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh ... 63
Chƣơng 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÀI
NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ....................... 67
3.1. Quan điểm và định hướng tăng cường thực hiện chính sách phát triển nhân lực
chất lượng cao tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí
Minh .................................................................................................................................... 67
3.2. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển NLCLC .................... 68


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Bảng thống kê nhân lực của Trường Đại học Tài nguyên và Môi
trường thành phố Hồ Chí Minh. ................................................................................ 42
Bảng 2: Bảng xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 20112015. .......................................................................................................................... 56


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định: con người
luôn ở vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, trong đó
lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và
bền vững. Tri thức con người là một nguồn lực không bao giờ cạn và được tái sinh
với chất lượng ngày càng cao hơn. Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên khi những
nhà quản trị nhân lực hàng đầu thế giới cho rằng: “Con người là tài sản quan trọng
nhất của chúng ta” (Susan R.Meisinger) và “Lợi thế cạnh tranh bền vững duy nhất
trong tương lai chính là nhân lực” (Kathleen Barclau - Thomas Thivierge). Điều này
xuất phát từ vai trò vô cùng quan trọng của nhân lực (NL), đặc biệt là nhân lực chất
lượng cao (NLCLC) đối với quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của tổ chức.
Nhân lực chất lượng cao được xem là động lực phát triển của địa phương, là
nhân tố đáp ứng yêu cầu cải cách công vụ, công chức cũng như việc tinh giản bộ
máy hành chính. Bởi vậy trong tất cả các nỗ lực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã
hội thì việc phát triển nhân lực chất lượng cao nói chung và phát triển NLCLC cho
từng địa phương nói riêng là vấn đề có tầm quan trọng chiến lược. Trường Đại học
Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh là trường đại học công lập trực
thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, được thành lập trên cơ sở nâng cấp Trường
Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số
1430/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ. Với bề dày lịch
sử hơn 40 năm xây dựng và phát triển từ trường Cán bộ Khí tượng Thủy văn TP.

cũng như lâu dài. Nguyên nhân của những hạn chế này là do ở cấp trường còn lúng
túng chưa thực sự quản lý và sử dụng hết trẻ như một nhân lực quan trọng, chưa tìm
ra cơ chế khai thác phối hợp. Vai trò lãnh đạo của Đảng ủy các cấp chưa đều và
thường xuyên; một số đơn vị trong trường chưa ban hành kế hoạch hoặc chương
trình hành động cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của mình để triển khai thực
hiện chính sách thu hút, phát triển NLCLC cho nhà trường Việc khắc phục những
yếu kém trong quản lý về đội ngũ nhân lực chất lượng cao sẽ tạo ra tiền đề phát
triển NLCLC vào các cơ quan thuộc các lĩnh vực tài nguyên và môi trường các tỉnh
phía Nam.
Ba là, một số đơn vị doanh nghiệp, cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh
vực tài nguyên và môi trường đang thiếu trầm trọng NLCLC. Tốc độ lão hóa của
đội ngũ này rất nhanh làm thiếu hụt những người có trình độ khoa học cơ bản cao,
hiểu biết sâu và có hệ thống về thực tiễn, kinh nghiệm. Do đó, sự chuyển tiếp giữa

2


hai thế hệ già và trẻ chưa thật sự đảm bảo. Trước mắt và lâu dài Trường vẫn còn
thiếu hụt về đội ngũ kế thừa - nhân lực chất lượng cao. Điều đó đòi hỏi cần thiết
phải tìm kiếm những giải pháp phù hợp nhằm phát triển đội ngũ NLCLC đảm bảo
cho sự phát triển bền vững.
Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu những giải pháp thích
hợp để tạo đà phát triển NLCLC trong Trường nhằm điều chỉnh chảy máu chất xám,
đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách phát triển NLCLC trong những
năm tiếp theo.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện chính sách phát
triển nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Trường Đại học Tài nguyên và Môi
trường thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn thạc sỹ chính sách công, là một yêu
cầu khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

phát triển nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Trường Đại học Tài nguyên và
Môi trường thành phố Hồ Chí Minh” cần được quan tâm và nghiên cứu nhằm đáp
ứng nhu cầu phát triển của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ
Chí Minh trong thời gian tới.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao,
thực trạng thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại Trường Đại
học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh
Làm rõ lý luận cơ bản về phát triển NLCLC và thực tiễn phát triển NLCLC
vào các đơn vị, tổ chức tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ
Chí Minh. Trên cơ sở đó kiến nghị một số giải pháp nhằm góp phần thực hiện có
hiệu quả chính sách phát triển, NLCLC và nhu cầu phát triển của Trường Đại học
Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020.
Về mặt lý luận: hệ thống hóa một số vấn đề mang tính chất lý luận liên quan
đến NLCLC và phát triển NLCLC tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường
thành phố Hồ Chí Minh.
Về mặt thực tiễn: Phân tích đánh giá tình hình thực hiện chính sách phát triển
NLCLC trong Trường, thực trạng thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ,
công chức tại các đơn vị này sau khi thực hiện chính sách.

4


Phân tích những mặt đạt được, hạn chế, nguyên nhân và một số bài học kinh
nghiệm để đánh giá đúng thực trạng thực hiện chính sách phát triển NLCLC tại
Trường.
Đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hiệu quả phát triển, duy trì và
sử dụng NLCLC, làm cơ sở để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách phát triển
NLCLC của Trường.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

phủ về việc phê duyệt Chiến lược Phát triển Nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 –
2020;
- Thông báo số 79/TB-VPCP ngày 22 tháng 3 năm 2010 của Văn phòng Chính
phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân tại buổi làm
việc với Bộ Tài nguyên và Môi trường về công tác đào tạo nhân lực cho Ngành Tài
nguyên và Môi trường;
- Quyết định số 2476 /QĐ-BTNMT ngày 30 tháng 12 năm 2011 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực
ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn 2012 – 2020;
- Văn bản thông báo kết luận buổi làm việc của Thứ trưởng Bộ giáo dục và
Đào tạo Bùi Văn Ga và Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai
về công tác đào tạo của các cơ sở đào tạo thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi trường
ngày 18 tháng 01 năm 2013.
- Quyết định số 2476/QĐ-BTNMT ngày 30 tháng 12 năm 2011: Quy hoạch
phát triển nhân lực ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn 2012 - 2020;
Sơ cấp: sử dụng số liệu thông tin tự thu thập qua việc điều tra bảng hỏi, xử
lý và tổng hợp về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại Trường Đại học
Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Nhận thức sâu sắc vai trò của NLCLC từ đó đặt ra vấn đề tại
sao phải xây dựng chính sách phát triển NLCLC, vận dụng các lý thuyết về chính
sách công làm luận cứ cho việc hoàn thiện chính sách.
Về mặt thực tiễn: Thông qua việc đánh giá việc thực hiện chính sách phát
triển NLCLC và thực trạng đội ngũ nhân lực tại các cơ quan này sau khi thực hiện
chính sách phát triển tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ
Chí Minh, từ đó tìm kiếm các giải pháp phù hợp với đường lối chính sách của Đảng
và Nhà nước, phù hợp với tình hình phát triển của Ngành Tài nguyên và Môi trường
nhằm mục đích xây dựng một chính sách nâng cao hiệu quả phát triển NLCLC tại
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020


toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới.
Dưới góc độ nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau, cho đến nay có rất nhiều
quan điểm và những định nghĩa khác nhau về nhân lực. Nhưng tựu chung lại có thể
hiểu NL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thông qua những khả năng về
thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động. NL là yếu tố cấu thành lực lượng sản
xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia. Điều
này, nhấn mạnh tới khả năng của lực lượng lao động - yếu tố quyết định nhất đến
chất lượng NL.
Theo nghĩa rộng: NL là tổng thể các tiềm năng lao động của con người trong
một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương trong một thể thống nhất hữu cơ
năng lực xã hội (thể lực, trí lực, tâm lực) đã được chuẩn bị ở một mức độ nào đó, có
khả năng huy động một cách tối ưu vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Điều này có nghĩa NL như một bộ phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia
như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực trí tuệ...
Theo nghĩa hẹp: NL là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc
dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa là bao gồm những người trong
một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tế đang có việc làm và

8


những người thất nghiệp có thể lượng hóa được. Về độ tuổi hiện nay, có nhiều quy
định khác nhau. Đa số các nước có quy định độ tuổi tối thiểu (thường là 15 tuổi),
còn tuổi tối đa thường trùng với tuổi nghỉ hưu hoặc không giới hạn.
Nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của NL, là bộ phận cấu thành đặc
biệt quan trọng, là nhóm tinh túy nhất, có chất lượng nhất, có khả năng đáp ứng
những yêu cầu phức tạp của công việc. Họ là những người đã qua đào tạo, có bằng
cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật. NLCLC phải đáp ứng yêu cầu của thị trường
đó là: Có kiến thức, chuyên môn, kinh tế, tin học, ngoại ngữ; Có kỹ năng, kỹ thuật;
có tác phong làm việc chuyên nghiệp, trách nhiệm với công việc. Theo đó, chúng ta

hạt nhân xuyên suốt toàn bộ quy trình chính sách từ khởi động, phân tích, soạn thảo
ban hành, thực thi và đánh giá chính sách.
Phát triển NLCLC là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng
NL biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước về thể lực, kiến thức, kỹ
năng, thái độ và nhân cách nghề nghiệp đáp ứng những nhu cầu hoạt động, lao động
của cá nhân và sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương nói riêng và của
đất nước nói chung. Chính sách phát triển NLCLC nhằm tạo ra NLCLC với số
lượng lớn, chất lượng tốt phù hợp và đáp ứng nhu cầu của mỗi giai đoạn phát triển
kinh tế - xã hội nhất định. Chính sách phát triển NL có liên quan chặt chẽ đến chính
sách giáo dục và đào tạo vì trình độ văn hóa của người lao động là yếu tố quan
trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng phát triển NLCLC. Nó tạo nên sự chuyển biến
về chất (kiến thức kỹ năng và thái độ nghề nghiệp). Nhưng để có một nhân cách
nghề nghiệp hoàn chỉnh phù hợp và thích ứng với vị trí việc làm, NLCLC còn phải
được rèn luyện sức khỏe và có văn hóa nghề nghiệp.
Thực hiện chính sách phát triển NLCLC là hoạt động thực hiện các giải
pháp và công cụ chính sách đã lựa chọn bởi các chủ thể chính sách, là bước đặc biệt
quan trọng trong chu trình chính sách: hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào
cuộc sống. Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực
của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi chính sách.

10


1.2. Thiết kế chính sách phát triển nhân lực chất lƣợng cao
1.2.1. Vấn đề của thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Xác định vấn đề chính sách là giai đoạn khởi đầu trong quy trình xây dựng
chính sách công, bao gồm từ bước phát hiện những vấn đề xã hội những mâu thuẫn
nảy sinh trong đời sống xã hội, trong đó nổi lên những vấn đề bức xúc đòi hỏi cần
phải được giải quyết bằng chính sách. Vấn đề của chính sách luôn gắn liền với sự
phát triển của xã hội.

Ngoài ra, vấn đề trong phát triển NLCLC hiện nay là thiếu thông tin, dự báo
về nhu cầu sử dụng NLCLC và sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp và các
địa phương trong công tác đào tạo, phát triển NLCLC. Sự phát triển kinh tế - xã hội
ngày càng cao, trong khi NLCLC vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn.
Đóng góp của đội ngũ NLCLC chưa tương xứng với tiềm năng, trí tuệ sẵn có.
Mạng lưới các cơ sở đào tạo phát triển NLCLC tuy đã được quy hoạch
nhưng việc thực hiện quy hoạch còn chậm, chưa đồng bộ, thiếu tính rõ ràng, cụ thể.
Trong đào tạo, thiếu sự liên thông, liên kết giữa các bậc trình độ của NLCLC. Mô
hình đào tạo và các chuẩn mực đào tạo NLCLC ở các cấp, bậc học chưa được xác
định rõ ràng và hợp lý.
Từ những vấn đề nêu trên nguyên nhân của vấn đề thực hiện chính sách phát
triển NLCLC là do:
Thứ nhất, xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về vai trò quyết định của
NLCLC đối với sự phát triển của đất nước. Nước ta sẽ không phát triển được, bị tụt
hậu và thua thiệt trong cạnh tranh với thế giới, đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hóa
và hội nhập như hiện nay, khi chúng ta thua kém về NLCLC có trình độ tri thức,
khoa học công nghệ, tác phong quản lý.
Thứ hai, từ nguyên nhân về nhận thức dẫn đến chúng ta chưa có chủ trương,
chính sách cụ thể và quyết liệt đầu tư thỏa đáng cho đào tạo và phát triển NLCLC.
Nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước cho phát triển nhân lực còn hạn chế;

12


chưa huy động được nhiều các nguồn lực trong xã hội (nhất là các doanh nghiệp) để
phát triển NLCLC. Trên thực tế, nhìn chung sự đầu tư đó chưa đúng mức, còn manh
mún, dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, hiệu suất và hiệu quả chưa cao, còn
nhiều lãng phí, lãng phí sức người, sức của, lãng phí nhân lực.
Thứ ba, sự quản lý nhà nước về phát triển NLCLC còn những bất cập so với
yêu cầu. Chủ trương, đường lối phát triển NLCLC chưa được thể chế hoá bằng các

nước và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Chỉ ra được nhu cầu về số lượng,
cơ cấu và trình độ nhân lực, đảm bảo yêu cầu NLCLC thực hiện thành công đường
lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây đựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời
nêu ra các giải pháp để phát triển NLCLC, hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng
cao theo chuẩn khu vực và từng bước tiến tới chuẩn quốc tế.
Mục tiêu cụ thể
Phát triển đồng bộ đội ngũ nhân lực với chất lượng ngày càng cao, đủ mạnh
ở mọi lĩnh vực, đồng thời tập trung ưu tiên những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế cạnh
tranh.
Xây dựng được đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao và có đạo
đức nghề nghiệp để đảm bảo phục vụ tốt cho đào tạo NLCLC cho đất nước.
1.2.3. Giải pháp của chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Giải pháp chính sách
Từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm của thế giới có thể thấy rằng, việc
xây dựng và phát triển NLCLC là phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta có ý
nghĩa hết sức quan trọng và cũng là yêu cầu bức thiết hiện nay. Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011-2020 cũng nêu rõ cần tập trung tạo đột phá “phát triển
nhanh nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn
bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ việc phát triển NLCLC với phát triển

14


và ứng dụng khoa học, công nghệ”. Để xây dựng đội ngũ nhân lực có chất lượng
cao, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp:
Thứ nhất, xây dựng chiến lược phát triển NLCLC gắn với chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc
tế. Ngày 19/4/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 579/QĐ-TTg
Phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 trong đó
nêu rõ mỗi bộ, ngành và đơn vị phải xây dựng quy hoạch phát triển NLCLC đồng

1.3. Cách tiếp cận và phƣơng pháp tổ chức thực hiện chính sách phát
triển nhân lực chất lƣợng cao
1.3.1. Cách tiếp cận thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng
cao
Để đảm bảo phù hợp với tình hình mới cũng như mục tiêu hướng đến là chủ
thể thực hiện chính sách, phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính
sách là tiếp cận theo chiều dọc (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Tài
nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh), theo chiều ngang (có sự phối hợp
giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ có liên
quan) và sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng, người dân, các tổ chức
trong nước và quốc tế.
Cùng với những dự kiến về các bước và chuẩn bị đầy đủ điều kiện để thực
hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao, các cơ quan nhà nước các cấp
cần nghiên cứu lựa chọn hình thức triển khai thực hiện chính sách cho phù hợp với
điều kiện thực tế. Hình thức triển khai thực hiện chính sách phát triển nhân lực
chất lượng cao được hiểu là cách thức tổ chức để đưa chính sách vào đời sống xã
hội nhằm giải quyết việc làm cho các đối tượng chính sách theo yêu cầu của quản
lý. Trong thực tế để triển khai thực hiện chính sách việc làm có nhiều hình thức
triển khai, song tựu chung lại có một số hình thức chủ yếu sau:

16


Hình thức thực hiện chính sách từ trên xuống
Khi chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao được nhà nước ban hành,
trước khi tiến hành triển khai, Nhà nước chủ động xây dựng kế hoạch, chuẩn bị các
điều kiện về vật chất, kỹ thuật và nhân sự để thực hiện chính sách.
Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao nhà
nước chủ động kiểm tra, đôn đốc bằng các phương tiện kỹ thuật hiện có hay bằng
đội ngũ cán bộ, công chức của mình. Khi phát hiện những sai lệch về nội dung

1.3.2. Các bước thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao gồm các bước sau
đây:
Thứ nhất là: Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển
nhân lực chất lượng cao.
Đây là nhiệm vụ đầu tiên, nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức thực hiện chính
sách phát triển nhân lực chất lượng cao. Hiệu quả thực hiện chính sách phát triển
nhân lực chất lượng cao phụ thuộc vào chất lượng, tính chính xác, tính khả thi của
bản kế hoạch thực hiện chính sách. Cần phải đầu tư thời gian và công sức để xây
dựng kế hoạch thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao. Kế hoạch
triển khai thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao cần được xây
dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống. Các cơ quan có nhiệm vụ triển khai
thực thi chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ Trung ương đến địa
phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện.
Thứ hai là: Phổ biến tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển nhân lực
chất lượng cao
Phổ biến tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng
cao giúp các đối tượng thụ hưởng chính sách hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của
chính sách chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao mà còn giúp các cơ quan
nhà nước, cán bộ công chức có trách nhiệm thực thi chính sách nhận thức đầy đủ
tính chất, tầm quan trọng, quy mô của chính sách đối với xã hội. Cơ quan truyền

18


thông cũng như cơ quan sử dụng NLCLC có trách nhiệm phổ biến, tuyên truyền
chính sách giáo dục, đào tạo cũng như chính sách thu hút tạo động lực nhằm nâng
cao chất lượng nhân lực.
Phổ biến, tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách phát triển nhân lực
chất lượng cao được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status