Chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh hòa bình - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN DUY TƯ

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TỪ THỰC TIỄN
TỈNH HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số:

60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN ĐÌNH HẢO

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Chính sách phát triển nhân lực
chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Trần Đình Hảo. Các kết quả nêu trong luận
văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ tài chính
theo quy định của Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm khoa học xã hội
Việt Nam.

LƯỢNG CAO TẠI TỈNH HÒA BÌNH ......................................................................... 35
3.1. Định hướng chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế giai đoạn 2015 – 2020 ........................................................................................................... 35
3.2 Các giải pháp về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển. 41
3.3 Điều kiện để triển khai các giải pháp về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao ........ 57
3.4 Một số kiến nghị về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao......................................... 62
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 65
Phụ lục .......................................................................................................................... 68


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

GD&ĐT

Giáo dục và đào tạo

LĐTB&XH

Lao động thương binh và xã hội

KH&ĐT

Kế hoạch và đầu tư

UBND


NL

Nhân lực

CB,CC

Cán bộ, công chức

KT - XH

Kinh tế - xã hội


DANH MỤC MỤC CÁC BẢNG

STT

Tên bảng

Trang

Thống kê số lượng và chất lượng cán bộ, công chức,
Bảng 2.1. viên chức cấp tỉnh, huyện theo trình độ đào tạo tính

21

đến ngày 30/06/2013
Một số khó khăn của người lao động tỉnh Hòa Bình
Bảng 2.2.


mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các
bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi trọng việc giáo dục nhân
tài, kén chọn kẻ sỹ, vun trồng nguyên khí quốc gia là công việc cần thiết…”.
Trải qua hơn 570 năm lịch sử, câu nói của hiền nhân Thân Nhân Trung (1419
– 1499) về nhân tài, giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sỹ, vun trồng nguyên khí
quốc gia vẫn còn nguyên giá trị.
Ngay từ khi thành lập, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến trọng
dụng và thu hút nhân tài. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định tìm người tài để xây
dựng đất nước và Người chính là tấm gương sáng cho việc tìm nhân tài, trọng
dụng nhân tài. Ngày 14/11/1945, trên báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã viết: “Kiến thiết cần có nhân tài, nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm
nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài
ngày càng phát triển càng thêm nhiều”. Người cho rằng phải biết chăm lo
phát hiện nhân tài, phải biết đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và phải biết sử dụng
nhân tài một cách hợp lý. Việc trọng dụng nhân tài theo quan điểm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh là phải làm thường xuyên, liên tục như “người làm vườn
vun trồng những cây cối quý báu”. Tại Đại hội XI, Văn kiện của Đảng ta đã
khẳng định: phát triển và nâng cao chất lượng NL, nhất là NL chất lượng cao
là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng
dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh,
hiệu quả và bền vững.
Để phát triển mỗi quốc gia phải dựa vào các nguồn lực cơ bản: nguồn
nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực khoa học công nghệ và cơ sở vật
chất kỹ thuật, nguồn vốn. Trong đó, NL luôn luôn là nguồn lực cơ bản và chủ
1


yếu nhất cho sự phát triển, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Trong thời đại ngày nay,

đạt được như mong muốn. Điều đó đòi hỏi tỉnh Hòa Bình cần phải nghiên
cứu, điều chỉnh chính sách một cách hợp lý để có thể đem lại hiệu quả, phát
triển được một lực lượng NL chất lượng cao về phục vụ địa phương.
Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Chính sách phát triển
nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình” làm luận văn Thạc sĩ
chính sách công để nghiên cứu, qua đó nhằm kiến nghị một số giải pháp,
công cụ để có thể nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nguồn
nhân lực tỉnh Hòa Bình nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tỉnh Hòa Bình cũng như trong cả nước đã có nhiều công trình nghiên
cứu khoa học, các hội thảo khoa học, các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ của các nhà
khoa học về đề tài này ở nhiều góc độ, phạm vi. Dưới đây là một số công
trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài:
Mai Quốc Chánh (1999), Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở
Việt Nam, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội.
Vũ Thị Phương Mai (2004), Luận văn Phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Quảng Ninh.
Nguyễn Huy Trung (2006), Xung quanh vấn đề xây dựng nguồn nhân
lực chất lượng cao, Tạp chí Lao động - Xã hội.
Lê Thị Hồng Điệp (2009), Kinh nghiệm trọng dụng nhân tài để hình
thành nền kinh tế tri thức của một số quốc gia Châu Á và những gợi ý cho
Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tập trung vào tổng
kết kinh nghiệm trọng dụng nhân tài trong khu vực công và khu vực sản
xuất, kinh doanh để hình thành nền kinh tế tri thức của các quốc gia Châu Á.
Mai Thị Lĩnh (2011), nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp
3



Luận văn đề xuất đưa ra các giải pháp, công cụ nhằm giải quyết tốt
nhất vấn đề chất lượng NL.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được những mục đích trên, luận văn sẽ hướng tới giải quyết
các nhiệm vụ:
Đưa ra những vấn đề lý thuyết làm cơ sở khoa học để áp dụng giải
quyết vấn đề phát triển NL chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình.
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết vấn đề phát triển
NL chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình trong thời gian qua.
Nghiên cứu đưa ra giải pháp chủ yếu để giải quyết vấn đề phát triển
NL chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu Chính sách phát triển NL chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh
Hòa Bình.
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu Chính sách phát triển NL trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, chỉ
nghiên cứu mặt chất lượng về chính sách phát triển nguồn NL chất lượng cao
trên góc độ giáo dục và đào tạo để có các giải pháp cơ bản về chính sách phát
triển NL chất lượng cao ở tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2015-2020.
Thời gian:
Nghiên cứu chú trọng đến khảo sát trong thời gian từ năm 2010 - 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên, quan điểm, đường lối chính sách
của Đảng cộng sản Việt Nam, lý thuyết về chính sách công, chính sách NL.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng để thu thập, phân tích
5




những cơ sở khoa học cho hoạt động hoạch định chính sách, đưa ra các giải
pháp nhằm giải quyết tốt vấn đề về chất lượng NL trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách phát triển nhân lực
chất lượng cao.
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
tại tỉnh Hòa Bình.
Chương 3: Hoàn thiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
tại tỉnh Hòa Bình.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN
LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
1.1. Khái niệm về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Khái niệm chính sách công được hiểu như sau:
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của
Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp và công cụ thực hiện
nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác
định”[18].
Khái niệm nhân lực:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra các khái
niệm NL theo các khía cạnh khác nhau. Nhưng nhìn chung các khái niệm đều
thống nhất về nội dung cơ bản là: Nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động

Một là, NL chất lượng cao là những người lao động đã qua đào tạo, có
bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trên thực tế, khái niệm “lao động
qua đào tạo” rất phức tạp vì hiện nay có rất nhiều hình thức và phương pháp
đào tạo khác nhau, từ học nghề ngắn hạn đến cao đẳng, đại học đều có thể
được xem là “lao động qua đào tạo”. Như vậy, nếu coi NL chất lượng cao là
lao động qua đào tạo sẽ dẫn đến một sự phân hóa lớn về trình độ của NL này.
Hai là, một cách hiểu theo định lượng hẹp hơn là coi NL chất lượng
cao là NL có trình độ đại học, cao đẳng, NL lãnh đạo, quản lý và hoạch định
chính sách, NL khoa học, công nghệ, đội ngũ giảng viên các trường đại học,
cao đẳng. Thực tế, có một cách hiểu hẹp hơn nữa là chỉ xem những người có
trình độ thạc sĩ, tiến sĩ mới là NL chất lượng cao.
Có thể thấy, về mặt khái niệm NL chất lượng cao chưa có sự thống
nhất. Cả hai cách hiểu mang tính định tính và định lượng đều có những hạn
chế nhất định.
NL chất lượng cao là NL phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường
(yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức
9


chuyên môn, kinh tế, tin học, có kỹ năng, kỹ thuật; tìm và tự tạo việc làm, làm
việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm
với công việc.
Khái niệm về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao:
Có thể hiểu chính sách phát triển NL chất lượng cao là: “tập hợp các
quyết định có liên quan của Đảng và Nhà nước, nhằm lựa chọn mục tiêu, giải
pháp, công cụ để nhằm nâng cao chất người lao động về thể lực, trí lực đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.
Nguồn lao động có chất lượng chuyên môn cao sẽ là lực lượng cốt lõi
cho quá trình CNH – HĐH đất nước, trong quá trình hội nhập ngày càng sâu
rộng, đòi hỏi chất lượng lao động ngày càng cao để đáp ứng được quá trình đó.

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài và công nghệ mới vào Việt Nam kéo theo công
việc làm, các nghề mới, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý. Những diễn biến
này tác động trực tiếp vào NL và phát triển NL chất lượng cao của Việt Nam.
Do vậy, chính sách phát triển NL chất lượng cao ở Việt Nam đặc biệt
quan trọng cho sự thành công của CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế.
Cần tạo ra và cải thiện tất cả các điều kiện cần thiết để phát triển NL chất
lượng cao nhanh, có chất lượng, đáp ứng nhu cầu cấp bách của công cuộc đổi
mới, của CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế.
1.3. Mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách phát triển nhân lực chất
lượng cao
1.3.1. Mục tiêu chính sách
Về mặt giáo dục và đào tạo: “tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao,
bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri
thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại
học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển
nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm
khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát

11


triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc và hội nhập quốc tế.” [29, tr. 4]
Về mặt chính sách việc làm: Hoàn thiện chính sách việc làm để cân đối
cung cầu giữa đào tạo và nhu cầu tuyển dụng; nâng cao chất lượng đào tạo và
ý thức trách nhiệm của người lao động hướng tới giải quyết và tạo việc làm
cho người lao động. Tái cơ cấu và sử dụng hợp lý nguồn lực lao động xã hội,
phát triển thị trường lao động, giải quyết thoả đáng nhu cầu việc làm, thực
hiện công bằng xã hội, nâng cao phúc lợi và giảm dần sự tách biệt xã hội,
đóng góp vào sự ổn định chính trị - xã hội và củng cố nâng cao chất lượng,

dựng và công bố chuẩn đầu ra theo từng ngành đào tạo.
Về chính sách giải quyết việc làm: Thành lập Trung tâm Hỗ trợ Đào tạo và
Cung ứng nhân lực để điều tra, phân tích và dự báo nhu cầu nhân lực, tăng cường
sự phối hợp gắn kết giữa các cơ sở đào đạo với các đơn vị sử dụng lao động.
Tăng cường công tác dự báo và cung cấp thông tin về thị trường lao
động kết hợp với việc quy hoạch NL sát thực tế theo từng giai đoạn, theo
ngành nghề và từng trình độ đào tạo.
Phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan nghiên cứu, tổ chức
điều tra về việc làm, hỗ trợ công tác tư vấn tuyển sinh của các cơ sở đào tạo,
giúp cho người học có cơ sở lựa chọn những ngành nghề có khả năng tìm việc
làm sau khi tốt nghiệp.
Phối hợp với các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo các cơ sở đào tạo triển
khai mạnh mẽ đào tạo theo nhu cầu xã hội, tạo sự gắn kết giữa các cơ sở đào
tạo với các đơn vị sử dụng lao động để đào tạo NL phù hợp.
1.3.3. Công cụ chính sách
Công cụ dựa vào quyền lực: Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra,
kiểm tra, giám sát về việc xây dựng, thực hiện chính sách phát triển NL chất
lượng cao ở từng địa phương, cơ sở đào tạo. Thực hiện các chỉ đạo kịp thời
với xu thế phát triển của xã hội về yêu cầu của xã hội với NL và giáo dục
trong tình hình mới.
13


Công cụ dựa vào tổ chức: Phối hợp và chỉ đạo thực hiện chính sách
phát triển NL chất lượng cao với các cơ sở đào tạo đảm bảo đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ được giao để phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước
giai đoạn hiện nay.
Công cụ dựa vào tài chính: Tiến tới tự chủ tài chính cho các cơ sở đào
tạo, chi ngân sách hỗ trợ tài chính cho người lao động trong quá trình học tập,
xây dựng cơ sở đào tạo, huy động tài chính từ xã hội.

thị trường lao động và xu thế phát triển. Bộ KH&ĐT có trách nhiệm dự báo.
Bộ tài chính có trách nhiệm cân đối tài chính cho hoạt động đào tạo. Chính
quyền địa phương có trách nhiệm tạo môi trường, phối hợp với các bộ
ngành, các doanh nghiệp trên địa bàn thực hiện chính sách phát triển NL chất
lượng cao cho người lao động sống trên địa bàn.
Ngoài ra còn có sự tham gia của các cơ sở đào tạo, các nhà khoa học,
nhà tư vấn, chuyên gia, báo giới, các tổ chức xã hội, CB, CC vào thực hiện
chính sách phát triển NL chất lượng cao.
1.5. Thể chế chính sách chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Môi trường thể chế là tổng hợp các nhân tố pháp lý và những điều kiện
tác động đến sự tồn tại và vận động của các chủ thể tham gia hoạt động kinh
tế - xã hội nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra.
Môi trường thể chế chính sách công bao gồm thể chế chính trị, luật
pháp, kinh tế, hành chính và bộ máy, đội ngũ cán bộ của nó. Cụ thể hơn, môi
trường thể chế chính sách công đó là hệ thống tổng hợp chính sách, pháp luật,
cơ chế quản lý và bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước áp dụng trên phạm vi
toàn quốc, cùng với tập quán và các quy định thỏa ước của cộng đồng có liên
quan trực tiếp/gián tiếp. Trong đó:
Hệ thống luật và chính sách công tác động trực tiếp/gián tiếp nhằm tạo
môi trường hành lang pháp lý và các điều kiện thiết yếu của đời sống xã hội;

15


Hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước làm nhiệm vụ soạn thảo, ban hành,
sửa đổi các văn bản pháp quy, thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
các luật và chính sách;
Cơ chế quản lý vận hành các hoạt động dựa theo các nguyên lý và quy
tắc được tuân thủ của mỗi tổ chức và cá nhân;
Những quy định, nội quy, quy chế và điều lệ của các tổ chức xã hội, tập

Hệ thống kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách phát triển NL
chất lượng cao, trong khi đất nước đang vận hành nền kinh tế theo định
hướng kinh tế thị trường hàng hóa thì chính sách phát triển NL chất lượng
cao cũng phải chuyển mình theo phù hợp với thị trường luôn biến động đó,
đòi hỏi NL đa dạng, chất lượng không phụ thuộc vào số lượng.
Hệ thống giá trị xã hội được xem là một giá trị ẩn, là sự đa dạng về văn
hóa, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp. Tuy nhiên, nó có tác động rất lớn đến
việc làm chính sách, một giá trị không chính thức nhưng lại được thừa nhận,
chính sách ra đời và thực hiện được phải tính tới các yếu tố giá trị xã hội.
Công luận và truyền thông thể hiện quan điểm, thái độ, phản ứng, dư
luận của người dân, cộng đồng, các doanh nghiệp với chính sách, đánh giá
một chính sách tốt hay không tốt, khả thi hay không khả thi.
Tính khách quan cũng như chất lượng, hiệu quả của chính sách phát
triển NL chất lượng cao đạt được phụ thuộc vào ý kiến tham vấn của người
dân (những đối tượng thụ hưởng/chịu tác động trực tiếp) và doanh nghiệp.
Một trong những cơ sở điều chỉnh kịp thời và nhanh nhất của chính sách
phát triển NL chất lượng cao thường bắt nguồn từ ý kiến phản hồi, phản
biện/phản ứng của công chúng và giới doanh nghiệp về vấn đề lao động,
việc làm qua kênh công luận và báo chí truyền thông, khi làm chính sách cần
đặc biệt chú ý tới công luận và truyền thông xem đây như là một cánh tay
đắc lực cho việc thực hiện chính sách.
Thứ ba, là các yếu tố thuộc về bên trong cơ quan xây dựng chính sách
(lập chính sách). Chính sách công nói chung và chính sách phát triển NL
17


chất lượng cao nói riêng là kết quả của một loạt hoạt động từ nhiều cơ quan,
bộ ngành khác nhau gắn liền với vấn đề xã hội nảy sinh. Nói cách khác thì
chính là thể hiện năng lực của chủ thể xây dựng (lập chính sách) cụ thể:
Năng lực hoạch định chính sách công của Nhà nước được thể hiện

thiệt về lợi thế cạnh tranh ngay tại “sân chơi” nhà.
Trong khi các các quốc gia khác ở khu vực và thế giới họ sẽ hướng các
công ty xuyên quốc gia đầu tư vào những nước có điều kiện và lợi thế sản
xuất (có lợi thế động là mạnh về vốn, công nghệ, trình độ lao động lành nghề,
cơ sở hạ tầng hiện đại). Vì vậy, để có thể phát huy lợi thế so sánh, có thể cạnh
tranh NL với các nước, Việt Nam cần phải kết hợp các yếu tố về địa chính trị,
tài nguyên, thể chế quản lý, về đào tạo NL để có thể thu hút đầu tư. Mặt khác
tạo bước nhảy vọt trong lao động sản xuất của các doanh nghiệp trong nước,
quyết định khả năng cạnh về kinh tế, về lực lượng lao động cả ở trong nước
và xuất khẩu lao động.
Kết luận Chương 1
Cuộc cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới ngày càng khốc
liệt trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày càng được tin học hóa, số hóa,
xã hội hóa. Kết cấu người lao động cũng thay đổi đáng kể theo xu thế chung
này của thế giới. Những ngành chế tạo cơ khí hay ngành dịch vụ mang tính
thông thường không đòi hỏi nhiều người làm việc, trái lại những ngành như
phát triển phần mềm công nghệ thông tin, ngành quản lý, quản trị kinh
doanh, ngành tư vấn và giáo dục bậc cao tăng lên. Đòi hỏi những người làm
việc phải có trình độ cao, sử dụng thành thạo các phương tiện mới theo đó
cũng tăng lên. Để có một NL chất lượng cao có thể phân bố đáp ứng được
quá trình chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế, đảm bảo ổn định xã hội thì
cần phải chú trọng quá trình đào tạo, dự báo, định hướng đào tạo, thông tin
thị trường lao động đòi hỏi sự kết hợp của nhiều cơ quan, bộ ngành liên
quan, sự ủng hộ của cộng đồng, người dân, doanh nghiệp.

19


Chương 2
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status