VIÊN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƢƠNG NGỌC HUY
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA NGÀNH Y TẾ
TỪ THỰC TIỂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60.34.04.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS ĐỖ HOÀI NAM
HÀ NỘI, năm 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng bản thân tôi. Tất cả các số
liệu trong đề tài nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ luận văn nào khác.
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và
tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Học viên
Trƣơng Ngọc Huy
MỤC LỤC
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Bảng 2.2.
Phát triển mạng lưới y tế ngoài công lập trên địa bàn tỉnh
42
Quảng Ngãi đến năm 2015
Bảng 2.3.
Tình hình nguồn nhân lực y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
44
Bảng 2.4.
Tình hình tham gia BHYT năm 2015 theo huyện, thành phố
44
trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở bối cảnh khi nguồn lực và ngân sách của quốc gia có hạn, việc đa dạng hóa
các hình thức thu hút nguồn lực trong và ngoài nước để đầu tư phát triển xã hội là
đòi hỏi tất yếu khách quan. Xã hội hóa y tế (XHHYT) là hình thức huy động các
nguồn lực trong xã hội với chủ trương là để phát triển dịch vụ và nâng cao chất
lượng y tế nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) của người dân. Thực
thực tiễn, việc xã hội hóa ngành Y tế đã khuyến khích đầu tư các cơ sở y tế như các
bệnh viện đa khoa, chuyên khoa trên cả nước được đầu tư mới, nâng cấp, cải tạo
các trang thiết bị hiện đại. Hiện cả nước có 171 bệnh viện tư nhân với gần 11.000
giường bệnh. Các hoạt động vay vốn, hợp tác để xây dựng cơ sở hạ tầng trong bệnh
viện công bước đầu đã mang lại hiệu quả tích cực, giúp hoàn thành, đưa vào s
dụng sớm nhiều cơ sở Y tế… góp phần nâng cao hiệu quả s dụng ngân sách và
giảm áp lực quá tải bệnh viện ở các tuyến. Việc liên doanh, liên kết đã đạt một số
kết quả tích cực như: phát triển nhiều k thuật mới k thuật cao, trang bị được
nhiều loại thiết bị hiện đại, tiên tiến như hệ thống PET.CT, CT-Scanner các loại, hệ
thống cộng hưởng từ, máy gia tốc tuyến tính, các thiết bị tán sỏi ngoài cơ thể, mổ
Phaco, siêu âm màu, máy xét nghiệm các loại... giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán
và điều trị, phát hiện sớm, chính xác bệnh tật, giảm tỷ lệ t vong. Người dân, trong
đó có người ngh o, cận ngh o, tr em, đối tượng chính sách c ng được hưởng lợi
vì được s dụng các dịch vụ này, kể cả các dịch vụ k thuật cao, chi phí lớn và
được BHYT thanh toán vì ở nhiều bệnh viện, các trang thiết bị xã hội hóa được
dùng chung cho toàn bộ bệnh viện.
Tuy vậy, từ thực tiễn Xã hội hóa ngành Y tế thời gian qua c ng đã phát sinh
những vấn đề khó khăn:
i/ Dù chỉ có 21,64% (37/171) bệnh viện tư có quy mô trên 100 giường bệnh
trở lên, song vẫn chỉ có 5 bệnh viện tư có công suất 100% trở lên, số còn lại chỉ đạt
40-50% công suất, cá biệt có bệnh viện chỉ đạt khoảng 20%;
ii/ Nghị quyết 93/NQ-CP ngày 15/12/2014 của Chính phủ Về một số cơ chế,
chính sách phát triển y tế không ưu tiên cho Y tế tư nhân, cơ chế tài chính khó
khăn, điển hình là giá dịch vụ Y tế trên thực tế mới chỉ tính 3/7 yếu tố chi phí, nên
2
chưa thực sự thúc đẩy và khuyến khích cơ sở Y tế vay vốn đầu tư, tạo sự bình đẳng
giữa trong và ngoài công lập;
lượng, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho phát triển kinh tế-xã hội.. Với lý do đó,
em xin đăng ký nghiên cứu đề tài “Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển
tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn thạc s chuyên ngành chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong nhiều tác giả nghiên cứu các công trình trước đây cả trong và ngoài
nước liên quan đến lĩnh vực chính sách xã hội hóa nói chung và với ngành y tế nói
riêng, điển hình có thể kể đến:
- Các tác giả Paul A. Samuelson và William D, Nordhaus (1997) trong “Kinh
tế học” cho rằng, nhiều dịch vụ y tế là hàng hóa công cộng và thị trường dịch vụ y
tế không cạnh tranh hoàn hảo, nhất là về tình trạng mất đối xứng về thông tin giữa
người sản xuất và người tiêu dùng, cũng như yêu cầu về công bằng trong khám,
chữa bệnh, nên nhà nước cần phải can thiệp một cách hợp lý. Kiến nghị của các tác
giả là áp dụng giải pháp trung dung là duy trì thị trường dịch vụ y tế ở trạng thái
cạnh tranh có quản lý [37].
- Joseph E. Stiglitz (1995), Kinh tế học công cộng (dịch: Nguyễn Thị Hiên, Lê
Ngọc Hùng, Nguyễn Văn Hưởng), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. Trong công
trình này, khi nghiên cứu về "chăm sóc sức khỏe" tại Hoa Kỳ, tác giả Joseph E.
Stiglitz đã chỉ ra bằng chứng cho thấy, "chính phủ liên bang đóng vai trò to lớn
trong chi tiêu y tế…để xây dựng và nâng cấp các bệnh viện"; chính phủ rất quan
tâm đầu tư phát triển y tế thông qua việc xây dựng hai chương trình "Chăm sóc sức
khỏe" và "Hỗ trợ y tế" thể hiện ở "Vai trò ngày càng tăng của chính phủ trong việc
cấp kinh phí cho chăm sóc sức khỏe" và chính phủ liên bang đã thúc đẩy các hành
động thực tiễn nhằm đảm bảo"hầu hết chi tiêu của liên bang đều dành cho hai
chương trình Chăm sóc sức khỏe và Hỗ trợ y tế" [38].
- Phạm Thị Thanh Hương (4/2017), Đổi mới cơ chế quản lý tài chính các bệnh
viện công ở Việt Nam, Luận án Tiến s chuyên ngành Tài chính – ngân hàng, Học
viện Tài Chính, Hà Nội. Luận án nêu lý luận về nội dung các cơ chế quản lý tài
chính bệnh viện công từ cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho bệnh viện công, cơ
chế thanh toán BHYT với các bệnh viện công, cơ chế thanh toán dịch vụ y tế trực
trường đại học tư thục và các chính sách khác nhằm phát triển trường ĐHTT trong
giai đoạn hiện nay.
- Bùi Tiến Hanh (2012) với luận án tiến s “Hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm
5
thúc đẩy xã hội hóa giáo dục Việt Nam”, đã nghiên cứu và luận giải cơ chế để thực
hiện xã hội hóa giáo dục, cơ chế quản lý tài chính công đối với giáo dục công lập,
cơ chế khuyến khích và quản lý đối với hoạt động giáo dục ngoài công lập, cơ chế
thu và s dụng học phí,...
- Nguyễn Thị Lan Anh (02/2017), Chất lượng dịch vụ y tế công tại Bệnh viên
Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên, Luận án Tiến s chuyên ngành Quản trị công,
Đại học Thái Nguyên. Luận án đã chỉ ra được các yếu tố đo lường chất lượng dịch vụ
y tế tại bệnh viện công, tập trung vào chất lượng chức năng liên quan đến cách thức
cung ứng dịch vụ y tế của bệnh viện. Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở
tổng hợp nhiều nghiên cứu trước đây về chất lượng dịch vụ, trong đó có dịch vụ y tế.
Tác giả đã áp dụng mô hình đo lường chất lượng dịch vụ của Parasuraman để đo
lường chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên (nay
là bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên), xây dựng thang đo chất lượng dịch vụ dựa
vào thang đo SERQUAL để tiến hành thu thập số liệu sơ cấp về mong đợi và cảm
nhận c ng như sự hài lòng của người bệnh trong quá trình s dụng dịch vụ y tế tại
bệnh viện. Các yếu tố đưa ra trong khung phân tích của luận án là sự kết hợp hợp lý
của các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện.
Ngoài ra, có một số công trình khác:
- Nguyễn Thị Hồng Minh (2016), Quản lý Nhà nước đối với dự án đầu tư theo
hình thức đối tác công- tư trong xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ Việt Nam,
Luận án Tiến s chuyên ngành Quản lý kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
Luận án Dựa trên lý thuyết quản lý hành chính của Fayol, H. (2013) trong đó phân
tách các yếu tố của quá trình quản lý thành các chức năng tương đối độc lập, luận án
lập ở Việt Nam, Luận án Tiến s chuyên ngành Quản lý văn hóa, Viện Văn hóa
Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Hà Nội.
Đối với các tác giả nghiên cứu công trình liên quan đến địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi, có:
- Đoàn Thị Xuân M (2011), “Phát triển dịch vụ y tế ở các huyện miền núi
tỉnh Quảng Ngãi”, Luận văn Thạc s chuyên ngành quản lý kinh tế, Đại học Đà
Nẵng. Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về phát triển
dịch vụ y tế và phân tích thực trạng, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong việc
phát triển dịch vụ y tế tại các huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi. Từ đó luận văn
7
đã đưa ra một số giải pháp phát triển dịch vụ y tế ở các huyện miền của tỉnh Quảng
Ngãi đến năm 2020.
- Bùi Thị Yến Linh (2014), Tổ chức công tác kế toán tại các cơ sở y tế công
lập tỉnh Quảng Ngãi, Luận án Tiến s chuyên ngành Tài chính, Học viện Tài chính,
Hà Nội; Nguyễn Thị Thanh Vân (2007),“Tổ chức công tác kế toán thu, chi hoạt
động trong các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn Quảng Ngãi”, Luận văn
Thạc s ngành Tài chính, Học viện Tài chính, Hà Nội. Công trình này chỉ nghiên
cứu về tổ chức công tác kế toán thu, chi hoạt động trong các đơn vị sự nghiệp nói
chung của tỉnh Quảng Ngãi. Từ đó, đưa ra giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao công
tác kế toán thu, chi hoạt động tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Tóm lại, dù có khá nhiều công trình nghiên cứu về xã hội hóa nói chung và
lĩnh vực sự nghiệp công nói riêng ít nhiều có liên quan đến lĩnh vực y tế có giá trị
tham khảo, song nó c ng cho thấy lĩnh vực xã hội hóa ngành Y tế nghiên cứu ở góc
nhìn chính sách công hiện đang là khoảng trống hoặc quan tâm chưa đúng tầm. Vì
vậy, hiện chưa có đề tài nào trùng lặp với chủ đề em lựa chọn “Chính sách xã hội
hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn thạc s chuyên ngành
chính sách công.
kê và so sánh... được s dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các
nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, Nghị quyết,
Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các tài
liệu, công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của chính quyền, sở ngành, tổ
chức, doanh nghiệp, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề thực hiện
chính sách xã hội hóa ngành Y tế ở nước ta nói chung và thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
nói riêng. Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên
quan đến đề tài trong thời gian qua.
- Phương pháp thực địa: Khảo sát tình hình thực tế hoạt động Y tế và thực
hiện chính sách Xã hội hóa ngành Y tế ở tỉnh Quảng Ngãi.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chính sách công về xã hội hóa ngành Y tế
để làm cơ sở định hình cho việc đề xuất các giải pháp về chính sách xã hội hóa
ngành Y tế.
9
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu cung cấp những vấn đề có tính thực tiễn trên cơ sở xem
xét giữa mục tiêu dự kiến và thực hiện chính sách xã hội hóa ngành Y tế trên địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Góp phần cung cấp, tư vấn thêm những cơ sở khoa học và thực tiễn cho các
nhà hoạch định chính sách, chính quyền, các cơ quan, ban ngành hoàn thiện chính
sách xã hội ngành Y tế những năm tiếp theo.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và danh mục các tài liệu tham khảo, Luận
văn được kết cấu với 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách xã hội hóa ngành y tế ở Việt Nam, một
số kinh nghiệm thế giới
người dân. Xã hội hóa các hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa là vận động và tổ chức
sự tham gia rộng rãi của nhân dân của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp
đó nhằm từng bước nâng cao mức thụ hưởng về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát
triển về thể chất, tinh thần cuả nhân dân. [4]
Như vậy, xã hội hóa các hoạt động y tế là vận động và tổ chức sự tham gia
11
rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp y tế nhằm
từng bước nâng cao mức thụ hưởng về chất lượng dịch vụ y tế trong sự phát triển
chung. Xã hội hóa y tế là quá trình huy động sự tham gia dưới các hình thức khác
nhau của các chủ thể và cộng đồng xã hội, đồng thời tăng cường vai trò của Nhà
nước đối với y tế nhằm nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ và mở rộng đối
tượng thực hiện, bảo đảm công bằng xã hội trong đóng góp và thụ hưởng các dịch
vụ y tế.
* Chính sách xã hội hóa
Chính sách (chính sách công) là tập hợp các quyết định quản lý có liên hệ mật
thiết với nhau, do các cơ quan có chức năng thẩm quyền xây dựng và ban hành, bao
gồm các mục tiêu và giải pháp nhất định, nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã
hội đặt ra cho các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Chính sách là tập hợp các quyết
định chính trị của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp hành
động để giải quyết các vấn đề của xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu tổng thể đã
xác định.
Xét trên giác độ của Nhà nước với tư cách là cơ quan ban hành, chính sách là
công cụ thể chế hóa hệ thống những quan điểm, đường lối của Đảng cầm quyền, mà
qua đó Nhà nước s dụng nó làm phương thức điều tiết các nguồn lực của các tổ
chức và cá nhân trong xã hội đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội để đạt được các
mục tiêu nhất định. Chính sách là sản phẩm một quá trình thực thi quyền lực chính
trị mà cốt lõi là tập trung thực thi quyền lực nhà nước. Chính sách thường tập trung
biến các chính sách xã hội hóa thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt
động có tổ chức của bộ máy Nhà nước và các bên tham gia nhằm hiện thực hoá
những mục tiêu mà chính sách xã hội hóa về các lĩnh vực đã đề ra.
Đối với thực hiện chính sách xã hội hóa ngành y tế là quá trình biến các chính
sách xã hội hóa ngành y tế thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt
động có tổ chức của bộ máy Nhà nước và các bên tham gia nhằm hiện thực hoá
những mục tiêu mà chính sách xã hội hóa về lĩnh vực y tế đã đề ra.
1.1.2. Mục tiêu chính sách xã hội hóa
Nhà nước thông qua chính sách xã hội hóa để kích hoạt với mục tiêu là: định
hướng sự phát triển xã hội bền vững thông qua mạng lưới các chế độ nhờ xã hội hóa
nhằm đảm bảo sự hài lòng của mọi thành viên trong xã hội được tiếp cận các cơ hội
13
và thụ hưởng dịch vụ xã hội, mà không có sự loại trừ về giới tính, tuổi tác, thành
phần dân tộc, địa vị xã hội, tôn giáo, v.v… vì sự phân biệt. Điểm đáng lưu ý, mục
tiêu của việc nhà nước thực hiện chính sách xã hội hóa để thống nhất quản lý các
lĩnh vực được xã hội hóa nhằm đáp ứng nhu cầu cho mọi công dân, song c ng
không đồng nghĩa là nhà nước chia đều theo chủ nghĩa bình quân, mà còn phải đảm
bảo sự công bằng (không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đối tượng thụ hưởng) và
phát triển bền vững của xã hội với sự tham gia của cả xã hội.
Mục tiêu hàng đầu của chính sách xã hội hóa là tất cả vì con người, lấy cộng
đồng người dân được thụ hưởng làm trung tâm của chính sách. Trong đó, mục tiêu
xây dựng chính quyền địa phương để phát huy tối ưu về năng lực, hiệu lực và hiệu
quả của nó nhằm nâng cao tính chủ động, năng động sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của chính quyền để phục vụ tốt nhất cho nhu cầu đời sống xã hội và lợi
ích của cộng đồng người dân.
Điều kiện để đạt được các mục tiêu mà chính sách xã hội hóa cần hướng đến,
đòi hỏi phải tuân thủ và thực hiện nhất quán các nguyên tắc cơ bản của quản lý:
các nguyên nhân của nó, yêu cầu đòi hỏi chính quyền nhà nước phải s dụng quyền
lực công thông qua các công cụ điều hành bao gồm cả chính sách xã hội hóa để giải
quyết tốt các vấn đề thực tiễn xã hội đặt ra một cách hiệu quả.
1.1.4. Những giải pháp chính sách xã hội hóa
Chức năng cơ bản của chính sách xã hội hóa là phòng tránh và khắc phục các
thiệt thòi, rủi ro gặp phải trong cuộc sống bằng các biện pháp khác nhau. Nhà nước
phải xây dựng và thực thi chính sách xã hội hóa ổn định c ng như đảm bảo sự bền
vững về tài chính, ổn định về tổ chức trong thực hiện chính sách, nhất quán và "bao
phủ". Ở đó, phương thức tác động chủ yếu của chính sách xã hội hóa là thiết lập các
văn bản pháp luật ở các lĩnh vực, các ưu đãi trong từng giai đoạn phát triển nhất
định. Việc chú trọng hoàn thiện và nâng cao hiệu lực của các văn bản pháp luật là
giải pháp ưu tiên hàng đầu của chính sách, nó sẽ quyết định quá trình áp dụng chính
sách xã hội hóa chẵng những ổn định trong trật tự1, mà còn quan trong hơn là giúp
điều tiết việc s dụng hợp lý nguồn ngân sách Nhà nước có hạn mà vẫn đáp ứng đầy
đủ nhu cầu xã hội và đảm bảo công bằng xã hội trong thụ hưởng.
Hiệu lực và hiệu quả quản lý c ng như kiểm soát tốt mọi hoạt động phát triển ổn định hay không phụ thuộc
rất lớn vào tính nghiêm minh của luật lệ trên tinh thần thượng tôn pháp luật.
1
15
Nhà nước phải hình thành bộ máy chuyên nghiệp với một đội ng cán bộ,
công chức có năng lực và gia tăng tính trách nhiệm - giải trình của chính quyền nhà
nước, nhất là người đứng đầu là tất yếu khách quan để tạo dựng niềm tin – uy tín để
huy động được các nguồn lực, tổ chức phối hợp thực hiện chính sách xã hội hóa và
các chính sách khác có liên quan nhằm đảm bảo chính sách xã hội hóa sẽ được triển
khai theo những phương hướng, mục tiêu chung, thống nhất và nhanh chóng trên
toàn xã hội, đảm bảo được phân bổ nguồn lực thực hiện chính sách xã hội hóa cân
tuyển, phát triển mô hình đào tạo nghề khu vực nông thôn, hỗ trợ đất sản xuất đối
với hộ chưa hỗ trợ hoặc thiếu đất sản xuất; Chính sách khám chữa bệnh: tập trung
ưu tiên hộ gia đình ngh o, đồng bào DTTS, điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho chăm sóc
sức kh e, phát th BHYT miễn phí cho hộ gia đình ngh o, chương trình khám, tư
vấn và phát thuốc miễn phí…
1.1.5. Các chủ thể chính sách xã hội hóa
Để đảm bảo gia tăng khả năng tiếp cận với dịch vụ xã hội cần thiết, thì đòi hỏi
sự tham gia của các bên phải đa dạng, toàn diện… bảo đảm bền vững, công bằng.
Qua đó, có thể xác định các bên tham gia thực thi chính sách xã hội hóa phải đa
dạng và nhiều thành phần, tiêu biểu có thể kể đến:
- Nhà nước: Nhà nước là chủ thể hoạch định chính sách xã hội hóa và đồng
thời c ng là chủ thể quyết định triển khai thực hiện chính sách.
Chính sách xã hội hóa được ban hành bởi cơ quan quyền lực Nhà nước cao
nhất để đảm bảo tính pháp lý cao trong quá trình thực hiện. Nhà nước là chủ thể
chịu trách nhiệm cao nhất và c ng là cuối cùng trong việc xây dựng, hoàn thiện và
triển khai tổ chức thực hiện chính sách xã hội hóa trên thực tế.
Không chỉ có chức năng nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng và hoạch định
chính sách xã hội hóa, Nhà nước còn phải s dụng quyền lực về mặt lập pháp, hành
pháp và tư pháp do nhân dân ủy thác để thực hiện chính sách xã hội hóa. Với ưu thế
về quyền lực, bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp, các nguồn lực và đội ng cán
bộ, công chức..., nhà nước giữ vai trò nòng cốt và chỉ có nhà nước mới có khả năng
quyết định mọi vấn đề trên quy mô toàn xã hội trong việc thực hiện, kiểm tra, giám
sát chính sách xã hội hóa thống nhất trong cả nước. Vì vậy, bản thân cơ quan nhà
nước c ng phải tuân thủ pháp luật về các lĩnh vực cần xã hội hóa và s dụng pháp
luật với tư cách là một phương tiện thống nhất để thực hiện có hiệu quả các mục
17
tiêu của chính sách xã hội hóa, cho nên, nhà nước cần phải nâng cao vai trò kiểm
động các nguồn lực trong triển khai chính sách và là đấu mối điều phối thực thi
chính sách xã hội hóa theo kế hoạch đã phê duyệt;
iv/ Thiết lập cơ chế xã hội hóa và chia s trách nhiệm xã hội, khuyến khích sự
tham gia của nhiều bên không chỉ trong lĩnh vực huy động vốn mà ngay cả trong
việc lấy ý kiến tham gia chính sách và phản biện chính sách.
v/ Thực hiện hoạt động giám sát, kiểm tra, đôn đốc và điều chỉnh kịp thời việc
thực hiện chính sách.
- Các chủ thể là hiệp hội nghề nghiệp - xã hội ở trung ương và địa phương, các
tổ chức phi Chính phủ, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, người dân.
Các chủ thể này cùng với sự hiểu biết, kinh nghiệm sẽ tư vấn, đưa ra các kịch bản
mà các chính sách xã hội hóa sẽ gặp phải trên thực tế để giúp nhà nước đưa ra được
các sáng kiến, giải pháp phù hợp nhằm rút ngắn được thời gian triển khai thực hiện
các chính sách trong thực tế. Đồng thời, họ còn đề xuất những ý kiến phản biện giúp
xây dựng chính sách hoàn chỉnh hơn c ng như tham gia vào việc tìm kiếm và hỗ trợ
góp phần giải quyết bài toán về nguồn lực để triển khai thực hiện chính sách xã hội
hóa các lĩnh vực xã hội. Sự đồng tình, ủng hộ của các chủ thể này là nhân tố quan
trọng, có tác động mạnh mẽ quyết định đến sự thành công trong thực thi chính sách
xã hội hóa.
- Đối tượng thụ hưởng là các cá nhân, nhóm, tổ chức và người dân với tư cách
là khách hàng s dụng dịch vụ xã hội ấy được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp từ
sự can thiệp chính sách. Đối tượng thụ hưởng trực tiếp là cá nhân, nhóm, hoặc tổ
chức trực tiếp s dụng “đầu ra” của chính sách. Động cơ và lợi ích của đối tượng
thụ hưởng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thực thi chính sách xã hội hóa, theo đó
mọi đối tượng thụ hưởng đều cố gắng cải thiện mức độ phúc lợi của họ và tối thiểu
hóa những thiệt hại của họ thông qua việc khẳng định vai trò của họ trong quá trình
thực thi chính sách.
1.1.6. Thể chế chính sách xã hội hóa
Thể chế bao gồm cả luật, các văn bản dưới luật (hay lệ) xuất phát từ Nhà
động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tự nhiên và
quốc tế. Các hoạt động này diễn ra theo qui luật trong các điều kiện cụ thể và nó c ng
độc lập với quá trình thực thi chính sách. Môi trường thực thi chính sách chứa đựng
toàn bộ các thành phần vật chất và phi vật chất tham gia thực hiện chính sách như các
nhóm lợi ích có được từ chính sách trong xã hội, các điều kiện vật chất k thuật của
20
nền kinh tế, bầu không khí chính trị, văn hóa, xã hội, quan hệ quốc tế rộng mở.
- Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách thể hiện mức độ thống
nhất về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách xã
hội hóa. Nếu lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách xã hội hóa
không mâu thuẫn với nhau và với đối tượng thụ hưởng thì chính sách được triển
khai thực hiện thuận chiều; và ngược lại, lợi ích của các đối tượng tham gia thực
hiện chính sách mâu thuẫn với lợi ích của đối tượng thụ hưởng thì thực hiện chính
sách sẽ trở ngại, thậm chí còn thất bại.
Ngoài ra, nhu cầu và sự đồng tình ủng hộ của người dân là rất quan trọng, là
cơ sở hạch toán liệu việc đề ra và thực thi chính sách xã hội hóa lĩnh vực xã hội ấy
có cần thiết hay không. Việc thực hiện các mục tiêu chính sách không chỉ do các cơ
quan nhà nước làm, mà phải có sự tham gia của cộng đồng người dân. Bởi họ chẳng
những là người trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu chính sách xã hội hóa, mà
còn là đối tượng trực tiếp thụ hưởng những lợi ích do chính sách mang lại. Đây
được xem là nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của một
chính sách. Do vậy, một chính sách xã hội hóa đáp ứng được nhu cầu thực tế của
người dân và xã hội về mục tiêu và biện pháp thực hiện thì nó sẽ nhanh chóng đi
vào lòng dân, được nhân dân ủng hộ thực hiện; và ngược lại không phù hợp sẽ bị
chối bỏ.
* Nhóm yếu tố chủ quan
Các yếu tố thuộc về cơ quan công quyền, cán bộ, công chức chủ động chi phối
quá trình thực thi chính sách xã hội hóa. Những yếu tố chủ quan gồm: