Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 46

VIÊN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƢƠNG NGỌC HUY

CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA NGÀNH Y TẾ
TỪ THỰC TIỂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60.34.04.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS ĐỖ HOÀI NAM

HÀ NỘI, năm 2017


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA NGÀNH Y TẾ
VIỆT NAM ..............................................................................................................11
1.1. Một số cơ sở lý luận về chính sách xã hội hóa ..................................................11
1.2. Chính sách hiện hành về xã hội hóa ngành y tế ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ngãi
...................................................................................................................................22
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA NGÀNH Y TẾ
TỈNH QUẢNG NGÃI .............................................................................................40
2.2. Kết quả thực thi chính sách xã hội hóa ngành Y tế ở tỉnh Quảng Ngãi .............45
2.3. Đánh giá việc thực thi chính sách xã hội hóa ngành Y tế ở tỉnh Quảng Ngãi ...53
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA


44

Bảng 2.4.

Tình hình tham gia BHYT năm 2015 theo huyện, thành phố

44

trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở bối cảnh khi nguồn lực và ngân sách của quốc gia có hạn, việc đa dạng hóa
các hình thức thu hút nguồn lực trong và ngoài nước để đầu tư phát triển xã hội là
đòi hỏi tất yếu khách quan. Xã hội hóa y tế (XHHYT) là hình thức huy động các
nguồn lực trong xã hội với chủ trương là để phát triển dịch vụ và nâng cao chất
lượng y tế nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) của người dân. Thực
hiện chủ trương này, ở nhiều năm qua Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách xã
hội hóa đối với khuyến khích các hoạt động giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể
thao, môi trường... mà khởi đầu là Nghị quyết số 90/CP ngày 21-8-1997 Về phương
hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và Nghị
định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19-8-1999 Về chính sách khuyến khích xã hội hoá
đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao cho đến các
chính sách gần đây mà điển hình là: Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008
Về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo
dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 59/2014/NĐ- CP
ngày 16/6/2014 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP
ngày 30-5-2008 của Chính phủ; và Nghị quyết 93/NQ-CP ngày 15/12/2014 của

và điều trị, phát hiện sớm, chính xác bệnh tật, giảm tỷ lệ t vong. Người dân, trong
đó có người ngh o, cận ngh o, tr em, đối tượng chính sách c ng được hưởng lợi
vì được s dụng các dịch vụ này, kể cả các dịch vụ k thuật cao, chi phí lớn và
được BHYT thanh toán vì ở nhiều bệnh viện, các trang thiết bị xã hội hóa được
dùng chung cho toàn bộ bệnh viện.
Tuy vậy, từ thực tiễn Xã hội hóa ngành Y tế thời gian qua c ng đã phát sinh
những vấn đề khó khăn:
i/ Dù chỉ có 21,64% (37/171) bệnh viện tư có quy mô trên 100 giường bệnh
trở lên, song vẫn chỉ có 5 bệnh viện tư có công suất 100% trở lên, số còn lại chỉ đạt
40-50% công suất, cá biệt có bệnh viện chỉ đạt khoảng 20%;
ii/ Nghị quyết 93/NQ-CP ngày 15/12/2014 của Chính phủ Về một số cơ chế,
chính sách phát triển y tế không ưu tiên cho Y tế tư nhân, cơ chế tài chính khó
khăn, điển hình là giá dịch vụ Y tế trên thực tế mới chỉ tính 3/7 yếu tố chi phí, nên

2


chưa thực sự thúc đẩy và khuyến khích cơ sở Y tế vay vốn đầu tư, tạo sự bình đẳng
giữa trong và ngoài công lập;
iii/ Cơ chế hợp tác quốc tế chưa thu hút nguồn vốn nước ngoài đầu tư phát
triển Y tế theo hình thức PPP do thiếu hành lang pháp lý…
Đối với tỉnh Quảng Ngãi, cùng với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội trong
nhiều năm qua, ngành Y tế đã đạt được các thành quả đáng kể với hệ thống y tế từ
tỉnh đến cơ sở được từng bước kiện toàn, việc đầu tư nâng cấp mạng lưới khám
chữa bệnh thực sự có những tiến bộ mới. Hệ thống cung cấp các dịch vụ Y tế được
mở rộng, tỷ lệ người ốm được chăm sóc Y tế đã tăng lên. Công tác quản lý đã chấn
chỉnh từng bước, góp phần nâng cao trách nhiệm, y đức của người thầy thuốc đối
với bệnh nhân, nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh. Tuy nhiên, công tác dự phòng
và khám chữa bệnh c ng như công tác quản lý tài chính trong lĩnh vực Y tế ở tỉnh
Quảng Ngãi trong những năm qua gặp nhiều khó khăn, bất cập. Chất lượng các

người sản xuất và người tiêu dùng, cũng như yêu cầu về công bằng trong khám,
chữa bệnh, nên nhà nước cần phải can thiệp một cách hợp lý. Kiến nghị của các tác
giả là áp dụng giải pháp trung dung là duy trì thị trường dịch vụ y tế ở trạng thái
cạnh tranh có quản lý [37].
- Joseph E. Stiglitz (1995), Kinh tế học công cộng (dịch: Nguyễn Thị Hiên, Lê
Ngọc Hùng, Nguyễn Văn Hưởng), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. Trong công
trình này, khi nghiên cứu về "chăm sóc sức khỏe" tại Hoa Kỳ, tác giả Joseph E.
Stiglitz đã chỉ ra bằng chứng cho thấy, "chính phủ liên bang đóng vai trò to lớn
trong chi tiêu y tế…để xây dựng và nâng cấp các bệnh viện"; chính phủ rất quan
tâm đầu tư phát triển y tế thông qua việc xây dựng hai chương trình "Chăm sóc sức
khỏe" và "Hỗ trợ y tế" thể hiện ở "Vai trò ngày càng tăng của chính phủ trong việc
cấp kinh phí cho chăm sóc sức khỏe" và chính phủ liên bang đã thúc đẩy các hành
động thực tiễn nhằm đảm bảo"hầu hết chi tiêu của liên bang đều dành cho hai
chương trình Chăm sóc sức khỏe và Hỗ trợ y tế" [38].
- Phạm Thị Thanh Hương (4/2017), Đổi mới cơ chế quản lý tài chính các bệnh
viện công ở Việt Nam, Luận án Tiến s chuyên ngành Tài chính – ngân hàng, Học
viện Tài Chính, Hà Nội. Luận án nêu lý luận về nội dung các cơ chế quản lý tài
chính bệnh viện công từ cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho bệnh viện công, cơ
chế thanh toán BHYT với các bệnh viện công, cơ chế thanh toán dịch vụ y tế trực

4


tiếp từ người s dụng dịch vụ y tế và cơ chế tự chủ tài chính bệnh viện công; phân
tích thực trạng về cơ chế quản lý tài chính các bệnh viện công. Từ đó đề xuất các
nhóm giải pháp như: Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách y tế theo hướng hỗ trợ cho
các đối tượng thụ hưởng và theo phương thức Nhà nước đặt hàng, hoàn thiện cơ chế
thanh toán BHYT, Xây dựng giá dịch vụ y tế và minh bạch cơ chế thanh toán trực
tiếp từ người s dụng dịch vụ y tế, đẩy mạnh cơ chế tự chủ tài chính, Xây dựng cơ
chế kiểm tra, giám sát…

- Nguyễn Thị Lan Anh (02/2017), Chất lượng dịch vụ y tế công tại Bệnh viên
Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên, Luận án Tiến s chuyên ngành Quản trị công,
Đại học Thái Nguyên. Luận án đã chỉ ra được các yếu tố đo lường chất lượng dịch vụ
y tế tại bệnh viện công, tập trung vào chất lượng chức năng liên quan đến cách thức
cung ứng dịch vụ y tế của bệnh viện. Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở
tổng hợp nhiều nghiên cứu trước đây về chất lượng dịch vụ, trong đó có dịch vụ y tế.
Tác giả đã áp dụng mô hình đo lường chất lượng dịch vụ của Parasuraman để đo
lường chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên (nay
là bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên), xây dựng thang đo chất lượng dịch vụ dựa
vào thang đo SERQUAL để tiến hành thu thập số liệu sơ cấp về mong đợi và cảm
nhận c ng như sự hài lòng của người bệnh trong quá trình s dụng dịch vụ y tế tại
bệnh viện. Các yếu tố đưa ra trong khung phân tích của luận án là sự kết hợp hợp lý
của các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện.
Ngoài ra, có một số công trình khác:
- Nguyễn Thị Hồng Minh (2016), Quản lý Nhà nước đối với dự án đầu tư theo
hình thức đối tác công- tư trong xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ Việt Nam,
Luận án Tiến s chuyên ngành Quản lý kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
Luận án Dựa trên lý thuyết quản lý hành chính của Fayol, H. (2013) trong đó phân
tách các yếu tố của quá trình quản lý thành các chức năng tương đối độc lập, luận án
xác định được nội dung quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư theo hình thức đối
tác công - tư (PPP) trong xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ gồm:
hoạch định phát triển dự án PPP, xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, quy
định và pháp luật cho dự án PPP, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với dự án
PPP, giám sát và đánh giá dự án PPP. Qua đó, tác giả nêu các nhóm yếu tố ảnh
hưởng đến quản lý nhà nước đối với dự án PPP đường bộ, bao gồm: quan điểm về

6


vai trò của nhà nước, năng lực cán bộ quản lý nhà nước, năng lực thể chế của nhà



đã đưa ra một số giải pháp phát triển dịch vụ y tế ở các huyện miền của tỉnh Quảng
Ngãi đến năm 2020.
- Bùi Thị Yến Linh (2014), Tổ chức công tác kế toán tại các cơ sở y tế công
lập tỉnh Quảng Ngãi, Luận án Tiến s chuyên ngành Tài chính, Học viện Tài chính,
Hà Nội; Nguyễn Thị Thanh Vân (2007),“Tổ chức công tác kế toán thu, chi hoạt
động trong các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn Quảng Ngãi”, Luận văn
Thạc s ngành Tài chính, Học viện Tài chính, Hà Nội. Công trình này chỉ nghiên
cứu về tổ chức công tác kế toán thu, chi hoạt động trong các đơn vị sự nghiệp nói
chung của tỉnh Quảng Ngãi. Từ đó, đưa ra giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao công
tác kế toán thu, chi hoạt động tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Tóm lại, dù có khá nhiều công trình nghiên cứu về xã hội hóa nói chung và
lĩnh vực sự nghiệp công nói riêng ít nhiều có liên quan đến lĩnh vực y tế có giá trị
tham khảo, song nó c ng cho thấy lĩnh vực xã hội hóa ngành Y tế nghiên cứu ở góc
nhìn chính sách công hiện đang là khoảng trống hoặc quan tâm chưa đúng tầm. Vì
vậy, hiện chưa có đề tài nào trùng lặp với chủ đề em lựa chọn “Chính sách xã hội
hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn thạc s chuyên ngành
chính sách công.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chính sách xã hội hóa trong
ngành Y tế ở bối cảnh đổi mới và hội nhập của tỉnh Quảng Ngãi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận về chính sách xã hội
hóa.
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách xã hội hóa trong ngành Y tế ở tỉnh
Quảng Ngãi và xác định nguyên nhân.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp và đẩy mạnh chính sách xã hội hóa trong
ngành Y tế ở tỉnh Quảng Ngãi trong bối cảnh đổi mới và hội nhập.

6.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chính sách công về xã hội hóa ngành Y tế
để làm cơ sở định hình cho việc đề xuất các giải pháp về chính sách xã hội hóa
ngành Y tế.
9


6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu cung cấp những vấn đề có tính thực tiễn trên cơ sở xem
xét giữa mục tiêu dự kiến và thực hiện chính sách xã hội hóa ngành Y tế trên địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Góp phần cung cấp, tư vấn thêm những cơ sở khoa học và thực tiễn cho các
nhà hoạch định chính sách, chính quyền, các cơ quan, ban ngành hoàn thiện chính
sách xã hội ngành Y tế những năm tiếp theo.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và danh mục các tài liệu tham khảo, Luận
văn được kết cấu với 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách xã hội hóa ngành y tế ở Việt Nam, một
số kinh nghiệm thế giới
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách xã hội hóa ngành Y tế ở tỉnh
Quảng Ngãi.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách xã hội hóa ngành Y tế hiện nay.

10


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM
1.1. Một số cơ sở lý luận về chính sách xã hội hóa
1.1.1. Một số khái niệm công cụ

chung. Xã hội hóa y tế là quá trình huy động sự tham gia dưới các hình thức khác
nhau của các chủ thể và cộng đồng xã hội, đồng thời tăng cường vai trò của Nhà
nước đối với y tế nhằm nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ và mở rộng đối
tượng thực hiện, bảo đảm công bằng xã hội trong đóng góp và thụ hưởng các dịch
vụ y tế.
* Chính sách xã hội hóa
Chính sách (chính sách công) là tập hợp các quyết định quản lý có liên hệ mật
thiết với nhau, do các cơ quan có chức năng thẩm quyền xây dựng và ban hành, bao
gồm các mục tiêu và giải pháp nhất định, nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã
hội đặt ra cho các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Chính sách là tập hợp các quyết
định chính trị của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp hành
động để giải quyết các vấn đề của xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu tổng thể đã
xác định.
Xét trên giác độ của Nhà nước với tư cách là cơ quan ban hành, chính sách là
công cụ thể chế hóa hệ thống những quan điểm, đường lối của Đảng cầm quyền, mà
qua đó Nhà nước s dụng nó làm phương thức điều tiết các nguồn lực của các tổ
chức và cá nhân trong xã hội đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội để đạt được các
mục tiêu nhất định. Chính sách là sản phẩm một quá trình thực thi quyền lực chính
trị mà cốt lõi là tập trung thực thi quyền lực nhà nước. Chính sách thường tập trung
giải quyết các vấn đề cụ thể đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những
mục tiêu nhất định. Và do đó, mục đích căn bản của chính sách công là đưa ra
những quyết định hành động (bao hàm hành vi thực tiễn về những gì được thực sự
thi hành, chứ không chỉ là những tuyên bố bằng văn bản) và tăng khả năng hiện
thực hóa xã hội bằng kết quả thực tế.
Như vậy, chính sách xã hội hóa là công cụ thể chế hóa hệ thống những quan
điểm, đường lối của Đảng cầm quyền để Nhà nước s dụng nó làm phương thức
quản lý điều tiết các nguồn lực của các tổ chức và cá nhân đối với các lĩnh vực kinh

12



13


và thụ hưởng dịch vụ xã hội, mà không có sự loại trừ về giới tính, tuổi tác, thành
phần dân tộc, địa vị xã hội, tôn giáo, v.v… vì sự phân biệt. Điểm đáng lưu ý, mục
tiêu của việc nhà nước thực hiện chính sách xã hội hóa để thống nhất quản lý các
lĩnh vực được xã hội hóa nhằm đáp ứng nhu cầu cho mọi công dân, song c ng
không đồng nghĩa là nhà nước chia đều theo chủ nghĩa bình quân, mà còn phải đảm
bảo sự công bằng (không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đối tượng thụ hưởng) và
phát triển bền vững của xã hội với sự tham gia của cả xã hội.
Mục tiêu hàng đầu của chính sách xã hội hóa là tất cả vì con người, lấy cộng
đồng người dân được thụ hưởng làm trung tâm của chính sách. Trong đó, mục tiêu
xây dựng chính quyền địa phương để phát huy tối ưu về năng lực, hiệu lực và hiệu
quả của nó nhằm nâng cao tính chủ động, năng động sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của chính quyền để phục vụ tốt nhất cho nhu cầu đời sống xã hội và lợi
ích của cộng đồng người dân.
Điều kiện để đạt được các mục tiêu mà chính sách xã hội hóa cần hướng đến,
đòi hỏi phải tuân thủ và thực hiện nhất quán các nguyên tắc cơ bản của quản lý:
thượng tôn luật pháp; công khai và minh bạch, không đặc quyền đặc lợi; dân chủ,
công bằng, danh dự và trách nhiệm cá nhân; huy động mọi nguồn lực.
1.1.3. Vấn đề chính sách xã hội hóa
Quy trình thiết lập – thực thi chính sách thường trải qua các bước chủ yếu: (i)
nhận diện vấn đề chính sách; (ii) thiết lập chính sách; (iii) thông qua chính sách; (iv)
thực thi chính sách; (v) đánh giá chính sách. Trong đó, việc nhận diện vấn đề chính
sách xã hội hóa thường xuất phát từ những kẽ hở, tồn tại của chính sách đã có hoặc
từ những vấn đề mới mà chính sách trước đây chưa quy định.
Chính sách xã hội hóa vốn dĩ: chịu sự chi phối từ quan điểm chính trị của nhà
cầm quyền; phụ thuộc vào mức độ chất lượng và hiệu lực của hệ thống pháp luật về
tổng thể và hành lang pháp lý liên quan lĩnh vực được xã hội hóa; cam kết của giới

giải pháp ưu tiên hàng đầu của chính sách, nó sẽ quyết định quá trình áp dụng chính
sách xã hội hóa chẵng những ổn định trong trật tự1, mà còn quan trong hơn là giúp
điều tiết việc s dụng hợp lý nguồn ngân sách Nhà nước có hạn mà vẫn đáp ứng đầy
đủ nhu cầu xã hội và đảm bảo công bằng xã hội trong thụ hưởng.

Hiệu lực và hiệu quả quản lý c ng như kiểm soát tốt mọi hoạt động phát triển ổn định hay không phụ thuộc
rất lớn vào tính nghiêm minh của luật lệ trên tinh thần thượng tôn pháp luật.
1

15


Nhà nước phải hình thành bộ máy chuyên nghiệp với một đội ng cán bộ,
công chức có năng lực và gia tăng tính trách nhiệm - giải trình của chính quyền nhà
nước, nhất là người đứng đầu là tất yếu khách quan để tạo dựng niềm tin – uy tín để
huy động được các nguồn lực, tổ chức phối hợp thực hiện chính sách xã hội hóa và
các chính sách khác có liên quan nhằm đảm bảo chính sách xã hội hóa sẽ được triển
khai theo những phương hướng, mục tiêu chung, thống nhất và nhanh chóng trên
toàn xã hội, đảm bảo được phân bổ nguồn lực thực hiện chính sách xã hội hóa cân
đối và hợp lý trong đầu tư từng địa phương, vùng, miền.
S dụng công cụ tuyên truyền, vận động, giáo dục thuyết phục, phương tiện
thông tin truyền thông.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát ngoài việc phát hiện các sai phạm x lý kịp thời
trong quá trình thực hiện chính sách xã hội hóa để x lý kịp thời, thì còn giúp Nhà
nước phát hiện, đánh giá tính đúng đắn, những bất cập, chưa phù hợp của chính
sách để có những điều chỉnh, nhằm nâng cao hiệu quả tác động của chính sách trong
thực tế.
Nhà nước phải có cơ chế chính sách huy động sự tham gia của các chủ thể
khác vào quá trình quản lý và thực hiện xã hội hóa theo chức năng, nhiệm vụ đã
phân cấp và pháp luật quy định. Trong lĩnh vực huy động vốn và kích cầu đầu tư

thời c ng là chủ thể quyết định triển khai thực hiện chính sách.
Chính sách xã hội hóa được ban hành bởi cơ quan quyền lực Nhà nước cao
nhất để đảm bảo tính pháp lý cao trong quá trình thực hiện. Nhà nước là chủ thể
chịu trách nhiệm cao nhất và c ng là cuối cùng trong việc xây dựng, hoàn thiện và
triển khai tổ chức thực hiện chính sách xã hội hóa trên thực tế.
Không chỉ có chức năng nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng và hoạch định
chính sách xã hội hóa, Nhà nước còn phải s dụng quyền lực về mặt lập pháp, hành
pháp và tư pháp do nhân dân ủy thác để thực hiện chính sách xã hội hóa. Với ưu thế
về quyền lực, bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp, các nguồn lực và đội ng cán
bộ, công chức..., nhà nước giữ vai trò nòng cốt và chỉ có nhà nước mới có khả năng
quyết định mọi vấn đề trên quy mô toàn xã hội trong việc thực hiện, kiểm tra, giám
sát chính sách xã hội hóa thống nhất trong cả nước. Vì vậy, bản thân cơ quan nhà
nước c ng phải tuân thủ pháp luật về các lĩnh vực cần xã hội hóa và s dụng pháp
luật với tư cách là một phương tiện thống nhất để thực hiện có hiệu quả các mục

17


tiêu của chính sách xã hội hóa, cho nên, nhà nước cần phải nâng cao vai trò kiểm
tra, giám sát việc thực thi pháp luật về các lĩnh vực cần xã hội hóa để đảm bảo tính
nghiêm minh và công bằng của chính sách trong thực tiễn.
Đồng thời, Nhà nước là chủ thể chịu trách nhiệm chính, nhà nước phải tìm
kiếm các cách thức để huy động sự tham gia đóng góp nguồn lực của doanh nghiệp,
cộng đồng xã hội nhằm chia s trách nhiệm và gánh nặng ngân sách đối với nhà
nước. Nhà nước còn nắm giữ vai trò chủ đạo trong điều phối và tạo điều kiện, môi
trường để các chủ thể khác: tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, nhà đầu tư,
cá nhân,… với mong muốn, mục đích khác nhau cùng tham gia thực hiện chính
sách xã hội hóa nhưng phải hướng đến và đạt được mục tiêu chung.
Các cơ quan hành chính nhà nước trong bộ máy nhà nước triển khai thực hiện
chính sách xã hội hóa ngành Y tế, bao gồm: i/ Chính phủ: Với vai trò là cơ quan

Các chủ thể này cùng với sự hiểu biết, kinh nghiệm sẽ tư vấn, đưa ra các kịch bản
mà các chính sách xã hội hóa sẽ gặp phải trên thực tế để giúp nhà nước đưa ra được
các sáng kiến, giải pháp phù hợp nhằm rút ngắn được thời gian triển khai thực hiện
các chính sách trong thực tế. Đồng thời, họ còn đề xuất những ý kiến phản biện giúp
xây dựng chính sách hoàn chỉnh hơn c ng như tham gia vào việc tìm kiếm và hỗ trợ
góp phần giải quyết bài toán về nguồn lực để triển khai thực hiện chính sách xã hội
hóa các lĩnh vực xã hội. Sự đồng tình, ủng hộ của các chủ thể này là nhân tố quan
trọng, có tác động mạnh mẽ quyết định đến sự thành công trong thực thi chính sách
xã hội hóa.
- Đối tượng thụ hưởng là các cá nhân, nhóm, tổ chức và người dân với tư cách
là khách hàng s dụng dịch vụ xã hội ấy được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp từ
sự can thiệp chính sách. Đối tượng thụ hưởng trực tiếp là cá nhân, nhóm, hoặc tổ
chức trực tiếp s dụng “đầu ra” của chính sách. Động cơ và lợi ích của đối tượng
thụ hưởng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thực thi chính sách xã hội hóa, theo đó
mọi đối tượng thụ hưởng đều cố gắng cải thiện mức độ phúc lợi của họ và tối thiểu
hóa những thiệt hại của họ thông qua việc khẳng định vai trò của họ trong quá trình
thực thi chính sách.
1.1.6. Thể chế chính sách xã hội hóa
Thể chế bao gồm cả luật, các văn bản dưới luật (hay lệ) xuất phát từ Nhà
nước, thông lệ và các quy tắc ứng xử được thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng,
doanh nghiêp, và nhân dân không do nhà nước quy định [36]. Thể chế là những
19


quy tắc, chuẩn mực về hành vi, về cơ chế vận hành các tổ chức để dựa vào đó các
tác nhân tương tác với nhau nhằm thực hiện các quy tắc và quy phạm pháp luật, đạo
đức nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Theo ý nghĩa đó, thể chế được thiết lập là để
đảm bảo sự liên kết hợp tác giữa các tổ chức, cá nhân có hiệu quả mở đường cho
việc hiện thực hóa các mục tiêu đặt ra. Và trong thực tiễn, việc lựa chọn mô hình tổ
chức quản lý phụ thuộc nhiều vào hệ thống giám sát có hiệu quả hay không mà thể

hội hóa. Nếu lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách xã hội hóa
không mâu thuẫn với nhau và với đối tượng thụ hưởng thì chính sách được triển
khai thực hiện thuận chiều; và ngược lại, lợi ích của các đối tượng tham gia thực
hiện chính sách mâu thuẫn với lợi ích của đối tượng thụ hưởng thì thực hiện chính
sách sẽ trở ngại, thậm chí còn thất bại.
Ngoài ra, nhu cầu và sự đồng tình ủng hộ của người dân là rất quan trọng, là
cơ sở hạch toán liệu việc đề ra và thực thi chính sách xã hội hóa lĩnh vực xã hội ấy
có cần thiết hay không. Việc thực hiện các mục tiêu chính sách không chỉ do các cơ
quan nhà nước làm, mà phải có sự tham gia của cộng đồng người dân. Bởi họ chẳng
những là người trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu chính sách xã hội hóa, mà
còn là đối tượng trực tiếp thụ hưởng những lợi ích do chính sách mang lại. Đây
được xem là nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của một
chính sách. Do vậy, một chính sách xã hội hóa đáp ứng được nhu cầu thực tế của
người dân và xã hội về mục tiêu và biện pháp thực hiện thì nó sẽ nhanh chóng đi
vào lòng dân, được nhân dân ủng hộ thực hiện; và ngược lại không phù hợp sẽ bị
chối bỏ.
* Nhóm yếu tố chủ quan
Các yếu tố thuộc về cơ quan công quyền, cán bộ, công chức chủ động chi phối
quá trình thực thi chính sách xã hội hóa. Những yếu tố chủ quan gồm:
- Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong qui trình tổ chức thực thi chính sách.
Mỗi bước trong qui trình đều có vị trí, ý nghĩa nhất định đối với quá trình thực thi
chính sách. Việc làm này được thực hiện tốt sẽ củng cố thêm lòng tin của người dân
vào chính sách xã hội hóa của nhà nước.
- Năng lực thực thi chính sách của CBCC trong bộ máy quản lý nhà nước là
yếu tố chủ quan có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thi chính sách xã hội
hóa. Năng lực thực thi của CBCC là thước đo bao hàm nhiều tiêu chí phản ánh về

21



22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status