VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG
NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN TỈNH
QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
VIỆNXÃ
HÀN
KHOA HỌC
HỘILÂM
VIỆT NAM
KHOA
HỌCKHOA
XÃ HỘI
VIỆT
HỌC
VIỆN
HỌC
XÃNAM
HỘI
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐỖ PHÚ HẢI
HÀ NỘI, năm 2016
HÀ NỘI, năm 2017
LỜI CẢM ƠN
Sau 02 năm học tập và nghiên cứu chương trình đào tạo thạc sĩ, chuyên
ngành Chính sách công do quý thầy cô giáo ở Học viện Khoa học xã hội Việt
Nam giảng dạy. Bản thân tôi đã được Hội đồng thống nhất giao đề tài luận
văn thạc sĩ “Chính sách phát triển giao thông nông thôn từ thực tiễn tỉnh
Quảng Ngãi”. Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tôi đã nhận được
nhiều sự giúp đỡ rất nhiệt tình và có hiệu quả của Ban Giám đốc, các khoa,
phòng và quý thầy, cô trong Học viện Khoa học xã hội Việt Nam đã trực tiếp
tham gia giảng dạy lớp Chính sách công đợt 2 năm 2015, quý thầy cô công
tác tại Văn phòng Học viện Khoa học xã hội ở thành phố Đà Nẵng, lãnh đạo
các phòng ban của Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ngãi, Sở Kế hoạch và
Đầu tư tỉnh Quảng Ngãi, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ngãi và cùng
đông đảo bà con nhân dân của
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy PGS.TS. Đỗ Phú Hải,
người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài cho tôi với tất cả lòng nhiệt tình và sự
quan tâm sâu sắc.
Bên cạnh đó, tôi cũng gửi lời cảm ơn của mình đến gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp, luôn quan tâm, tạo điều kiện, chia sẻ, động viên tôi trong suốt
thời gian học tập và nghiên cứu luận văn.
Mặc dù bản thân đã cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được sự góp ý của quý
TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI ....... 34
2.1. Kết quả thực hiện chính sách phát triển giao thông nông thôn tại tỉnh
Quảng Ngãi ..................................................................................................... 34
2.2. Đánh giá sự tham gia của các chủ thể phát triển GTNT tại tỉnh Quảng
Ngãi ................................................................................................................. 47
2.3. Đánh giá những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách phát triển
giao thông nông thôn tại tỉnh Quảng Ngãi ...................................................... 49
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ BẢO ĐẢM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG
THÔN ............................................................................................................. 64
3.1. Quan điểm của Đảng về chính sách phát triển giao thông nông thôn ..... 64
3.2. Mục tiêu chính sách phát triển giao thông nông thôn .............................. 65
3.3. Các giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực hiện chính sách phát triển giao
thông nông thôn............................................................................................... 67
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GTNT
Giao thông nông thôn
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HĐND
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
Trang
hình
Hình 2.1.
Bản đồ Tỉnh Quảng Ngãi
35
Hình 2.2.
Làm đường GTNT tại xã Phổ Hoà huyện Đức Phổ tỉnh
40
Quảng Ngãi
Hình 2.3.
Làm đường GTNT tại xã Đức Nhuận huyện Mộ Đức tỉnh
45
Quảng Ngãi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giao thông nông thôn (GTNT) là một trong những mắt xích thiết yếu
nối các vùng nông thôn với hệ thống quốc lộ, đường tỉnh, khu đô thị, khu
công nghiệp, khu chế xuất; thúc đẩy phát triển KT-XH khu vực nông thôn,
vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện phát triển cơ giới hoá trong sản xuất, trao đổi
hàng hoá, đẩy mạnh, nâng cao đời sống tinh thần vật chất cho người dân khu
vực nông thôn. Trong tiến trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn, GTNT có vai trò và vị trí vô cùng quan trọng.
Thời gian qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước GTVT đã có sự
phát triển vượt bậc, góp phần quan trọng trong việc phát triển KT-XH nói
chung và phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng.
Đến nay đã có mạng lưới giao thông với đủ các phương thức vận tải, phân bổ
tương đối hợp lý trên khắp mọi miền đất nước, tạo ra sự liên hoàn từ quốc lộ,
đường tỉnh, đường huyện đến đường xã, thôn, bản góp phần thực hiện các
chương trình mục tiêu quốc gia và phát triển nông thôn. Về cơ bản đã chấm
dứt tình trạng ách tắc vận tải, việc vận chuyển hàng hoá phục vụ sản xuất
nông nghiệp, sự giao lưu đi lại của nông dân thuận lợi hơn.
Hệ thống đường GTNT lan tỏa đến mọi vùng, miền và các khu vực
nông thôn đồng bằng, trung du miền núi và đến cả các vùng sâu, vùng xa
trong cả nước, trực tiếp phục vụ sinh hoạt, sản xuất, giao lưu văn hóa xã hội,
trao đổi, mua bán hàng hóa của đồng bào ở các vùng nông thôn từ đồng bằng
đến trung du, miền núi, từ ven biển đến biên giới hải đảo.
Tuy đã có bước phát triển vượt bậc so với giai đoạn trước năm 2010,
nhưng kết cấu hạ tầng GTNT còn nhiều tồn tại: Cả nước có 65 xã chưa có
đường ô tô đến trung tâm; nhiều xã ở miền núi có đường ô tô đến trung tâm
1
mới giai đoạn 2010-2020; Bộ Giao thông vận tải ban hàng Quyết định số
1509/QĐ-BGTVT ngày 08/7/2011 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển
GTNT Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Ngoài ra, kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, muốn phát
triển nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp nông thôn, một trong những vấn đề trước hết phải giải quyết
là phát triển đồng bộ GTNT. Chính vì vậy, GTNT là một bộ phận không thể
thiếu trong hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân.
Mặt khác, tiêu chí phát triển GTNT là một tiêu chí rất quan trọng trong
19 tiêu chí phải đạt theo tiêu chuẩn xây dựng xã nông thôn mới
(1)
; đặc biệt
đối với Quảng Ngãi, một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ với diện tích đất nông
nghiệp chiếm tỷ lệ 62,5% tổng diện tích của tỉnh và 13 huyện, 01 thành phố
với tổng số 184 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh (chiếm tỷ lệ 75%)
(2)
.
Thực tế cho thấy phát triển giao thông nông thôn là yêu cầu cấp thiết nhằm
xây dựng nông thôn mới, tạo tiền đề, làm động lực phát triển kinh tế xã hội,
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Để cụ thể hóa các mục tiêu đặt ra, Hội đồng
nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết về việc thông qua Đề án Phát triển giao
thông nông thôn, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
chuyên ngành Chính sách công. Đây là vấn đề cấp thiết, phù hợp với nhiệm vụ
phát triển KT-XH hiện nay và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việt Nam trong những năm qua cũng có nhiều đề tài khoa học các cấp,
nhiều bài báo khoa học, bài tham luận, một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ
nghiên cứu về xây dựng và phát triển giao thông vận tải nói chung, trong phát
triển giao thông nông thôn nói riêng đã được thực hiện dưới nhiều góc độ
khác nhau. Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như:
Trần Minh Phương (2012), Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện
Chiến lược phát triển.
Đỗ Đức Tú (2012), Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông Vùng Đồng
bằng sông Hồng (ĐBSH) đến năm 2030 theo hướng hiện đại, Luận án tiến sĩ
kinh tế, Viện Chiến lược phát triển.
Nhóm tài liệu về chính sách công: Chính sách công được nghiên cứu
4
bởi chính trị học từ phương diện nó hiện diện với tư cách là sản phẩm, là cách
thức của các nhà nước và các chủ thể chính trị thông qua nhà nước để thực
hiện các hoạt động kiến tạo, hay kiểm soát, hay điều chỉnh các quá trình phát
triển xã hội. Đồng thời chính qua chính sách công chúng ta còn tình trạng đáp
ứng và hiệu quả hoạt động của chính nhà nước. Tuy vậy, thực tế phát triển
của tri thức khoa học về chính sách công cho thấy nó đã trở thành và là đối
tượng nghiên cứu của rất nhiều chuyên ngành khoa học.
Những công trình cung cấp cho chúng ta khái niệm chung về chính
sách công và phân loại chính sách công chiếm tỷ lệ khá lớn trong các ấn phẩm
loại ở Việt Nam, có thể kể đến ở đây như: Tìm hiểu về khoa học chính sách
công (1999) Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Viện Khoa học chính trị, Nxb
phát triển giao thông vận tải nói chung và phát triển giao thông nông thôn nói
riêng ở nước ta. Các tác giả đã nêu những lý luận cơ bản nhất về phát triển
giao thông nông thôn, đánh giá thực trạng phát triển giao thông nông thôn
nước ta trong thời gian qua và đưa ra những những giải pháp rất quan trọng về
chính sách để định hướng phát triển giao thông nông thôn ở Việt Nam trong
những năm tới. Đây là các tư liệu khoa học quý để học viên tham khảo chọn
lọc trong quá trình làm luận văn. Với luận văn này, học viên sẽ cố gắng tìm
hiểu một khía cạnh mới trong cách tiếp cận và cách nhìn nhận khác về chính
sách phát triển giao thông nông thôn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu lý luận chính sách phát triển GTNT; khảo sát,
đánh giá chính sách phát triển GTNT tại tỉnh Quảng Ngãi; từ đó đề xuất giải
pháp góp phần tiếp tục hoàn thiện chính sách phát triển GTNT tại tỉnh Quảng
Ngãi trong những năm tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu lý luận về chính sách phát triển GTNT ở Việt
Nam.
7
Thứ hai, khảo sát, đánh giá chính sách phát triển GTNT tại tỉnh Quảng
Ngãi: mục tiêu, giải pháp và công cụ, vai trò của các chủ thể tham gia thực
hiện chính sách các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách
phát triển GTNT tại tỉnh Quảng Ngãi.
Thứ ba, lập luận quan điểm, mục tiêu và đề xuất giải pháp hoàn thiện
chính sách phát triển GTNT tại tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và ở nước ta nói
chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Cán bộ làm công tác GTNT, 18 người dân tại tỉnh Quảng Ngãi: các câu hỏi
được đặt ra xung quanh tình hình phát triển GTNT tại tỉnh Quảng Ngãi như
thế nào.
Về phương pháp định lượng: Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi về việc
thực hiện chính sách phát triển GTNT tại tỉnh Quảng Ngãi. Số người dân
được điều tra trên 6 huyện (huyện Nghĩa Hành, huyện Bình Sơn, huyện Ba
Tơ, huyện Sơn Hà, huyện Mô Đức và huyện Đức Phổ) là 160 người/6 huyện
Phương pháp xử lý số liệu:
Sử dụng phương pháp thống kê đơn giản, sử dụng phần mềm thống kê
Excel để thao tác dữ liệu.
Phương pháp so sánh: so sánh thực trạng phát triển GTNT tại tỉnh
Quảng Ngãi giữa các năm từ 2010 đến năm 2017.
Phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu:
Số liệu thứ cấp: Sử dụng các số liệu thông tin thu thập được qua sách
báo, tạp chí, báo cáo có liên quan đến phát triển GTNT.
Số liệu sơ cấp: Thu thập qua khảo sát thực tế tại tỉnh Quảng Ngãi.
Các văn bản: Luật, nghị định, quyết định, thông tư, ... của Nhà nước về
phát triển GTNT.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đóng góp cho nền tảng khoa học chính sách công ở nước ta,
9
trong đó có chính sách phát triển giao thông nông thôn. Nghiên cứu có đóng
góp mới từ thực tiễn chính sách phát triển giao thông nông thôn tại tỉnh
Quảng Ngãi. Kết quả nghiên cứu chính sách giúp tìm hiểu thực trạng thực
hiện chính sách phát triển GTNT tại tỉnh Quảng Ngãi. Đánh giá, phân tích
những nguyên nhân của phát triển GTNT và những nhân tố ảnh hưởng phát
công mà chúng ta có thể áp dụng trong nghiên cứu và hành động thực tiễn:
“Chính sách công là một tập hợp các quyết đinh chính trị có liên quan của
Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể và giải pháp, công cụ để thực hiện
giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”. [16]
Giao thông nông thôn là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội nông thôn, cần được ưu tiên đầu tư nhằm tạo tiền đề cho phát
triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực, bảo đảm
quốc phòng, an ninh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn.
Phát triển giao thông nông thôn phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát
triển kinh tế xã hội, chiến lược, quy hoạch phát triển giao thông vận tải trên địa
bàn, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; phát triển
Giao thông nông thôn một cách bền vững, tạo sự gắn kết, liên hoàn thông suốt
từ mạng lưới giao thông quốc gia đến đường tỉnh, đường huyện, đường thôn
xã, giữa các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá lớn, vùng nguyên liệu với các
11
tụ điểm công nghiệp chế biến, giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ, kết hợp giữa
kinh tế với an ninh, quốc phòng, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát
triển kinh tế đất nước và nhu cầu đi lại của nhân dân.
Từ đó khái niệm chính sách phát triển GTNT được xác định là:
“Chính sách phát triển GTNT là một tập hợp các quyết định có liên
quan của Nhà nước lựa chọn mục tiêu cụ thể và giải pháp, công cụ chính
sáchnhằm thực hiện giải quyết vấn đề chính sách phát triển giao thông nông
thôn để phát triển kinh tế - xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng
văn minh”.
Quyết định chính sách phát triển GTNT là các quyết định về đầu tư xây
dựng mới hoặc cải tạo nâng cấp, công trình GTNT nhằm tạo động lực phát triển,
được thiết lập và phải có đơn vị đầu mối trong quản lý bảo trì đường nông
thôn. Nhanh chóng đưa vào danh mục cân đối, bố trí ngân sách cho công tác
quản lý bảo trì từ nguồn ngân sách địa phương. Ðể công tác quản lý giao
thông nông thôn ngày càng sát với thực tế, có sự theo dõi cập nhật một cách
có hệ thống để có những thay đổi và điều chỉnh chính sách cho kịp thời, nhất
thiết phải xây dựng một hệ thống thông tin về giao thông địa phương.
Trong những năm qua, cả nước đã xây mới được nhiều km đường
GTNT, xây dựng nhiều cầu cống GTNT cũng như nâng cấp cải tạo được
nhiều tuyến đường GTNT phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH nông thôn và
nhu cầu đi lại của người dân nông thôn. Nhằm phù hợp với sự phát triển kinh
tế của địa phương, nhiều tuyến đường huyện đã được nâng chuyển lên thành
đường tỉnh, một số các tuyến đường xã quan trọng đã được kéo dài nâng lên
đường huyện và nhiều tuyến đường xã mới đã được xây dựng. Theo số liệu
thống kê, đến 01/7/2011 cả nước đã có 8940 xã, chiếm 98,6% tổng số xã cả
nước đã có đường ô tô đến trung tâm xã (tăng 2,3% so với năm 2006), trong
đó 8803/8940 có xã hệ thống giao thông sử dụng cả 4 mùa, tương đương với
97,1% (tăng 3,5% so với năm 2006); số xã có đường ô tô đến trung tâm xã đã
13
được nhựa hóa, bê tông hóa là 7917 xã chiếm 87,3% (tăng 17,2% so với năm
2006). Điều đáng chú ý là không chỉ đường đến trung tâm huyện, xã được chú
trọng mà đường đến các thôn, bản miền núi cũng được các cấp chính quyền
hết sức quan tâm đầu tư với số liệu rất ấn tượng đó là có tới 89,5% số thôn,
bản có đường ô tô đến được. Điều đó góp phần thay đổi cuộc sống của người
dân nơi vùng cao vốn chịu nhiều thiệt thòi về điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng
cũng như văn hóa xã hội. So với năm 2005, tổng số chiều dài km đường giao
thông nông thôn tăng thêm 34.811km, trong đó số km đường huyện tăng thêm
1.563km, đường xã tăng 17.414km và đường thôn xóm tăng 15.835km. Để
công lao động xây dựng giao thông nông thôn. Đã xây dựng mới được 15.185
km đường; sửa chữa, nâng cấp 74.329 km đường các loại; xây dựng 7.102
cái/120.268 md cầu bê tông cốt thép; 738 cái/20.039 md cầu liên hợp; 7.146
cái/10.289 md cầu sắt; 537 cái/24.082 md cầu treo; 4.145 cái/40.466 md cầu
gỗ; thay thế 873 cái/16.449 md cầu khỉ; xây dựng và cải tạo 119.679
cái/197.766 md cống các loại; đến nay đã có 9.051 xã/9.200 xã có đường ô tô
về trung tâm xã.
Với số liệu trên cho thấy, hệ thống đường nông thôn chưa theo kịp với
tốc độ phát triển và tiềm lực của các vùng kinh tế sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp. Hệ thống đường giao thông nông thôn chưa được phủ kín và chưa có
sự kết nối liên hoàn từ hệ thống đường tỉnh, đường huyện xuống nông thôn
nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo, Tiêu chuẩn kỹ
thuật còn thấp, chủ yếu là đường chỉ có 01 làn xe; an toàn giao thông nông
thôn vẫn còn nhiều bất cập như thiếu hệ thống biển báo, tình trạng hành lang
an toàn giao thông đường bộ bị lấn chiếm, phơi rơm rạ, bề rộng mặt đường
hẹp, tầm nhìn người lái xe ngắn, nhiều dốc cao và nguy hiểm, chất lượng
công trình còn thấp, tải trọng thấp, chưa đồng bộ trong thiết cầu cống và
đường. Chất lượng mặt đường giao thông nông thôn chưa cao. Hiện nay, tỷ lệ
15
mặt đường là đất và cấp phối còn chiếm tỷ lệ cao, gây khó khăn cho đi lại và
chuyển hàng hóa vào mùa mưa.
Đối với quy hoạch kết cấu hạ tầng nông thôn thì hầu hết các huyện
trong các tỉnh thành trong cả nước đều chưa có quy hoạch đồng bộ mạng lưới
giao thông nên chưa xây dựng được kế hoạch lâu dài để phát triển, điều này
làm cho việc đầu tư còn tự phát, chưa có tính định hướng, gây ảnh hưởng đến
việc nâng cấp, cải tạo và phát triển sau này.
Bên cạnh đó cơ cấu tổ chức quản lý hệ thống đường giao thông nông
từ mạng lưới giao thông quốc gia đến đường tỉnh, đường huyện, đường thôn
xã, giữa các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá lớn, vùng nguyên liệu với các
tụ điểm công nghiệp chế biến, giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ, kết hợp giữa
kinh tế với an ninh, quốc phòng, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát
triển kinh tế đất nước và nhu cầu đi lại của nhân dân.
Phát huy lợi thế về địa lý và điều kiện tự nhiên của từng vùng để phát
triển Giao thông nông thôn, kết hợp giữa giao thông đường bộ và giao thông
đường thủy, giữa giao thông với thủy lợi, nông lâm nghiệp và các ngành kinh
tế trên địa bàn.
Có chính sách ưu tiên phát triển Giao thông nông thôn ở vùng núi cao,
vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có vị trí quan trọng trong đảm bảo quốc
phòng, an ninh, nhằm tạo động lực phát triển, giảm chênh lệch giữa các vùng,
miền.
Có cơ chế, chính sách quản lý, bảo trì hệ thống Giao thông nông thôn
một cách hợp lý, hiệu quả với sự tham gia của các cấp chính quyền và của
người dân.
Huy động tối đa mọi nguồn lực phát triển Giao thông nông thôn, từ ngân
sách Trung ương, ngân sách địa phương, tiềm năng to lớn của nhân dân, của
các nhà tài trợ quốc tế, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Tích cực đưa khoa học kỹ thuật, vật liệu mới, sử dụng vật liệu tại chỗ,
17
công nghệ thi công đơn giản, dễ thực hiện để đông đảo nhân dân tự quản lý,
tự làm có sự hướng dẫn về kỹ thuật.
Tổ chức đưa các loại hình vận tải hành khách, hàng hoá và phương tiện
vận tải phù hợp với điều kiện địa phương vào hoạt động khai thác nhằm tạo
thuận lợi cho giao thương hàng hóa, hành khách khu vực nông thôn.
Dành quỹ đất hợp lý để phát triển kết cấu hạ tầng Giao thông nông thôn