ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHAN VĂN TRUNG
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG
NÔNG THÔN ĐẾN HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN
Ở HÀ TĨNH TỪ 2006 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy.
Tác giả luận văn Phan Văn Trung
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
3.1. Mục đích nghiên cứu 10
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4.1. Đối tượng nghiên cứu: 10
4.2. Phạm vi nghiên cứu: 10
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11
5.1. Cơ sở lý luận: 11
5.2. Cơ sở thực tiễn: 11
5.3. Phương pháp nghiên cứu 11
6. Đóng góp của đề tài 11
7. Kết cấu của luận văn 11
Chương 1: HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN VÀ
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN 12
1.1. Hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn 12
1.1.1. Khái niệm hiện đại hóa 12
1.1.2. Hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn 15
1.2. Chính sách phát triển giao thông nông thôn ở Việt Nam 24
1.2.1. Khái lược chính sách phát triển giao thông nông thôn ở Việt Nam 24
1.2.2. Nội dung chính sách phát triển giao thông nông thôn ở Việt Nam
hiện nay. 27
1.2.3. Một số đánh giá chính sách phát triển giao thông ở Việt Nam. 29
1.3. Tác động của chính sách phát triển giao thông với quá trình hiện đại
hóa nông nghiệp - nông thôn 30
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
KT – XH
Kinh tế - xã hội
2
QP -AN
Quốc phòng, an ninh
3
GTNN
Giao thông nông thôn
4
CNH-HDH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
5
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
6
GTVT
Giao thông vận tải
7
ANND
An ninh nhân dân
8
NN
Nhà nước
9
ĐCS
trong tổng thể phát triển chung của đất nước, trong đó, Văn kiện Đại hội XI chỉ
rõ: "phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn". [9; tr.57]
Chính sách phát triển về nông nghiệp, nông dân và nông thôn thời gian
qua đã trở thành động lực phát triển của nền kinh tế và xã hội của Hà Tĩnh nói
riêng, của cả nước trong thời kỳ đổi mới nói chung. Tuy nhiên, phát triển nông
- lâm - ngư nghiệp trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã gặp phải
một số vấn đề, thách thức như: Khả năng cạnh tranh, năng suất, chất lượng của
sản phẩm nông nghiệp còn thấp; sự gắn kết giữa sản xuất và thị trường nội địa
và quốc tế trong nông nghiệp còn rất yếu; nền nông nghiệp phát triển theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chưa hiệu quả, kém bền vững.
2
Vậy làm thế nào, để tạo ra động lực duy trì sự phát triển bền vững nhất
là với các tỉnh nghèo như tỉnh Hà Tĩnh? Khi mà những tác động của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đặt ra những thách thức cho
chính sự phát triển của nông thôn, nông nghiệp như: diện tích đất sản xuất
nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, áp lực về lao động trong nông nghiệp cũng
ngày càng tăng lên, vấn đề vốn, và những đòi hỏi phải thay đổi kỹ thuật, tập
quán canh tác.v.v cho đến những biến đổi về cấu trúc cộng đồng cư dân nông
thôn và lao động nông nghiệp. Chắc chắn, ở đây, cần có sự kết hợp đồng bộ
nhiều biện pháp xây dựng và phát triển khác nhau như nâng cao hiệu quả sản
xuất nông nghiệp, chăm lo đời sống cho nhân dân và quyết tâm thay đổi bộ
mặt nông thôn bằng chính sách gắn kết công - nông nghiệp với dịch vụ, đưa
dịch vụ về đến nông thôn, công nghiệp hóa nông nghiệp bằng cách cung cấp
máy móc cho nông nghiệp, cho quy trình chế biến các sản phẩm từ nông
nghiệp, tập trung giải quyết vấn đề thừa lao động trong nông nghiệp, tăng
thêm cơ hội cho người dân, để họ nâng cao đời sống của mình.
Để góp phần thay đổi toàn bộ diện mạo ở nông thôn Việt Nam thời gian
vừa qua, trong tổng thể các phương sách xây dựng nông nghiệp và phát triển
Sau 9 năm kháng chiến chống đế quốc Pháp xâm lược lần thứ hai, chúng
ta đã giải phóng được một nửa đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III
(1960) đánh dấu giai đoạn phát triển mới của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Đại hội đề ra mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu
tranh giải phóng miền Nam. Đại hội đề ra kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961
- 1965): Xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ
quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của công nghiệp hoá được đặt ra
cho giai đoạn này là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa
xã hội, thực hiện ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng
thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
4
Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, chúng ta tiếp
tục thực hiện công nghiệp hoá theo mô hình kế hoạch tập trung, bao cấp như
trước chiến tranh. Vẫn tiếp tục ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đồng thời
phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Theo đó, từ năm 1976 - 1985
chúng ta đầu tư 1/3 tổng chi ngân sách cho công nghiệp nặng, trong nông
nghiệp thực hiện mô hình tập thể hoá triệt để. Chính sách trên đã bộc lộ nhiều
bất cập, không phù hợp với thực tiễn nước ta và xu thế phát triển của thời đại.
Cơ cấu giữa nông, công nghiệp và dịch vụ bộc lộ những bất hợp lý lớn, không
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, sản phẩm lao động làm ra không đủ đáp
ứng những nhu cầu thiết yếu của xã hội. Điều đó chứng tỏ rằng chúng ta
không thể duy trì quan niệm về công nghiệp hoá như trước đây mà phải nhận
thức lại một cách sâu sắc và đổi mới căn bản nội dung của công nghiệp hoá
cho phù hợp với tình hình mới của đất nước và quốc tế. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI, tháng 12 - 1986 đã đánh giá thực trạng kinh tế xã hội của
nước ta. Nhận thức cả mặt ưu và khuyết điểm của quá trình công nghiệp hoá
trước đó, đưa ra đường lối đổi mới toàn diện và đồng bộ cả về nhận thức,
quan điểm và chỉ đạo thực hiện.
Trước hết là đổi mới tư duy lý luận mà trọng tâm là tư duy kinh tế, tiến
cầu cấp bách là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn.
Tháng 7/1994 Hội nghị TW 7 khoá VII xác định chiến lược công nghiệp
hoá, hiện đại hoá với nội dung là:
Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh
doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là
chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công
nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
6
Hội nghị còn nhấn mạnh phải kiên trì hướng về xuất khẩu đồng thời thay
thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả.
Đại hội VIII tiếp tục những quan điểm, chủ trương, chính sách đổi mới
đất nước trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi. Nhất quán
với quan điểm công nghiệp hoá của Đảng đã được khẳng định trong các Đại
hội VI và VII, Đại hội VIII nhấn mạnh: “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội
nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế
nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả”. Đại hội
xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá những năm trước mắt là phải tập trung
vào nông nghiệp và nông thôn:
Đại hội IX (2001) tiếp tục kế thừa và phát huy chiến lược phát triển kinh
tế xã hội và chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đại hội nhấn
mạnh: “Con đường công nghiệp hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời
gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt” đồng thời tiếp
tục khẳng định quan điểm gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đến Đại hội X chỉ rõ: “Tranh thủ cơ
hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra về tiềm năng lợi thế của nước ta để rút
ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh
tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Đại hội XI, bổ sung và phát triển
hoá,v.v Vì vậy, cần có những nghiên cứu chuyên sâu về những yếu tố và điều
kiện để rút ngắn công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, trong đó có yếu
tố văn hoá.
Nhóm tài liệu về chính sách công: Chính sách công được nghiên cứu bởi
chính trị học từ phương diện nó hiện diện với tư cách là sản phẩm, là cách
thức của các nhà nước và các chủ thể chính trị thông qua nhà nước để thực
8
hiện các hoạt động kiến tạo, hay kiểm soát, hay điều chỉnh các quá trình phát
triển xã hội. Đồng thời chính qua chính sách công chúng ta còn tình trạng đáp
ứng và hiệu quả hoạt động của chính nhà nước. Chỉ bằng ấy ý nghĩa vấn đề
chính sách công đã thể hiện là chủ đề phức tạp, lý thú của các nghiên cứu
chính trị học. Tuy vậy, thực tế phát triển của tri thức khoa học về chính sách
công cho thấy nó đã trở thành, và là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều
chuyên ngành khoa học.
Những công trình cung cấp cho chúng ta khái niệm chung về chính sách
công và phân loại chính sách công chiếm tỷ lệ khá lớn trong các ấn phẩm loại
này ở Việt Nam, có thể kể đến ở đây như: Tìm hiểu về khoa học chính sách
công (1999) Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Viện Khoa học chính trị, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách
công, Nguyễn Hữu Hải chủ biên (2004), Học viện Hành chính Quốc gia, Nxb
Đại học Quốc gia, Hà Nội v.v. Trong những công trình này các tác giả đã
bức tranh về sự đa chiều của các quan niệm về chính sách công qua phân tích
các định nghĩa khác nhau, nhất là quan niệm của các học giả phương Tây, như
Anderson, T. Dye, B. Guy Peter từ đó đưa ra định nghĩa chính sách công
của mình: Những hành động ứng xử của nhà nước với các vấn đề phát sinh
trong đời sống cộng đồng, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau [32;
tr.24]. Ngoài ra, qua phân tích chu trình chính sách các tác giả đã nhấn mạnh
vai trò của nhà nước với tư cách là những chủ thể chính sách. Ngoài ra việc
phân tích các lý thuyết về chính sách công, ví dụ, lý thuyết lựa chọn công, lý
của nhà nước Việt Nam hiện nay. Nhưng đó không phải là những tổng kết,
hoặc sáng tạo lý thuyết cho sự hoạch định chính sách giao thông nông thôn.
Vì vậy, đây có thể coi là một khoảng trống nhất định chính sách giao thông
nông thôn từ phương diện kiến tạo môi trường cho công cuộc hiện đại hóa
nông thôn ở nước ta hiện nay.
10
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ khảo cứu một số vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về
chính sách và tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến
khu vực nông nghiệp, nông thôn, luận văn hướng đến phân tích thực trạng
thực hiện chính sách phát triển giao thông nông thôn của Đảng bộ, Chính
quyền và nhân dân Hà Tĩnh và đề xuất một số khuyến nghị về thực hiện chính
sách trên tại địa phương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách phát
triển giao thông nông thôn, công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Thứ hai, Phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế trong hoạch định
và chỉ đạo thực hiện của chính sách phát triển giao thông nôn thôn ở Hà Tĩnh
hiện nay.
Thứ ba, đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát triển chính sách giao
thông nông thôn của tỉnh Hà Tĩnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Hà Tĩnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu các chính sách phát triển giao thông nông thôn ở Hà
Đóng góp về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng
cho công tác triển khai chính sách phát triển giao thông nông thôn và thực hiện
chủ trương hiên đại hóa nông nghiệp – nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài
gồm hai chương, năm tiết.
12
Chương 1
HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN VÀ CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN
1.1. Hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn
1.1.1. Khái niệm hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa bắt đầu ở các nước tư bản trong đó đáng
chú ý là cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh. Sau đó là hàng loạt các
quốc gia, vùng lãnh thổ khác ở mọi châu lục bằng những con đường, mô hình,
cách thức khác nhau đều đã hoặc đang thực hiện quá trình này. Để cung cấp
luận cứ xem xét cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa hoá ở Việt Nam,
cần tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
khái niệm, đặc trưng và các giai đoạn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Khi nghiên cứu về công nghiệp hóa giai đoạn đầu (cách mạng công
nghiệp), một số tác giả quan niệm: đó là quá trình trang bị cho một vùng hay
một quốc gia các phương tiện máy móc, kỹ thuật với trọng tâm là công nghiệp
cơ khí chế tạo máy. Theo quan niệm này thì nông nghiệp và các ngành kinh tế
khác phải lệ thuộc vào công nghiệp.
Những năm 1960 – 1990 một số nước Đông và Đông Nam Á tiến hành
quá trình công nghiệp hóa theo chiến lược rút ngắn thành công. Nhiều nhà
nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò, vị trí của công nghiệp chế tạo, công nghiệp
chế biến có trình độ khoa học – công nghệ cao, sử dụng hiệu quả (tiết kiệm)
chính những nước đó.
Các mô hình hiện đại hóa về sau không xuất phát từ những điều kiện
kinh tế văn hóa nội tại của nước đó mà du nhập, vay mượn những yếu tố từ
phương Tây, các nhà lý luận gọi là hiện đại hóa xuất phát từ yếu tố ngoại
sinh hay mà trường hợp điển hình là hiện đại hóa đuổi đuổi theo.
14
Khảo cứu lịch sử công nghiệp hóa, hiện đại hoá, tác giả Lương Việt Hải
(Hiện đại hoá xã hội-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2001) đưa ra nhận định: các nhà nghiên cứu lý luận hiện
đại hóa trong lịch sử tổng kết rằng cả hiện đại hóa phát nguyên và hiện đại hóa
đuổi theo đều có cốt lõi là tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ công nghiệp
hóa mà biểu hiện rõ nhất của nó là cuộc cách mạng công nghiệp. Nó được bắt
đầu từ sự phân công lao động giản đơn đến công trường thủ công và cơ khí
hóa. Mục đích cuối cùng của hiện đại hóa là xây dựng một xã hội giàu mạnh,
văn minh, con người được thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần.
Từ đó, quá trình công nghiệp hóa (XHCN và TBCN) được xem là một
dạng căn bản của hiện đại hóa. Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, mặc dù có
những hạn chế nhất đinh, nhưng về cơ bản đã thực hiện được vai trò, sứ mệnh
lịch sử của mình - xây dựng những cơ sở kỹ thuật, kinh tế cho chủ nghĩa xã
hội , tạo cơ sở, nền tảng cho các nước XHCN.
Như vậy, hiện đại hóa có thể được quan niệm là toàn bộ các quá trình,
các dạng cải biến, các bước quá độ từ các trình độ kinh tế, xã hội khác nhau
đang tồn tại lên trình độ mới cao hơn dựa trên những thành tựu mới tiên tiến
của khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ tốt hơn cho sự phát triển toàn diện của
con người và tiến bộ xã hội.
Quan niệm hiện đại hóa như trên không những chỉ ra khả năng mới của
các quốc gia trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật có thể xuất phát từ
trình độ kinh tế xã hội khác nhau đều có thể tận dụng được những điều kiện
của quá trình toàn cầu hóa, phát triển kinh tế tri thức tiến thẳng lên trình độ
thôn theo hướng tiến bộ kinh tế - xã hội của một nước công nghiệp. Điều
đó có nghĩa là không chỉ phát triển công nghiệp nông thôn mà bao gồm cả
16
việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và đời
sống văn hóa, tinh thần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp
ở nông thôn và cả nước nói chung
Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam có nhiều nét đặc thù
cả về nội dung, hình thức, quy mô, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến
lược. Những nét đặc thù này được thể hiện khái quát ở một số điểm sau đây:
Thứ nhất, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một quá trình rộng lớn,
phức tạp và toàn diện. Có nghĩa là nó diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và các bước đi
nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, kết
hợp giữa biến đổi về lượng và biến đổi về chất, của các tác nhân tham gia quá
trình. hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn sẽ tạo tiền đề và cơ sở vững chắc thúc
đẩy toàn diện quá trình công nghiệp, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước. Ở các
nước chậm phát triển, sự đóng góp của nông nghiệp vào GDP là rất lớn. Ở Việt
Nam, lao động nông nghiệp chiếm 70% lực lượng lao động xã hội. Nếu như nền
kinh tế không có vốn nước ngoài, chiến lược phát triển nông nghiệp ở các nước
này trong giai đoạn đầu tất nhiên phải dựa vào tích lũy nông nghiệp. Hơn nữa,
nông nghiệp phát triển, đời sống nông dân tăng cao mới thấy được vai trò quan
trọng của nông nghiệp trong việc tích lũy cho giai đoạn đầu của quá trình phát
triển kinh tế. Do vậy, đối với Việt Nam và các nước chậm phát triển, để thúc đẩy
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước thì Đảng và Nhà
nước phải đặc biệt coi trọng hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Mặt khác,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là mũi đột phá quan trọng nhằm giải phóng
sức lao động của nông dân, tạo điều kiện khai thác tốt nhất tiềm năng dồi dào về
lao động.
Nguồn lao động dồi dào là một lợi thế tương đối quan trọng để tiến hành
18
Ở nước ta hiện nay, để tăng năng suất lao động xã hội tạo nên nguồn vốn
cho tích luỹ, trước hết và chủ yếu là phải khai thác và sử dụng tốt quỹ lao
động, tập trung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và sản
xuất hàng xuất khẩu Nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào tỷ lệ tiết
kiệm. Với một khối lượng của cải nhất định, tỷ lệ tiết kiệm càng cao, nguồn
vốn càng lớn. Do đó, để công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công, ta phải
triệt để tiết kiệm, coi "tiết kiệm là quốc sách", đấu tranh triệt để với nạn tham
nhũng, lãng phí Nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào các chính sách
kinh tế như: chính sách cơ cấu các thành phần kinh tế, chính sách thuế, chính
sách lãi suất Do đó, xây dựng chính sách kinh tế phù hợp với yêu cầu của
nền kinh tế trong mỗi giai đoạn phát triển là yêu cầu khách quan. Nguồn vốn
trong nước giữ vai trò quyết định vì đó là nhân tố bên trong bảo đảm cho việc
xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; là tiền đề để huy động và sử dụng hiệu
quả nguồn vốn nước ngoài Do đó, việc đề cao nội lực là hoàn toàn cần thiết
và đúng đắn.
Tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu làm cho
việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền kinh tế hết sức khó khăn, đặc biệt là trong thời
kỳ đầu. Để thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích luỹ thấp; tích
luỹ thấp thì tăng trưởng kinh tế chậm và khó thoát khỏi đói nghèo; cần phải
tận dụng mọi khả năng để thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài. Đây là nguồn
vốn có vai trò rất quan trọng, không những giúp các nước nghèo khắc phục
một phần khó khăn về vốn trong thời kỳ đầu mà còn góp phần nâng cao trình
độ quản lý và công nghệ, tạo việc làm cho người lao động Vì thế, tranh thủ
nguồn vốn bên ngoài là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, mặt trái của nguồn vốn nước ngoài cũng không nhỏ. Sử dụng
nguồn vốn nước ngoài phải chấp nhận bị bóc lột, tài nguyên bị khai thác, nợ