VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ BÔNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Đà Nẵng - Năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ BÔNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số
: 8340410
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Nguyễn Đình Long
Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ............................................................................................33
2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước đối với kinh doanh hộ gia đình
trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ...........................................................49
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH HỘ GIA
ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM .. 58
3.1. Các căn cứ để xây dựng giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động kinh doanh hộ gia đình ....................................................................................58
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh
doanh hộ gia đình...............................................................................................................62
3.3. Một số kiến nghị đối với ủy ban nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.69
KẾT LUẬN.......................................................................................................................71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCHC
: Cải cách hành chính
CNH
: Công nghiệp hóa
DNNN
: Doanh nghiệp nhà nước
: Trung ương
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
UBND
: Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 1
Số lao động và số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể giai
đoạn 2015-2017
40
Bảng 2
Thực trạng quản lý đối với hộ gia đình kinh doanh
Với quan điểm là phải có chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế
cùng phát triển, không phân biệt đối xử, kỳ thị, định kiến với bất cứ thành phần kinh
tế nào. Ban Chấp thành Trung ương khoá XII đã biểu quyết nhất trí nêu phương án
để trình với Đại hội về vấn đề thành phần kinh tế. Theo phương án này, ở nước ta
hiện nay có các thành phần kinh tế như sau: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế
tư nhân (trong đó có kinh doanh hộ gia đình), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó giữ vai trò chủ đạo là khu vực kinh tế nhà nước và
cùng với kinh tế tập thể, nó trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Khu vực kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, và là một trong những động lực của
phát triển của nền kinh tế. Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành
hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất kinh
doanh và sở hữu. Đồng thời, cần phải thống nhất quan điểm chỉ đạo về phát triển
kinh doanh hộ gia đình và được Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển cả
ở nông thôn và thành thị; khuyến khích các hộ liên kết hình thành các hình thức tổ
chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn.
Theo kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp năm 2012,
tỉnh Quảng Nam có tổng số 23.557 đơn vị kinh tế, HCSN tăng 35,1% so với năm
2007. Trong đó: Khu vực doanh nghiệp là 1.112 đơn vị tăng 68,74%; cơ sở sản
xuất kinh doanh cá thể là 20.471 đơn vị (tăng 35,78%); đơn vị HCSN là 1.946 đơn
1
vị (tăng 16,11%); cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng là 28 đơn vị (tăng 12%). Do đó, kinh
doanh hộ gia đình đã góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, ổn
định và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đã đạt
được, kinh doanh hộ gia đình còn bộc lộ nhiều yếu kém, hạn chế như: quy mô nhỏ
bé, phân tán, manh mún, vốn ít, công nghệ lạc hậu, trình độ tay nghề của người lao
động thấp, sức cạnh của hàng hóa thấp...và cũng đã đặt ra cho công tác quản lý nhà
nước những yêu cầu mới đảm bảo việc phát triển, mở rộng để đảm bảo quyền và
kinh doanh hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu để tìm ra những bất cập, tồn tại,
hạn chế, cũng như những nguyên nhân của nó.
Thứ ba: Đề xuất những giải pháp cho việc tăng cường công tác quản lý nhà
nước về hoạt động kinh doanh hộ gia đình trên địa bàn huyện Núi Thành, Quảng
Nam.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh hộ gia đình bao gồm những nội
dung gì?
- Thực trạng công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh hộ gia đình
trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua như thế nào?
- Nhân tố nào tác động đến công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh
hộ gia đình trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam?
- Giải pháp nào là phù hợp để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hoạt
động kinh doanh hộ gia đình trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam trong
thời gian tới?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Kinh doanh hộ gia đình (thuộc thành
phần kinh tế tư nhân).
- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam trong giai
đoạn (từ năm 2015 đến năm 2017).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam, những chủ trương, chính sách của Nhà nước về các thành phần kinh tế nói
chung, kinh doanh hộ gia đình nói riêng. Ngoài ra, luận văn còn tham khảo có
3
chọn lọc các đề tài nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến luận văn.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH
DOANH NÓI CHUNG VÀ KINH DOANH HỘ GIA ĐÌNH NÓI RIÊNG
1.1. Khái quát về hộ kinh doanh nói chung và kinh doanh hộ gia đình nói
riêng
1.1.1. Khái niệm về hộ kinh doanh, kinh doanh hộ gia đình
Hộ kinh doanh do một cá nhân duy nhất hoặc một hộ gia đình kinh doanh. Số
đông muốn góp vốn kinh doanh sẽ phải cùng nhau thành lập doanh nghiệp. Những
cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 (mười tám) tuổi, có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa
điểm, sử dụng dưới 10 (mười) lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình đối với hoạt động kinh doanh.
Những cá nhân thành lập và cùng tham gia góp vốn để thành lập hộ kinh doanh
không được đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty
hợp danh trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.
Hộ kinh doanh được chia thành ba loại như sau:
(1) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ;
(2) Hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ;
(3) Hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ.
- Về hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ: Các cá nhân đó có toàn quyền
quyết định về mọi hoạt động kinh doanh của hộ. Cá nhân kinh doanh trong trường
hợp này được hiểu là từng người cụ thể, là công dân Việt Nam đủ 18 (mười tám)
tuổi, có năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật đầy đủ thì được quyền thành
lập hộ kinh doanh.
- Về hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ: Theo quy định tại khoản 3,
Điều 66 của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, thì một nhóm người tự nguyện hùn vốn
kỹ thuật cùng nhau tiến hành hoạt động kinh doanh, cùng hưởng lãi, cùng chịu lỗ
và cùng chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của nhóm. Tuy nhiên, theo quy
5
6
dùng hàng hóa và dịch vụ do khu vực doanh nghiệp sản xuất ra (chức năng tiêu
dùng).
Mặt khác, họ nắm giữ và cung ứng các đầu vào nhân tố cho khu vực doanh
nghiệp để khu vực này sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ (nắm giữ của cải và cung
ứng nhân tố sản xuất - bao gồm tư bản, lao động, đất đai và năng lực kinh doanh).
Việc cung ứng các nhân tố sản xuất đem lại cho họ thu nhập và họ sử dụng thu
nhập này vào mục đich, nộp thuế và tiết kiệm. Các hoạt động kinh tế của khu vực
hộ gia đình đều nhằm thực hiện bốn chức năng này.
Khái niệm hộ gia đình hay khu vực hộ gia đình chủ yếu được sử dụng trong
phân tích kinh tế vĩ mô, còn trong phân tích kinh tế vi mô, người ta thường sử
dụng khái niệm người tiêu dùng.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh hộ gia đình.
Thứ nhất, kinh doanh hộ gia đình là loại hình kinh doanh được tổ chức sản
xuất kinh doanh mang tính chất của một hộ gia đình. Mối quan hệ giữa các thành
viên trong hộ gia đình chủ yếu có mối quan hệ hôn nhân và huyết thống.
Trong gia đình, các thành viên gắn bó với nhau bởi quan hệ ruột thịt, vợ
chồng con cái, ông bà, anh em đã gắn kết họ thành một khối thống nhất, có trách
nhiệm cao đối với tài sản, vốn liếng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hộ gia đình
kinh doanh thực sự là một khối thống nhất không thể tách rời giữa quyền sử dụng
đất đai, quyền tham gia lao động và quyền phân phối sản phẩm của các thành viên
trong hộ. Các thành viên đều có chung một mục đích và có sự thống nhất rất cao
về lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Mỗi người trong hộ đều lao động theo khả năng
và trách nhiệm gắn với vai trò của họ trong gia đình. Do đó, mô hình kinh doanh
hộ gia đình cho phép hạn chế đến mức tối đa các mâu thuẫn về lợi ích kinh tế.
Trong hộ, mọi người hiểu rõ năng lực, sở trường của từng thành viên nên
việc bố trí, sắp xếp công việc tương đối phù hợp, hiệu quả. Quan hệ quản lý ở đây
Có thể nói, kinh doanh hộ gia đình là loại hình mang nặng tính chất sản xuất
nhỏ, kinh doanh manh mún, tự cung tự cấp, do đó dễ bị phân hoá trong nền KTTT.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của kinh doanh hộ gia đình ở nước ta nói chung.
Chính đặc điểm này quy định xu hướng phát triển của bộ phận kinh tế này trong
tươơng lai.
Thứ ba, hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ gia đình vừa nhằm đảm bảo
8
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của các thành viên trong hộ vừa nhằm mục tiêu thu lợi
nhuận.
Hộ gia đình là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng (tiêu dùng của hộ xét cả khía
cạnh tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho các cá nhân), nó ảnh hưỏng trực tiếp
đến sản xuất của hộ. Nó là đơn vị sản xuất tự thực hiện quá trình tái sản xuất dựa
trên cơ sở phân bố các nguồn lực (lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật, nguồn thu nhập)
vào các ngành sản xuất để thực hiện tất cả các chức năng của nó nhằm mục đích
đảm bảo tiêu dùng cá nhân và thu lợi nhuận. Do có sự kết hợp cả hai mục đích:
tiêu dùng và lợi nhuận, nên nguyên tắc kinh doanh theo đuổi mục tiêu lợi nhuận
luôn được kết hợp chặt chẽ với các giá trị gia đình. Trong điều kiện sản xuất kinh
doanh không thuận lợi, do sức ép của nhu cầu trong gia đình, các hộ sản xuất kinh
doanh vẫn sẵn sàng tiếp tục hoạt động sản xuất (cho dù không có lợi nhuận hoặc ít
lợi nhuận) để duy trì việc làm cho các thành viên trong gia đình. Chính điều này đã
ảnh hưởng không nhỏ đến việc đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, vì nếu mua máy móc để sử dụng thay lao động thủ công, thì số lao động
trong gia đình sẽ thất nghiệp.
Chính vì vậy, kinh doanh hộ gia đình là loại hình kinh tế có ý nghĩa chiến
lược tình thế, tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Thứ tư, kinh doanh hộ gia đình là loại hình hoạt động sản xuất đa ngành, trên
nhiều lĩnh vực khác nhau trong hầu hết các khâu của quá trình sản xuất - xã hội
trình chuyển đổi sang nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
1.1.2. Vai trò của hoạt động kinh doanh hộ gia đình trong sự phát triển
kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Thứ nhất: Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần
xoá đói giảm nghèo. Lao động - việc làm là vấn đề đặc biệt quan tâm của toàn xã
hội. Đảng và nhà nước ta luôn đặt vấn đề lao động - việc làm vào vị trí hàng đầu
trong các chính sách kinh tế, xã hội, coi đó là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ
mô quan trọng cần phải giải quyết. Kinh doanh hộ gia đình đang đóng vai trò
quyết định trong giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là khi tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị còn cao, nhu cầu việc làm mới rất lớn.
- Trên thực tế, kinh doanh hộ gia đình có những điều kiện thuận lợi để thu hút
nguồn lực lao động, ở chỗ:
10
+ Kinh doanh hộ gia đình thích hợp với quy mô vốn nhỏ, suất đầu tư cho một
chỗ làm việc của khu vực kinh tê này thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp
thuộc thành phần kinh tế khác.
+ Không hoặc ít có nhu cầu tăng quy mô vốn.
+ Không cần đầu tư vào công nghệ vừa đòi hỏi vốn lớn, vừa rủi ro cao.
+ Nhanh chóng thu hồi vốn, đồng thời vừa năng động, vừa dễ rút ra khỏi thị
trường.
+ Là khu vực kinh doanh phù hợp với tâm lý kinh doanh của người Việt
Nam.
Do quy mô vốn nhỏ nên các cơ sở sản xuất kinh doanh hộ gia đình có khả
năng thích nghi rất cao với điều kiện nông thôn, nơi có nhiều lao động dôi dư, lao
động nông nhàn, trình độ dân trí thấp và đời sống còn nhiều khó khăn.
Thứ hai: Kinh doanh hộ gia đình đóng góp quan trọng vào việc gia tăng tổng
sản phẩm trong nước (GDP) và đóng góp ngân sách nhà nước, thúc đẩy tăng
của ngành nông nghiệp cũng như khu vực kinh tế nông thôn. Các hình thức kinh tế
hộ gia đình của nông dân, kinh tế trang trại và các cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt
động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn đang có xu hướng phát
triển khá nhanh, tạo nên sự thay đổi to lớn bộ mặt của nhiều vùng nông thôn. Do
đó, công tác quan lý nhà nước đối với hộ gia đình kinh doanh có vai trò to lớn đối
với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu vực nông thôn.
1.2. Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước đối với kinh doanh hộ gia đình
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với kinh doanh hộ gia đình
- Quản lý nhà nước là gì?
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực của
nhà nước đối với các quá trình hoạt động trong xã hội và hành vi hoạt động của
con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự của pháp luật
nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa (trích theo Giáo trình
quản lý hành chính nhà nước).
Công tác quản lý nhà nước là một hoạt động chức năng của nhà nước trong
quản lý các vấn đề xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt và được
hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Đối với nghĩa rộng: công tác quản lý
12
nhà nước là toàn bộ hoạt động bộ máy của nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt
động hành pháp, đến hoạt động tư pháp. Đối với nghĩa hẹp: công tác quản lý nhà
nước chỉ bao gồm các hoạt động hành pháp.
- Quản lý nhà nước đối với kinh doanh hộ gia đình?
Quản lý nhà nước đối với kinh doanh hộ gia đình là sự tác động có chủ đích,
có tổ chức và bằng pháp quyền nhà nước lên các hộ gia đình kinh doanh và vì mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Quản lý nhà nước đối với kinh doanh
hộ gia đình là sự tác động của cơ quan quyền lực nhà nước bằng các phương thức
nay ở Việt Nam, kinh doanh hộ gia đình là một trong những chủ thể kinh doanh,
sản xuất tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng của đời
sống kinh tế - xã hội. Kinh doanh hộ gia đình có những nét riêng biệt so với các
loại hình doanh nghiệp như: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy, khi nghiên cứu về công tác quản lý nhà
nước đối với kinh doanh hộ gia đình và xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của
đối tượng quản lý, công tác quản lý nhà nước đối với kinh doanh hộ gia đình có
một số đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất: Quản lý nhà nước mang tính chất quyền lực nhà nước, Quản lý nhà
nước được thiết lập trên cơ sở “quyền uy” và “sự phục tùng” ở các phương diện
hành chính và pháp luật. Toàn bộ các tác động nội dung tổ chức và điều chỉnh của
công tác quản lý nhà nước được tiến hành dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước
và được thể hiện thông qua cụng cụ pháp luật và được đảm bảo bằng các biện pháp
cưỡng chế nhà nước.
Thứ hai: Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính tổ chức, điều hành và điều
chỉnh. Cụ thể, các hoạt động quản lý nhà nước là quá trình tổ chức xã hội, điều
hành xã hội và điều chỉnh xã hội. Tất cả các hoạt động của xã hội đều được nhà
nước sử dụng các công cụ, phương pháp quản lý để tạo ra một xã hội có tổ chức
trên cơ sở có sự điều hành của Nhà nước và điều chỉnh những hoạt động của Nhà
nước đó theo định hướng đã đặt ra.
Thứ ba: Quản lý nhà nước phải dựa trên cơ sở nền tảng của một thể chế nhất
định. Cụ thể, các thể chế này phải được xây dựng dựa trên những chuẩn mực nhất
định tạo nền tảng cơ sở cho cả chủ thể quản lý và đối tượng quản lý phải tuân theo
14
nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra.
Thứ tư: Quản lý nhà nước đối với kinh doanh hộ gia đình thể hiện tính phân
kiện nhà nước tăng cường các biện pháp quản lý đối với các hộ gia đình kinh
doanh.
Thứ sáu: Công tác quản lý nhà nước đối với kinh doanh hộ gia đình là hoạt
động quản lý hành chính nhà nước có tính chấp hành, điều hành và mang tính liên
tục. Việc thực hiện chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý nhà nước được
thể hiện trong việc những hoạt động này và tiến hành trên cơ sở pháp luật, cho dù
đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt
quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ
chức những hoạt động thực tiễn, trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm hiện thực
hóa pháp luật.
Tóm lại, Quản lý nhà nước là hoạt động có vai trò quan trọng trong việc điều
chỉnh và định hướng xã hội theo mục tiêu đã đề ra. Do đó, quản lý nhà nước là một
quá trình phức tạp, đa dạng và là yếu tố không thể thiếu đối với bất kỳ xã hội nào.
Hoạt động quản lý nhà nước được thể hiện trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội như: kinh tế, giáo dục, quốc phòng, an ninh, văn hóa... Trong đó, hoạt động
quản lý nhà nước về du lịch, lưu trú du lịch thuộc lĩnh vực kinh tế và cũng giữ vai
trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của đời sống xã hội.
1.3. Vai trò của quản lý nhà nước đối với kinh doanh hộ gia đình
Công tác quản lý nhà nước đối với kinh doanh hộ gia đình là một nội dung
trong hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế. Nhà nước thực hiện sử dụng các
phương tiện quản lý nhà nước như: căn cứ kế hoạch, chính sách để quản lý nền
kinh tế nói chung và các hộ gia đình kinh doanh nói riêng. Vai trò và ý nghĩa này
được thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, quản lý nhà nước là cách thức cụ thể hóa chủ trương, đường lối
của Đảng về phát triển loại hình kinh doanh hộ gia đình vào cuộc sống.
Công tác quản lý nhà nước đối với hộ gia đình kinh doanh có vai trò rất quan
trọng trong đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta trở thành hiện thực trong đời
sống kinh tế - xã hội. Căn cứ vào các kế hoạch, định hướng, chính sách mà quản lý
nhà nước về kinh doanh hộ gia đình trở thành điều kiện quan trọng trong việc cụ
doanh phát triển lớn mạnh và bền vững.
Những lợi thế thông qua việc quản lý nhà nước mang lại cho hộ kinh doanh
nói chung, kinh doanh hộ gia đình nói riêng là sự chủ động, sáng tạo trong kinh
17
doanh trên nền tảng khuôn khổ pháp lý mà nhà nước quy định về những lĩnh vực,
ngành nghề được tự do kinh doanh, được nhà nước khuyến khích đầu tư, những ưu
đãi,chính sách hỗ trợ mà công ty được hưởng khi đầu tư... Chính sự định hướng rõ
ràng từ các quy định quy phạm của pháp luật giúp cho hộ kinh doanh gia đình có
môi trường pháp lý an toàn để phát triển ổn định, lâu dài và có điều kiện mở rộng
quy mô kinh doanh.
Công tác quản lý nhà nước đối với kinh doanh hộ gia đình là phương thức
thiết lập cơ chế công khai hóa, minh bạch hóa trong hoạt động kinh doanh hộ gia
đình, là biện pháp hữu hiệu để thực hiện sự quản lý của Nhà nước. Công khai,
minh bạch là vấn đề chính bắt buộc các hộ gia đình kinh doanh xác định rõ ràng
ranh giới trong cách xử sự của mình sao cho phù hợp.
1.4. Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước đối với kinh doanh hộ gia
đình
1.4.1. Hoạch định chiến lược và tạo môi trường pháp lý
Công tác phát triển kinh doanh hộ gia đình là cơ sở để vạch ra các chính sách
quản lý kinh tế và cả cơ cấu nhiệm vụ của bộ máy quản lý. Việc hoạch định chiến
lược nhằm vạch ra các hướng ưu tiên trong phát triển các thành phần kinh tế.
Hệ thống các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh doanh hộ gia đình là những
tư tưởng chỉ đạo, các mục tiêu, chỉ tiêu, biện pháp ngắn hạn và dài hạn để định
hướng cho sự phát triển của hộ kinh doanh theo mục tiêu chung của phát triển kinh
tế - xã hội, khuyến khích, trợ giúp phát triển các hộ kinh doanh được công khai,
minh bạch, giúp các hộ kinh doanh phát huy hiệu quả năng lực của mình trong
hoạt động đầu tư và phát triển kinh doanh.