VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN PHƯỚC TÙNG
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC,
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN PHƯỚC TÙNG
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ XUÂN SANG
NƯỚC CẤP XÃ .........................................................................................................6
1.1. Cơ sở pháp lý và lý luận chung về quản lý ngân sách nhà nước .........................6
1.2. Cơ sở pháp lý và lý luận về quản lý ngân sách cấp xã .......................................11
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách cấp xã .........................................21
1.4. Các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản lý ngân sách cấp xã .................23
1.5. Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý ngân sách cấp xã ở một số địa phương .......24
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP
XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM.........30
2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội huyện Tiên Phước ...............................30
2.2. Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách cấp xã của huyện Tiên Phước, tỉnh
Quảng Nam ...............................................................................................................34
2.3. Thực trạng ngân sách nhà nước cấp xã ở huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng
Nam ...........................................................................................................................37
2.4. Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước cấp xã trên địa bàn huyện Tiên
Phước, tỉnh Quảng Nam ............................................................................................45
2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý nsnn cấp xã trên địa bàn huyện Tiên
Phước, giai đoạn 2014-2018 .....................................................................................56
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TẠI HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG
NAM .........................................................................................................................62
3.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam với huyện Tiên Phước .............62
3.2. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội huyện tiên phước giai đoạn 2019 –
2022 ...........................................................................................................................62
3.3. Định hướng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tiên Phước đến năm
2020, tầm nhìn 2030 ..................................................................................................64
3.4. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tiên
Phước.........................................................................................................................69
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
Kinh tế - xã hội
NSNN
Ngân sách nhà nước
NSX
Ngân sách xã
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
TNCN
Thu nhập cá nhân
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
UBND
Uỷ ban nhân dân
XDCB
Xây dựng cơ bản
vĩ mô. Nó phụ thuộc vào việc quản lý các nguồn thu của NSNN. Để huy động đầy
đủ nguồn thu vào ngân sách nhằm thực hiện chỉ tiêu của nhà nước thì những hình
thức thu ngân sách phải phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương và đất nước.
Trong ngân sách Nhà nước thì có một cấp là ngân sách xã. Qua những năm
thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước, công tác quản lý tài chính ngân sách đã đạt
được một số kết quả nhất định, đóng góp quan trọng vào công tác quản lý hoạt động
kinh tế - xã hội của chính quyền cơ sở xã, thị trấn. Để thực hiện Luật Ngân sách nhà
nước, Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản dưới luật quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước.
Chính quyền địa phương triển khai thực thi các nội dung của Luật Ngân sách
nhà nước. Thực hiện theo hướng dẫn công tác quản lý tài chính ngân sách các cấp
trong đó có ngân sách xã.
Trong tiến trình đổi mới nền kinh tế, các hình thức thu NSNN ở địa phương
đã từng bước thay đổi, điều chỉnh để thực hiện nhiệm vụ tập trung nguồn thu cho
NSNN. Cùng với quá trình quản lý thu NSNN thì việc quản lý chi NSNN cũng có
vị trí rất quan trọng trong quản lý điều hành NSNN góp phần ổn định phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là trong điều kiện đất nước hội nhập kinh tế thế
giới. Tuy nhiên, trong những năm qua, việc thực hiện quản lý thu, chi NSNN vẫn
còn nhiều hạn chế bất cập (từ quy trình lập, chấp hành và quyết toán, đến kiểm tra,
giám sát…) ảnh hưởng đến hiệu quả và hiệu lực quản lý ngân sách nhà nước tại các
1
cơ sở xã. Việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát, hoàn thiện quy trình quản lý ngân
sách cấp xã ở huyện Tiên Phước là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Quản lý ngân sách nhà
nước cấp xã trên địa bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ quản lý kinh tế với mục tiêu góp phần giải quyết các vấn đề tồn tại,
nâng cao hiệu quả công tác quản lý ngân sách cấp xã trên địa bàn huyện Tiên
tác giả Đặng Văn Du năm 2010.
Có thể nói việc nghiên cứu quản lý NSNN ở nước ta trong những năm qua có
rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ quan từ trung ương
đến các địa phương trong cả nước. Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến
nhiều khía cạnh khác nhau về quản lý NSNN; quản lý thu –chi NSNN, những vấn
đề nghiên cứu đó đã đề cập đến các vấn đề chung, một số công trình đã lâu nên
không theo kịp và khó giải quyết vấn đề trong tình hình đổi mới hiện nay.
Vì vậy đề tài này về quản lý ngân sách nói chung, ngân sách cấp xã nói riêng
không phải là đề tài mới, nhưng xét trên địa bàn cụ thể của huyện Tiên Phước trong
những năm gần đây với những thay đổi trong quản lý ngân sách thì đây là vấn đề mới,
cần phải nghiên cứu nhằm góp phần hoàn thiện quản lý ngân sách của cấp xã trên địa
bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam có hiệu quả tốt hơn trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đó, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan để đề
xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý NSNN cấp xã trên địa bàn huyện Tiên
Phước, tỉnh Quảng Nam cho phù hợp với điều kiện hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những nội dung lý luận cơ bản của NSX và quản lý NSX.
- Phân tích thực trạng quản lý NSX trên địa bàn huyện Tiên Phước từ năm
2014 đến năm 2018.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý NSNN trên địa
bàn huyện Tiên Phước trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản
3
4
động đến thực hiện quản lý ngân sách nhà nước nói chung và đến quản lý
ngân sách nhà nước cấp xã trên địa bàn huyện Tiên Phước nói riêng để đề
xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp xã .
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Góp phần làm rõ hơn một số vấn đề về lý luận, pháp lý về QLNN về ngân
sách
Đánh giá thực trạng ( thành tựu, hạn chế ), kết quả QLNN, phân tích công tác
quản lý Nhà nước về quản lý ngân sách cấp xã trên địa bàn huyện Tiên Phước Tỉnh Quảng Nam.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về
quản lý ngân sách cấp xã trên địa bàn huyện trong bối cảnh mới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho HĐND, Uỷ ban nhân dân,
các ban ngành của huyện Tiên Phước hiểu đúng về những nội dung cơ bản trong
công tác quản lý Nhà nước về quản lý ngân sách cấp xã. Là tư liệu cho những ai
quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý ngân sách nhà nước cấp xã.
Chương 2: Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước cấp xã trên địa bàn huyện
Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp xã trên địa
bàn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
5
một hình thức thu chi của một loại quỹ nào.
Thu của NSNN phần lớn đều mang tính chất bắt buộc, còn các khoản chi của
NSNN lại mang tính chất không hoàn lại. Đây là đặc trưng nổi bật của NSNN trong
bất cứ một nhà nước nào. Xuất phát từ quyền lực của Nhà nước và các nhu cầu về tài
chính để thực hiện chức năng quản lý và điều hành của Nhà nước đối với nền kinh tế
- xã hội. Do nhu cầu chi tiêu của mình, Nhà nước đã sử dụng quyền lực thông qua hệ
thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải đóng góp một phần
thu nhập của mình cho NSNN, tức là các chủ thể kinh tế thực hiện nghĩa vụ của mình
với Nhà nước. Sự bắt buộc đó là hoàn toàn khách quan, vì lợi ích của toàn xã hội chứ
không phải phục vụ cho lợi ích riêng của Nhà nước. Các đối tượng nộp thuế cũng
hoàn toàn ý thức được nghĩa vụ của mình trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển
của Nhà nước. Họ cũng hiểu được vai trò của Nhà nước trong việc sử dụng các nguồn
lực tài chính nhằm thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội, do nhân dân giao phó.
Sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước chính là yếu tố quyết định tính chất
oạt động của NSNN, nói lên bản chất của NSNN. Mọi hoạt động của NSNN đều
nhằm vào việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính; nó phản ánh hệ thống các
quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh do Nhà nước
tạo lập thông qua NSNN. Đó là mối quan hệ kinh tế giữa phần nộp vào NSNN và
phần để lại cho các chủ thể kinh tế trong xã hội. Phần nộp vào ngân sách sẽ tiếp tục
được phân phối lại nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước và phục vụ cho các
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước có thể
sử dụng các công cụ sẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho
mình các nguồn lực tài chính cần thiết. Song cơ sở tạo lập các nguồn lực tài chính
xuất phát từ sản xuất, mà chủ thể của sản xuất chính là các thành viên trong xã hội.
Mọi thành viên đều có lợi ích kinh tế và đấu tranh bảo vệ lợi ích kinh tế đó, nghĩa là
thông qua quyền lực của mình, Nhà nước sử dụng các công cụ, chính sách giải
quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước và lợi ích của các thành viên trong xã hội. Do
vậy muốn có NSNN đúng đắn, lành mạnh thì phải tôn trọng và vận dụng các quy
tổ chức và công dân do những yêu cầu tất yếu về kinh tế - chính trị - xã hội để bảo
đảm các hoạt động của bộ máy Nhà nước, giữ vững quốc phòng, an ninh và bảo
đảm các sự nghiệp xã hội.
8
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước.
Đây là các quan hệ thu thực hiện lợi ích kinh tế các loại tài sản và vốn bằng
tiền thuộc sở hữu toàn dân giao cho Nhà nước quản lý và cho phép các chủ thể
trong nền kinh tế sử dụng. Các quan hệ này cũng là bắt buộc, nhưng dựa trên các
yếu tố kinh tế là đảm bảo cho chủ sở hữu thực hiện được lợi ích kinh tế, quyền sở
hữu các loại tài sản đưa vào quá trình sản xuất xã hội. Những ai sử dụng nhiều tài
sản của Nhà nước vào mục đích kinh doanh trên các địa bàn và những ngành nghề
có hiệu quả kinh tế cao thì phải đóng góp nhiều vào NSNN.
Trình độ xã hội hóa càng cao, quy mô sở hữu càng lớn thì nguồn thu tập
trung vào NSNN và những nguồn lực tài chính cũng càng nhiều.
Thực hiện thu đúng, thu đủ từ các hình thức này không chỉ đảm bảo nguồn
lực tài chính cho Nhà nước, mà còn là hình thức cụ thể thực hiện quản lý chặt các
tài sản thuộc sở hữu Nhà nước để bảo tồn và phát triển chế độ sở hữu toàn dân.
- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân thuộc đối tượng phải đóng
góp theo luật định.
- Các khoản viện trợ: hình thức chủ yếu là viện trợ không hoàn lại, của các tổ
chức, các tổ chức phi chính phủ của các nước và quốc tế. Nguồn thu này chủ yếu
phụ thuộc vào đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Đây là nguồn thu nhất
thời, không ổn định, không tính toán trước một cách chính xác.
- Các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi được đưa vào cân đối
NSNN.
Khoản thu này được thực hiện thông qua quan hệ tín dụng Nhà nước trong
nước và quốc tế để sử dụng vào mục đích đầu tư phát triển kinh tế. Đây là nguồn
vốn trong dân vào nhu cầu đầu tư. Hướng chủ yếu của tín dụng Nhà nước là các
khoản vay dài hạn đầu tư phát triển kinh tế. Nhưng hình thức này chỉ phát triển
trong điều kiện sức mua đồng tiền ổn định và lãi suất hợp lý đem lại lợi ích người
cho vay, đồng thời đảm bảo cho Nhà nước thanh toán được nợ.
Các khoản chi dự trữ nhà nước (từ 3 - 5% tổng số dư). Đây là khoản dự
phòng cho những nhu cầu đột xuất bất trắc có thể xảy ra trong khi thực hiện nhiệm
vụ của Nhà nước.
NSNN bao gồm hai cấp: Trung ương và địa phương. Quan hệ giữa hai cấp này
10
được thực hiện theo nguyên tắc chủ yếu là phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể;
thực hiện bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm sự cân
bằng, phát triển cân đối và thực hiện được nhiệm vụ của các vùng, các địa phương.
NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng
số chi thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao vào đầu tư phát triển. Nếu có
bội chi thì số bội chi đó phải nhỏ hơn chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu - chi
ngân sách. Nếu có vay để bù đắp bội chi NSNN thì phải trên nguyên tắc tiền vay không
được sử dụng cho tiêu dùng mà chỉ sử dụng vào mục đích phát triển và có kế hoạch thu
hồi vốn vay để đảm bảo cân đối ngân sách, chủ động trả nợ đến hạn. Ngân sách địa
phương được cân đối theo quy tắc: tổng số chi không được vượt quá tổng số thu.
1.2. Cơ sở pháp lý và lý luận về quản lý ngân sách cấp xã
1.2.1. Khái niệm quản lý ngân sách cấp xã
Về bản chất ngân sách xã là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với
các chủ thể khác, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ
của chính quyền nhà nước cấp xã nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của chính quyền nhà nước cấp cơ sở trong khuôn khổ đã được phân công,
phân cấp quản lý.
Hoạt động thu, chi của ngân sách xã luôn gắn chặt với chức năng, nhiệm vụ
khác nhau. Nhưng số thu, số chi theo từng hình thức chỉ có thể được thực hiện khi
nó đã được ghi vào dự toán và đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
đây cũng chính là đặc điểm của ngân sách nói chung.
1.2.3. Nội dung quản lý ngân sách cấp xã
a. Nội dung thu, chi của ngân sách cấp xã
Nguồn thu của ngân sách xã do Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh quyết
định phân cấp trong phạm vi nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng. Nguồn
thu và nhiệm vụ chi của ngân sách xã được hình thành trên cơ sở tiềm năng và nhu
cầu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương kết hợp với các nhiệm vụ về quản lý
kinh tế, xã hội mà chính quyền xã được phân công, phân cấp thực hiện.
Đó chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phân cấp quản lý về kinh tế - xã
hội với sự phân cấp về quản lý tài chính, ngân sách. Và trên một phương diện nhất
định, căn cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách xã được phân giao,
người ta có thể coi đó là nội dung của ngân sách xã.
12
Theo Thông tư số 344/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 30
tháng 12 năm 2016, về việc quy định quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài
chính khác của xã, phường, thị trấn thì nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách xã
được quy định như sau: [6]
* Thu ngân sách xã
- Các khoản thu 100%
Các khoản thu ngân sách xã hưởng một trăm phần trăm là các khoản thu
dành cho xã sử dụng toàn bộ để chủ động về nguồn tài chính đảm bảo các nhiệm vụ
chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển.
Các khoản phí, lệ phí giao cho xã tổ chức thu theo quy định. [6].
+ Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào NSNN theo
quy định của pháp luật.
- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách xã.
Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách xã gồm:
+ Thu bổ sung để cân đối ngân sách là mức chênh lệch giữa dự toán chi
được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp (gồm các khoản thu 100%
và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ).
+ Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản bổ sung theo từng năm để hỗ trợ xã
thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể.
* Chi của ngân sách xã
Chi của ngân sách xã gồm: chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. HĐND
cấp tỉnh quyết định phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách xã. Căn cứ vào chế độ
phân cấp quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước, các chính sách chế độ về hoạt động
của các cơ quan nhà nước, Đảng cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội và
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của xã khi phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách
xã, HĐND tỉnh xem xét giao cho ngân sách xã thực hiện các nhiệm vụ chi dưới đây.
Các khoản chi thường xuyên, gồm:
+ Chi quốc phòng: Chi thực hiện chế độ, chính sách đối với lực lượng dân
quân tự vệ và các khoản chi khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách
xã theo quy định của Luật dân quân tự vệ; chi thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân
sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã theo quy
định của Luật nghĩa vụ quân sự; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
14
+ Chi an ninh và trật tự an toàn xã hội: Chi tuyên truyền, vận động và tổ
chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã; các khoản chi
khác theo quy định của pháp luật;
+ Chi sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ hoạt động giáo dục, đào tạo trên địa bàn
xã;+ Chi cho nhiệm vụ ứng dụng, chuyển giao công nghệ (không có nhiệm vụ chi
nghiên cứu khoa học và công nghệ);
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở xã theo quy định của pháp luật;
+ Chi cho công tác xã hội do xã quản lý: Trợ cấp hằng tháng cho cán bộ xã
nghỉ việc theo chế độ quy định (không kể trợ cấp hằng tháng cho cán bộ xã nghỉ
việc và trợ cấp thôi việc 01 lần cho cán bộ xã nghỉ việc từ ngày 01 tháng 01 năm
1998 trở về sau do bảo hiểm xã hội chi trả); chi thăm hỏi các gia đình chính sách;
trợ giúp xã hội và công tác xã hội khác;
+ Các khoản chi thường xuyên khác ở xã theo quy định của pháp luật.
Chi đầu tư phát triển, gồm:
Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của xã từ
nguồn huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp
luật và Luật đầu tư công cho từng dự án nhất định, do Hội đồng nhân dân xã quyết
định đưa vào ngân sách xã quản lý theo các lĩnh vực chi được quy định.
b. Lập dự toán ngân sách cấp xã [6]
Hàng năm trên cơ sở hướng dẫn của uỷ ban nhân dân huyện, uỷ ban nhân
dân xã lập dự toán ngân sách năm sau trình HĐND xã quyết định.
Căn cứ lập dự toán ngân sách xã:
Các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng, trật
tự an toàn xã hội.
Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do chính phủ, thủ tướng chính
phủ, Bộ Tài chính và HĐND cấp tỉnh quy định.
Số kiểm tra về dự toán ngân sách xã do UBND huyện thông báo. Tình hình
thực hiên dự toán ngân sách xã năm hiện hành và các năm trước đó.
Trình tự lập dự toán ngân sách xã:
Ban Tài chính và ngân sách xã kết hợp với cơ quan thuế hoặc đội thu thuế
(nếu có) tính toán các khoản thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (trong phạm vi
phân cấp do xã quản lý).
16
17