CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ GIỮA GIA
ĐÌNH - NHÀ TRƯỜNG - XÃ HỘI CHO GIÁO
VIÊN THCS
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Các nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp của giáo
viên trung học cơ sở trong các hướng nghiên cứu về phát
triển đội ngũ giáo viên (phát triển nguồn nhân lực giáo dục)
Ở các lĩnh vực khoa học như tâm lí học, giáo dục học,
quản lí giáo dục… đã có nhiều hướng nghiên cứu trực tiếp và
gián tiếp đến năng lực nghề nghiệp của giáo viên, một trong
các hướng nghiên cứu đó là phát triển nguồn nhân lực giáo
dục các cấp đại học và phổ thông. Theo hướng này trước khi
đề xuất các biện pháp quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên thì
đã có sự phân tích khá sâu sắc thực trạng đội ngũ giáo viên
(số lượng, cơ cấu, chất lượng) vì vậy tổng quan theo hướng
này cũng nhìn thấy được các nghiên cứu lý luận, đặc biệt là
thực tiễn đội ngũ giáo viên trung học cơ sở. Sản phẩm khoa
học của các nghiên cứu thể hiện trong các giáo trình, tài liệu
tham khảo, bài báo khoa học đăng tải trong các tạp chí khoa
học, luận án, luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành quản lý
giáo dục như: Lê Đình Thanh (2012), Biện pháp phát triển
đội ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Thuận Thành, tỉnh
Bắc Ninh
Đinh Quốc Khánh (2013), Quy hoạch và phát triển đội
ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải
Dương [21]; Hoàng Minh Chí (2012), Xây dựng phát triển
chất lượng năng lực, kĩ năng sư phạm cho giáo viên trung học
cơ sở.
Các nghiên cứu về xây dựng, tổ chức phối hợp giữa
nhà trường, gia đình và xã hội và năng lực xây dựng mối
quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội của giáo viên
trong các công trình quản lý giáo dục
Mặc dù vấn đề phối hợp giáo dục - nhà trường - xã hội
và năng lực xây dựng mối quan hệ giáo dục này ở giáo viên
vô cùng quan trọng trong giáo dục học sinh nhưng số lượng
các nghiên cứu khoa học về vấn đề này còn rất nhiều khiêm
tốn thể hiện trong các chỉ thị, các nghiên cứu khoa học, các
bài báo khoa học như: Phạm Thị Tâm (2012), Biện pháp tổ
chức phối hợp các lực lượng giáo dục cho học sinh ở trường
trung học phổ thông” [30]; Nguyễn Hữu Tâm (2010), Quản lý
hoạt động giáo dục đạo đức trong mối quan hệ phối hợp giữa
nhà trường, gia đình và xã hội ở trường THPT Tân Yên 2,
tỉnh Bắc Ninh [29]; Nguyễn Thị Hồng Thịnh (2011), Quản lý
hoạt động giáo dục đạo đức trong bối cảnh quan hệ phối hợp
nhà trường, gia đình và xã hội ở trường trung học cơ sở Tả
Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội [32]; Nguyễn Văn Trung
(2013), Nghiên cứu sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình
trong quản lý hoạt động của học sinh trường trung học phổ
thông tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu… [33] v.v.
Các nghiên cứu trên bàn trực tiếp đến quản lý sự phối
hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhưng cũng đề cập
đến thực trạng mối quan hệ, sự phối hợp tay ba trong giáo dục
này ở các trường, địa phương được lựa chọn nghiên cứu,
trong đó có gián tiếp nghiên cứu về năng lực xây dựng, phối
dựng mối quan hệ nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo
viên THCS Hòa Bình, thành phố Hải Phòng” đã xác định
được điểm mới trong lĩnh vực quản lý giáo dục và kết quả
nghiên cứu đã đưa ra được các biện pháp ở góc độ quản lý của
nhà quản lý nhà trường phát triển năng lực này cho giáo viên.
Xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và
xã hội trong giáo dục
Khái niệm xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia
đình và xã hội của giáo viên
Xây dựng được hiểu trong luận văn bao gồm các nội
dung:a) Hình thành mối quan hệ mới; b) Phát triển mối quan hệ
cũ mạnh hơn; c) Phối hợp các mối quan hệ tốt hơn, trong đó
nhấn mạnh nội hàm phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã
hội để làm tốt hơn công tác giáo dục học sinh trong nhà trường.
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của Nhà xuất bản
Giáo dục (2002) thì phối hợp là cùng chung góp, cùng hành
động ăn khớp để hỗ trợ cho nhau.
Tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là
hoạt động có mục đích, sự hợp tác, cùng thống nhất hành
động và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh
trong và ngoài nhà trường.
Bản chất của công tác phối hợp là đạt được sự thống nhất
về các yêu cầu giáo dục đúng đắn, đầy đủ và vững chắc, tạo
được môi trường giáo dục thuận lợi trong nhà trường, trong gia
đình và ngoài xã hội. Nhờ có môi trường giáo dục đó mà học
sinh hành động theo đúng các yêu cầu và chuẩn mực phải đặt
ra. Mỗi một lực lượng giáo dục trong mối quan hệ này đều giữ
một vị trí nhất định.
thành ra trẻ nhưng đồng thời cũng là nhà giáo dục đặc biệt có
vai trò quyết định đối với trẻ em và giáo dục trẻ em. Giáo dục
gia đình là sự phối hợp nhiều mặt mang tính thực tiễn cao, là
cầu nối của trẻ em đối với xã hội bên ngoài. Nhiệm vụ của
giáo dục gia đình tuân theo mục đích giáo dục toàn diện cho
trẻ em thông qua các nội dung: giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo
đức, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động –
hướng nghiệp. Gia đình giữ vai trò chủ động phối hợp với nhà
trường (có mặt đủ các buổi họp phụ huynh học sinh, gặp gỡ
giáo viên chủ nhiệm lớp…) trong giáo dục học sinh.
Điều 94 Luật giáo dục. Trách nhiệm của gia đình “Cha
mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo
dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con em hoặc người được
giám hộ được học tập rèn luyện, tham gia các hoạt động
của nhà trường. Mọi gia đình có trách nhiệm xây dựng gia
đình văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển
toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ của con
em,người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho
con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả
giáo dục [28].
c) Về phía xã hội. Môi trường xã hội ảnh hưởng đến giáo
dục học sinh bao gồm nhiều yếu tố như quan hệ giữa người và
người, điều kiện văn hóa kinh tế xã hội, lối sống phong tục
tập quán… cùng với các lực lượng xã hội bên ngoài… Tất cả
các lực lượng và môi trường đều tham gia trực tiếp và gián
tiếp giáo dục học sinh trong nhà trường.
Phát huy vai trò nhà trường là trung tâm văn hóa giáo
dục của gia đình và địa phương, tổ chức việc phổ biến các tri
thức khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội… đặc biệt là những
kiến thức biện pháp giáo dục học sinh trong điều kiện xã hội
phát triển theo cơ chế thị trường đang rất phức tạp cho các bậc
cha mẹ, giúp họ hiểu được đặc điểm trong đời sống, tâm sinh
lý của các em hiện nay.
Phối hợp với địa phương tổ chức cho học sinh tham gia
tích cực vào các hoạt động văn hóa xã hội như: xóa đói giảm
nghèo, dân số kế hoạch hóa gia đình, đền ơn đáp nghĩa, xây
dựng gia đình văn hóa mới… nhằm góp phần cải tạo môi
trường gia đình và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Giúp địa phương theo dõi tiến trình, đánh giá kết quả
của việc giáo dục thanh thiếu niên, phân tích các nguyên
nhân, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả và sự
phối hợp chặt chẽ giữa các môi trường giáo dục.
Nhà trường lập kế hoạch phối hợp nhà trường, gia đình
và các đoàn thể xã hội, tổ chức thực hiện kế hoạch, tổng kết
đánh giá việc thực hiện kế hoạch; trao đổi và thống nhất nội
dung, biện pháp, hình thức giáo dục với phụ huynh học sinh;
xác định cho gia đình hiểu rõ vai trò và trách nhiệm giáo
dục của gia đình đối với con em mình; định kỳ hoặc thường
xuyên thông báo cho phụ huynh học sinh kết quả học lực,
hạnh kiểm; tư vấn, bồi dưỡng cho phụ huynh học sinh kiến
thức về tâm lý, giáo dục học và phương pháp giáo dục gia
đình.
Nhà trường huy động khả năng tiềm lực của gia đình,
những kiến thức, kĩ năng và hành vi có thể đo lường, quan sát
được để đóng góp cho sự thành công của công việc [12].
Gartner Group (2009): Năng lực là tập hợp của những
kiến thức, kĩ năng, phẩm chất được xem như là nguyên nhân
mang lại kết quả công việc của người lao động [12].
Parry (1996): Năng lực là một tập hợp các kiến thức,
kĩ năng, thái độ liên quan với nhau, có ảnh hưởng tới khả
năng hoàn thành công việc hay hiệu suất của một cá nhân,
có thể đo lường thông qua các chuẩn mà cộng đồng chấp
nhận và có thể được cải tiến thông qua các hoạt động đào
tạo, bồi dưỡng... [12].
Với điểm chung xác định như trên năng lực được hiểu là
tổ hợp các kiến thức, kĩ năng, phẩm chất, thái độ của con
người, đảm bảo cho con người hoàn thành có hiệu quả công
việc, hoạt động mà cá nhân đang tiến hành.
b) Khái niệm năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà
trường, gia đình và xã hội.
Từ khái niệm “Năng lực” và “Xây dựng mối quan hệ giữa
nhà trường, gia đình và xã hội” luận văn xác định năng lực xây
dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội là năng
lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội
của giáo viên là tổ hợp các kiến thức, phẩm chất, kỹ năng xây
dựng mối quan hệ nhà trường, gia đình và xã hội, đảm bảo cho
việc tổ chức phối hợp tốt nhà trường, gia đình và xã hội đạt kết
quả đáp ứng theo yêu cầu của giáo dục phổ thông.
Với khái niệm trên cho thấy năng lực xây dựng mối
quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội:
Tổ hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ về xây dựng, phối
các vấn đề nảy sinh trong xây dựng mối quan hệ nhà trường,
gia đình và xã hội.
Năng lực nhận thức về xây dựng mối quan hệ nhà
trường, gia đình và xã hội là tổ hợp các kiến thức, thái độ, kĩ
năng về mối quan hệ nhà trường, gia đình và xã hội và cách
thức xây dựng, phối hợp mối quan hệ này của giáo viên nhằm
đảm bảo cho người giáo viên nhận thức đầy đủ về việc xây
dựng mối quan hệ giáo dục trong nhà trường (nhận thức về
vai trò, ý nghĩa tầm quan trọng, cách thức xây dựng và vận
dụng kiến thức vào xây dựng xây dựng mối quan hệ nhà
trường, gia đình và xã hội…).
Năng lực triển khai phối hợp mối quan hệ nhà trường,
gia đình và xã hội trong việc giáo dục học sinh là tổ hợp các
kiến thức, thái độ, kĩ năng về quan hệ nhà trường, gia đình và
xã hội của giáo viên nhằm đảm bảo cho giáo viên tổ chức
phối hợp tốt mối quan hệ này trong công tác giáo dục học sinh
đảm bảo mục tiêu của giáo dục đã xác định.
Năng lực kiểm tra đánh giá phối hợp mối quan hệ nhà
trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục học sinh là tổ
hợp các kiến thức, thái độ, kĩ năng về đánh giá quan hệ nhà
trường, gia đình và xã hội của giáo viên nhằm đảm bảo cho
giáo viên tổ chức đánh giá tốt sự phối hợp mối quan hệ này
trong công tác giáo dục học sinh đảm bảo mục tiêu của giáo
dục đã xác định.
Năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong xây dựng
mối quan hệ nhà trường, gia đình và xã hội là tổ hợp các kiến
thức, thái độ, kĩ năng của người giáo viên về các vấn đề nảy
sinh trong việc phối hợp mối quan hệ nhà trường, gia đình và
trường phổ thông có nhiều cấp học là Giám đốc Sở Giáo dục và
Đào tạo. Còn ở cấp học THCS là Chủ tịch Ủy ban nhân dân
Quận (Huyện) [6].
Nhiệm vụ và quyền hạn
Hiệu trưởng trường THCS có những nhiệm vụ và quyền
hạn sau:
Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường;
Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và
tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh
giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có
thẩm quyền.
Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội
đồng tư vấn trong nhà trường, bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề
xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm
quyền quyết định.
Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân
công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân
viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với giáo
viên; thực hiện việc tuyển dụng giáo viên, nhân viên; ký hợp
đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo
quy định của Nhà nước;
Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà
trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh,
ký xác nhận học bạ, ký xác nhận giấy chứng nhận tốt nghiệp
tạm thời và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh;
Quản lý nguồn nhân lực có rất nhiều mô hình khác nhau
của các nhà khoa học, luận văn sử dụng mô hình quản lý
nguồn nhân lực của nhà Xã hội học người Mỹ Leonard Nadle.
Mô hình đó được mô tả bằng sơ đồ sau:
- Mô hình quản lý nguồn nhân lực theo Leonard
Nadle [10]
Quản lý
nguồn nhân lực
Giáo dục đào tạo
- Giáo dục
- Đào tạo
- Bồi dưỡng
- Nghiên cứu
Sử dụng nguồn
nhân lực
- Tuyển dụng
- Sàng lọc
- Bố trí
- Đánh giá
- Đãi ngộ
Tạo môi trường cho
nguồn nhân lực
- Mở rộng chủng loại
việc làm
- Mở rộng quy mô
trình biến đổi về số lượng và chất lượng của sự vật theo chiều
hướng đi lên từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ
chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Phát triển là quá trình tích lũy