Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
Lời Mở Đầu
Hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng như mạch máu của nền kinh
tế bởi nó là các kênh trung gian huy động vốn và cũng là kênh cung cấp vốn
cho nền kinh tế. Kể từ khi nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế tự cung tự
cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập
WTO ngày 11/01/2007 khiến cho thị trường tài chính ngân hàng trở nên sôi
động hơn bao giờ hết, các ngân hàng thương mại bước vào cuộc chạy đua tăng
vốn điều lệ nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác thị trường tài chính còn nhiều tiềm
năng như ở nước ta. Khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng thương
mại cũng tăng lên cả về khối lượng cũng như số lượng sản phẩm tín dụng. Đặc
biệt năm 2008 được đánh giá là một năm đầy khó khăn với hệ thống ngân hàng
trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Hệ thống ngân hàng Việt Nam
phải đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng có trong hơn hai mươi
năm đổi mới và kết quả là nửa đầu năm gồng mình với khó khăn thanh khoản,
lợi nhuận của nhiều ngân hàng bị ảnh hưởng nặng nề. Tháng 9/2008, cuộc
khủng hoảng tài chính bắt đầu bùng phát tại Mỹ và lan rộng trên thế giới với
một loạt các định chế tài chính lớn sụp đổ. Trong khi đó hoạt động tín dụng
không chỉ có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung, với các doanh
nghiệp nói riêng mà còn vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi ngân hàng.
Nói như vậy bởi lẽ hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu, chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản và tạo nguồn thu chính đối với mỗi ngân
hàng. Tuy nhiên hoạt động này lại luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, gây tổn thất lớn
thậm chí dẫn đến phá sản ngân hàng. Chính vì vậy mà “chất lượng tín dụng”
luôn là vấn đề mà bất cứ ngân hàng nào cũng phải đặc biệt quan tâm trong mọi
giai đoạn phát triển của mình để hạn chế thấp nhất những rủi ro, tổn thất đó.
Do vậy em chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại
NHNo&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội” để mong muốn đóng góp một phần
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà
Nam Hà Nội.
Chương III: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo
& PTNT chi nhánh Nam Hà Nội.
Kết luận
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà 2
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN
DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
……………….
1.1. TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ latinh là credo – sự tin tưởng tín
nhiệm lẫn nhau. Nói cách khác, tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau
dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong
tương lai. Có thể định nghĩa tín dụng một cách đầy đủ như sau: Tín dụng là
quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc
hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định
thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Như vậy một quan
hệ tín dụng phải thỏa mãn những đặc trưng sau:
Thứ nhất, là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời. Đối tượng của
sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hóa dưới hình thức kéo dài
thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hóa. Tính chất tạm thời của
sự chuyển nhượng đề cập tới thời gian sử dụng lượng giá trị đó. Thực chất
trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị
tạm thời nhàn rỗi trong khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi
xuất phát từ sự không ăn khớp giữa thu nhập và chi tiêu về thời gian cũng như
khối lượng. Đó là, sự không trùng khớp giữa thu nhập và chi tiêu của hộ gia
đình, của các chủ thể sản xuất kinh doanh và của ngân sách nhà nước. Như
vậy, chức năng của tín dụng là phân phối lại vốn tiền tệ trong phạm vi toàn xã
hội, nghĩa là tín dụng thực hiện việc di chuyển các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi
đến những nơi phát sinh nhu cầu về vốn. Hoạt động thu chi của Ngân sách nhà
nước cũng được coi là một phương thức phân phối lại tuy nhiên nó hoàn toàn
không thích hợp với việc phân phối lại các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi cho
những nhu cầu về vốn tạm thời. Các đặc trưng riêng có của quan hệ tín dụng
cho phép nó trở thành một phương thức có hiệu quả nhất trong việc phân phối
lại các khoản vốn nhàn rỗi trong xã hội. Bởi lẽ, việc phân phối vốn trong quan
hệ tín dụng luôn gắn với các điều kiện đảm bảo tính hoàn trả và có lãi, các
khoản vốn nhàn rỗi sẽ được phân bổ cho các đối tượng có khả năng thỏa mãn
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà 4
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
những điều kiện tín dụng một cách tốt nhất. Và như vậy vốn được giao cho
người sử dụng có hiệu quả nhất. Bằng cách đó, tín dụng góp phần vào việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả kinh doanh của xã hội.
1.1.2. Phân loại tín dụng.
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa
trên một số tiêu thức nhất định. Sau đây là một số tiêu thức cơ bản:
1.1.2.1. Theo thời hạn tín dụng.
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn hoàn trả dưới 1 năm, được
sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn hoàn trả từ một năm đến
Bảo lãnh ngân hàng: Là cam kết bằng văn bản của ngân hàng với bên có
quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận
bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được
trả thay. Nếu phân theo mục tiêu bảo lãnh gồm các loại sau: bảo lãnh dự thầu,
bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo đảm hoàn trả tiền ứng trước, bảo
lãnh hoàn trả vốn vay, bảo lãnh đảm bảo thanh toán.
1.1.2.3. Theo mức độ tín nhiệm
+ Tín dụng có đảm bảo: Là hình thức cấp tín dụng có đảm bảo hoặc người
bảo lãnh đứng ra bảo đảm cho khoản tiền vay.
+ Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Là hình thức tín dụng không có tài
sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ
dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.
1.1.2.4. Theo xuất xứ tín dụng
Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng mà theo đó ngân hàng sẽ cung cấp
vốn trực tiếp cho người có nhu cầu sử dụng vốn đồng thời người vay trực tiếp
hoàn trả nợ ngân hàng. Mức độ rủi ro của ngân hàng trong trường hợp này thấp
vì tận dụng được trình độ của CBTD (cán bộ tín dụng) khi mà họ trực tiếp làm
việc với người vay để xem xét trước khi quyết định cho vay.
Tín dụng gián tiếp: Là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng không trực
tiếp cung cấp vốn cho người có nhu cầu vay vốn mà là mua lại các khế ước
hoặc chứng từ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
Ngoài ra còn có những tiêu thức phân loại khác như:
- Theo đối tượng tín dụng thì có tín dụng vốn lưu động, tín dụng vốn cố
định.
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà 6
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà 7
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
b, Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô.
Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh
tế và tạo công ăn việc làm. Việc đảm bảo đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô hài
hòa phụ thuộc một phần vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời
hạn cũng như đối tượng tín dụng. Vấn đề này, đến lượt nó lại phụ thuộc vào
các điều kiện tín dụng như lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh
và chủ trương mở rộng tín dụng được quy định trong chính sách tín dụng từng
thời kỳ. Như vậy thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng,
nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của
nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế cả về
quy mô cũng như kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới tác động của chính
sách tín dụng sẽ tác động ngược lại tới tổng cung và các điều kiện sản xuất
khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu sẽ cho phép đạt
được các mục tiêu vĩ mô cần thiết.
c, Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội
Các chính sách xã hội về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ
không hoàn lại từ ngân sách nhà nước. Song phương thức tài trợ này thường bị
hạn chế về quy mô, thiếu hiệu quả và có xu hướng bị thay thế bởi phương thức
tài trợ có hoàn lại của tín dụng nhằm duy trì nguồn cung cấp tài chính và có
điều kiện mở rộng quy mô tín dụng chính sách. Thông qua phương thức tài trợ
này, các mục tiêu chính sách được đáp ứng một cách chủ động và hiệu quả
hơn.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
1.2.1. Quan niệm về chất lượng tín dụng.
sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai
thác khả năng tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung
sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tín
dụng.
Chất lượng tín dụng là một thuật ngữ phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng
của NHTM chất lượng tín dụng chỉ được đánh giá sau khi khách hàng đã sử
dụng một khoản tín dụng nào đó. Chất lượng tín dụng được cấu thành bởi hai
yếu tố là mức độ an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động tín
dụng mang lại:
Thứ nhất, mức độ an toàn tín dụng: RRTD được định nghĩa là khoản lỗ
tiềm tàng vốn có khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Rủi ro tín dụng phát
sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà 9
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn tại thời
điểm ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng và chấp nhận giấy nhận nợ của
khách hàng. Nâng cao CLTD giúp ngân hàng phân tán cũng như giảm thiểu
được tới mức thấp nhất rủi ro tín dụng.
Thứ hai, khả năng sinh lời của ngân hàng do các khoản tín dụng mang lại:
Tín dụng là hoạt động chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho các NHTM, vì vậy CLTD
đóng vai trò quyết định đến khả năng sinh lời cho các ngân hàng.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá
Chất lượng tín dụng là một phạm trù hết sức phức tạp và trừu tượng. Do
đó để đánh giá được CLTD một cách chính xác tương đối người ta phải dựa
vào những tiêu thức nhất định. Thực tế người ta vẫn thường sử dụng các chỉ
tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng sau:
khi các nguyên tắc cho vay được tuân thủ triệt để.
1.2.2.2. Chỉ tiêu định lượng
a, Tổng dư nợ
Tổng dư nợ là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền
kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung
hạn và dài hạn. Tổng dư nợ càng cao thể hiện quy mô ngân hàng lớn vì ngân
hàng có lớn mới có cơ hội mở rộng quy mô tín dụng. Và ngược lại, tổng dư nợ
thấp chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng yếu kém, không có khả năng
mở rộng khách hàng, khả năng tiếp thị của ngân hàng chưa tốt, trình độ CBTD
thấp…Mặc dù vậy chỉ tiêu này cao thì chưa hẳn chất lượng khoản vay tốt bởi
nếu cứ có khách hàng là ngân hàng cho vay thì sẽ làm quy mô TD tăng lên
nhưng chất lượng không đảm bảo rất dễ dẫn đến rủi ro mất vốn từ đó ảnh
hưởng tới kết quả kinh doanh. Song nếu tổng DN tăng liên tục qua các năm thì
lại cho thấy chiều hướng tăng lên của CLTD.
b, Tỷ lệ nợ
Theo quyết định số 493/2005/QĐ/NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của
Thống đốc NHNN Việt Nam về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để
xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của các TCTD (Tổ chức tín dụng) và
quyết định 18/2007/QĐ – NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy
định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt
động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ/NHNN
thì TCTD thực hiện phân loại nợ theo năm nhóm như sau: nhóm 1 (nợ đủ tiêu
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà 11
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
chuẩn), nhóm 2 (nợ cần chú ý), nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi
ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).
12
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
Tỷ lệ này cho ta biết trong một đồng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ xấu. Nợ
xấu có độ rủi ro rất cao, khả năng thu hồi vốn là tương đối khó, khoản vay của
ngân hàng lúc này không còn là rủi ro nữa mà đã gây thiệt hại cho ngân hàng.
Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao chứng tỏ CLTD của ngân hàng là rất thấp
và lúc này phải xem xét lại toàn bộ hoạt động tín dụng của mình nếu không sẽ
không lường trước được hậu quả có thể xảy ra.
Thứ ba, tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi
Theo quyết định 493/2005/QĐ/NHNN – nợ không có khả năng thu hồi
chính là nợ nhóm 5
Nợ nhóm 5
Tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi =
Tổng dư nợ
Tỷ lệ này cho biết trong một đồng tổng dư nợ của ngân hàng có bao nhiêu
đồng là nợ có khả năng mất vốn. Một ngân hàng luôn đặt ra mục tiêu không có
nợ có khả năng mất vốn, tuy nhiên điều này rất khó thực hiện trong thực tế do
hoạt động này luôn tiềm ẩn những rủi ro rất lớn mà khó có thể lường hết được.
Tỷ lệ này càng cao thì CLTD của ngân hàng càng thấp, nguy cơ ngân hàng
không thu hồi đủ số nợ gốc, tổn thất đối với ngân hàng rất cao.
c, Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn
thất có thể xảy ra do khách hàng của TCTD không thực hiện nghĩa vụ theo
cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí
hoạt động của TCTD. Hiện tại thì các ngân hàng thực hiện trích lập dự phòng
RRTD theo quyết định 18/2007/QĐ – NHNN và Quyết định số 493/2005/QĐ –
NHNN. Khi tỷ lệ trích lập dự phòng tăng thì cho thấy CLTD tại ngân hàng
đang có dấu hiệu giảm sút và ngược lại.
d, Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
quy mô tín dụng trong khi quy mô huy động vốn tăng lên, cũng có thể là không
thu hút được khách hàng đến vay vốn.
f, Chỉ tiêu mức sinh lời
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
Tỷ lệ mức sinh lời =
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng, nó cho
biết một đồng tín dụng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ này cao cho thấy
việc sử dụng đồng vốn có hiệu quả thể hiện ở việc thu nhập từ hoạt động tín
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà 14
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
dụng tăng cao. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ ngân hàng có CLTD tốt và
ngược lại.
g, Thu nhập từ hoạt động cho vay
Mục đích kinh doanh của các NHTM là lợi nhuận. Do vậy không thể nói
một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại khoản thu nhập
cho ngân hàng. Hơn nữa nguồn thu nhập từ tín dụng là nguồn thu chủ yếu để
ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do tín dụng mang lại chứng tỏ khoản
vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được an toàn của
đồng vốn vay.
Thu nhập từ hoạt động tín dụng
Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động TD =
Tổng thu nhập
Tỷ lệ này cho biết trong một đồng thu nhập của ngân hàng có bao nhiêu
đồng thu nhập là do hoạt động tín dụng mang lại. Chỉ tiêu này càng cao chứng
tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng càng tốt. Từ đó cho thấy rằng nếu ngân
huy động vốn, cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng. Lạm phát
tăng cao, NHNN phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong
lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh
vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với
những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi
ro cho phép. Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, thì lãi suất cho vay cũng
cao, điều này đã làm xấu đi môi trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro đạo đức sẽ
xuất hiện
b, Môi trường chính trị - xã hội.
Môi trường chính trị của một quốc gia cũng tác động mạnh đến họat động
kinh doanh của các doanh nghiệp. Quốc gia nào duy trì được một nền chính trị
ổn định, thì ở đó các doanh nghiệp có điều kiện để phát triển. Họ yên tâm sản
xuất kinh doanh, không ngừng đầu tư mở rộng sản xuất nhằm tìm kiếm lợi
nhuận ngày càng tăng. Nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp tăng lên, các
NHTM có cơ hội để mở rộng cho vay. Với các khoản vay cũ thì khả năng thu
hồi tăng lên, CLTD vì thế mà được nâng cao. Bên cạnh đó, tín dụng là quan hệ
vay mượn dựa trên sự tín nhiệm là chính, lòng tin là cầu nối giữa ngân hàng và
khách hàng. Vì vậy, ngân hàng có uy tín trên thị trường sẽ thu hút được nhiều
khách hàng, và khách hàng có uy tín có quan hệ tín dụng tốt thì sẽ được ngân
hàng tạo thuận lợi trong việc cấp tín dụng. Đây cũng là một trong những nhân
tố quyết định đến CLTD.
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà 16
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
c, Môi trường pháp luật.
Cũng như các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường, hoạt động
của NHTM luôn bị điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp. Với môi trường pháp lý
17
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
những biến động lên xuống của nhu cầu thị trường, trình độ quản lý thấp, khả
năng phân tích đánh giá và dự báo những biến động của môi trường kinh doanh
thấp, trình độ chuyên môn không cao, sử dụng các nguồn lực không hiệu quả,
công nghệ kỹ thuật cũ kỹ, lạc hậu… thì hiệu quả sản xuất kinh doanh chắc
chắn không thể cao, khả năng cạnh tranh thấp, khả năng tạo ra các nguồn thu
để trả nợ ngân hàng bị hạn chế. Từ đó ảnh hưởng đến CLTD của ngân hàng.
Tư cách đạo đức của khách hàng: Trong quan hệ tín dụng phẩm chất đạo
đức của khách hàng là yếu tố quyết định thiện chí trả nợ cũng như mức độ
trung thực và điều này quyết định đến hoạt động trả nợ của khách hàng. Do đó
mà nó cũng tác động đến CLTD.
b, Từ phía ngân hàng.
Nhân tố bên trong được hiểu là những nhân tố thuộc về nội tại của từng
ngân hàng, do chủ quan ngân hàng nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt
động kinh doanh.
Thứ nhất, chiến lược phát triển của ngân hàng.
Chiến lược phát triển của ngân hàng là hệ thống các quan điểm, các mục
đích và các mục tiêu cơ bản cùng các giải pháp, chính sách nhằm sử dụng một
cách tốt nhất các nguồn lực, lợi thế, cơ hội của tổ chức để đạt được các mục
tiêu dài hạn trong thời gian ngắn nhất có thể. Để xây dựng chiến lược phát
triển, ngân hàng thường sử dụng mô hình SWOT phân tích điểm mạnh, điểm
yếu, cơ hội, thách thức của ngân hàng mình. Vậy thế nào là một chiến lược
phát triển phù hợp? Một chiến lược phát triển phù hợp là một chiến lược phát
huy được tối đa các điểm mạnh, khai thác được các cơ hội đồng thời hạn chế
được tới mức tối thiểu các điểm yếu và vượt qua được các thách thức. Một
chiến lược phát triển rõ ràng, đúng đắn và phù hợp sẽ định hướng hoạt động
cho tất cả các nghiệp vụ của ngân hàng trong đó có hoạt động TD. Tùy theo
chiến lược phát triển của ngân hàng là tăng trưởng hay ổn định thị trường mục
với nhau. Một quy trình tín dụng theo lý thuyết bao gồm sáu giai đoạn: lập hồ
sơ tín dụng, phân tích tín dụng, quyết định tín dụng, giải ngân, giám sát và thu
nợ, thanh lý hợp đồng tín dụng. Các giai đoạn này có mối quan hệ qua lại hỗ
trợ cho nhau. Kết quả của giai đoạn trước là cơ sở thực hiện giai đoạn tiếp theo
và tác động đến chất lượng công việc của giai đoạn sau. Dựa vào quy trình tín
dụng, ngân hàng sẽ thiết lập các thủ tục hành chính cho phù hợp với những quy
định của pháp luật và đảm bảo mục tiêu an toàn trong kinh doanh. Thiết kế các
thủ tục cho vay phải thích hợp với từng nhóm khách hàng, từng loại cho vay
cũng như kĩ thuật cho vay nhằm cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết, nhưng
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà 19
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
không gây phiền hà cho khách hàng, cũng như tiết kiệm thời gian cho cả hai
bên. Mặt khác, quy trình tín dụng còn là cơ sở để kiểm soát tiến trình cấp tín
dụng và điều chỉnh chính sách tín dụng cho phù hợp với thực tiễn. Thông qua
kiểm soát thực hiện quy trình tín dụng nhà quản trị ngân hàng nhanh chóng xác
định những khâu, những công việc cần điều chỉnh, cũng như hướng đào tạo và
phân công trong tương lai, từ đó kiểm soát được những rủi ro khi cấp tín dụng.
Điều đó cho thấy, một ngân hàng có quy trình tín dụng hợp lý thì CLTD sẽ
được đảm bảo và ngược lại.
Thứ tư, đội ngũ cán bộ tín dụng.
Con người luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của bất kỳ
một tổ chức nào, và ngân hàng cũng không phải là ngoại lệ. Trong hoạt động
tín dụng, CBTD là người tham gia trực tiếp vào mọi khâu của quy trình tín
dụng. Khi xem xét đến yếu tố này người ta xem xét dưới 2 góc độ:
Trước hết phải kể đến trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Một CBTD có
trình độ chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm cao sẽ đánh giá được chính xác về
chỗ nó tập hợp được những số tiền nhỏ lại, bản thân của vốn huy động là tài
sản thuộc các sở hữu khác nhau. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có
quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn
hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn. Hoạt động huy động vốn của mỗi ngân hàng
quyết định đến khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng. Rõ ràng, ngay
cả khi ngân hàng có khả năng thu hút được những khách hàng có chất lượng tốt
nhưng nguồn vốn huy động lại không đủ thì hoạt động tín dụng của ngân hàng
đó không thể có chất lượng cao. Vì Vậy, hoạt động huy động vốn hiệu quả là
cơ sở nền tảng cho việc nâng cao chất lượng tín dụng tại các ngân hàng.
Thứ sáu, khả năng thu thập và xử lý thông tin.
Trong thời đại cập nhật công nghệ thông tin như ngày nay người nào nắm
bắt và xử lý thông tin tốt thì người đó sẽ có nhiều cơ hội để chiến thắng. Trong
ngành ngân hàng, đặc biệt là trong công tác tín dụng thì việc tìm kiếm thông tin
về khách hàng là vô cùng quan trọng. Thông tin tín dụng bao gồm thông tin về
tình hình pháp lý, tình hình tài chính, tình hình dư nợ, tình hình tài sản đảm bảo
tiền vay và các thông tin khác. Thông tin càng chính xác bao nhiêu thì RRTD
mà ngân hàng gặp phải sẽ càng hạn chế bấy nhiêu. Thông tin về khách hàng có
thể được thu thập từ nhiều nguồn nhưng không phải nguồn nào cũng chính xác.
Vấn đề đặt ra đối với ngân hàng là phải sàng lọc và xử lý thông tin tốt, có như
vậy thì mới đảm bảo được chất lượng hoạt động tín dụng của mình. Mặt khác,
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà 21
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
một hệ thống thông tin tín dụng hoàn chỉnh có thể giúp cho các nhà lãnh đạo
ngân hàng có được cái nhìn toàn diện hơn, sâu rộng hơn về môi trường kinh
doanh của các ngân hàng. Từ đó, đưa ra được các quyết định đúng đắn trong
kinh doanh.
22
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
trực do đó việc kiểm soát cũng như các biện pháp chống đỡ, hạn chế RRTD
được đặc biệt chú ý. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng luôn là
một tổ chức kinh tế hạch toán độc lập và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh của mình. Vì vậy, để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình, các ngân
hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng. Trong xã hội,
sản xuất của cải vật chất là cơ sở tồn tại của xã hội loài người, nhu cầu tín dụng
được đáp ứng tạo ra sự luân chuyển sản phẩm ngày càng tăng, tạo ra sự phát
triển đi lên của nền kinh tế. Vì vậy hoạt động tín dụng kinh doanh của ngân
hàng cũng gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế
và các cá nhân. Để hoạt động tín dụng phát huy được tối đa hiệu quả, giảm
thiểu tới mức thấp nhất rủi ro thì CLTD góp phần không nhỏ vào hoạt động
này, nó không chỉ có vai trò to lớn đối với các ngân hàng nói riêng mà còn có ý
nghĩa đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung. Do đó việc nâng cao CLTD là đòi
hỏi tất yếu của nền kinh tế, khách hàng và cũng là nhu cầu thiết thực của chính
ngân hàng.
1.3.1. Về phía ngân hàng: Việc nâng cao CLTD sẽ đem lại những lợi ích sau:
Thứ nhất, làm tăng khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng và các hoạt
động khác bởi khi khách hàng và ngân hàng có mối quan hệ tốt, thường xuyên,
tin cậy trong hoạt động tín dụng sẽ thu hút khách hàng sử dụng các sản phẩm
dịch vụ khác của ngân hàng khi họ có nhu cầu.
Thứ hai, đảm bảo an toàn trong kinh doanh ngân hàng. Hoạt động tín dụng
đem lại lợi nhuận chính nhưng đồng nghĩa với nó là rủi ro cũng cao bởi rủi ro
và lợi nhuận luôn có quan hệ thuận chiều với nhau, lợi nhuận càng cao thì rủi
ro càng lớn. Vì vậy nâng cao CLTD sẽ giảm thiểu rủi ro và đảm bảo an toàn
trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, đảm bảo sự phát triển bền vững của
ngân hàng trong tương lai.
Thứ ba, tạo uy tín cho bản thân ngân hàng bởi lẽ hoạt động tín dụng có chất
lượng tốt, lợi nhuận của ngân hàng tăng, khả năng tài chính của ngân hàng
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà 24
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
Chương II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TẠI NHNo&PTNT CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI
………..…………
2.1. KHÁI QUÁT VỀ NHNo&PTNT CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh
NHNo&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội là một chi nhánh trực thuộc
NHNo&PTNT Việt Nam được thành lập theo quyết định 48/QĐ-HĐQT ngày
12/03/2001 của Chủ tịch hội đồng quản trị. Chi nhánh chính thức khai trương
đi vào hoạt động ngày 08/05/2001 với đội ngũ cán bộ công nhân viên ban đầu
là 36 người. Chi nhánh có trụ sở tại tòa nhà C3- Phường Phương Liệt- Thanh
Xuân- Hà Nội và có mạng lưới giao dịch được bố trí trên các địa bàn như
Thanh Xuân, Chùa bộc….Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
với thực trạng nhiều doanh nghiệp nhà nước chưa đứng vững trong cạnh tranh,
tốc độ cổ phần hóa chậm, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh gặp nhiều khó
khăn về vốn tự có…. đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động ngân hàng. Hơn nữa, các
doanh nghiệp đã có quan hệ truyền thống với một hoặc nhiều ngân hàng khác
nên đối với chi nhánh mới thành lập là rất khó khăn. Tuy nhiên chi nhánh Nam
Hà Nội đã khai thác được thế mạnh về cơ sở vật chất, các mối quan hệ, phong
cách phục vụ, tuyên truyền tiếp thị, đổi mới công nghệ, linh hoạt về lãi suất,
đồng thời luôn điều chỉnh về các hoạt động cho phù hợp, thay đổi kịp thời các
chính sách kinh doanh, tích cực tìm hiểu nhu cầu thị trường nên đã thu được
những kết quả kinh doanh khả quan, đứng vững trong nền kinh tế thị trường
đầy biến động và hiện đang được đánh giá là chi nhánh hoạt động hiệu quả có
quy mô lớn.