Quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam hiện nay - Phạm Thị Hường - Pdf 55

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HƯỜNG

QUYÒN §¦îC B¶O VÖ CñA TRÎ EM
ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HƯỜNG

QUYÒN §¦îC B¶O VÖ CñA TRÎ EM
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS CHU HỒNG THANH

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN


1.1.2.

Khái niệm quyền con người của trẻ em.......................................................9

1.1.3.

Khái niệm quyền được bảo vệ của trẻ em..................................................12

1.2.

Pháp luật quốc tế về quyền được bảo vệ của trẻ em..............................16

1.3.

Khái quát chính sách, pháp luật về quyền được bảo vệ của trẻ em
ở Việt Nam................................................................................................26

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ CỦA TRẺ EM Ở VIỆT NAM...............29
2.1.

Thực trạng pháp luật về quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam
................................................................................................................... 29

2.1.1.

Quyền được bảo vệ của trẻ em trong hệ thống pháp luật Việt Nam................29

2.1.2.

Một số quan điểm về quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam.........70

3.2.

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền được bảo
vệ của trẻ em ở Việt Nam........................................................................76

3.2.1.

Sửa đổi và cụ thể hóa Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.........76

3.2.2.

Sửa đổi Pháp luật Hình sự..........................................................................83

3.2.3.

Xây dựng cơ quan quốc gia bảo vệ quyền trẻ em.......................................85

3.3.

Giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật bảo vệ trẻ em
89

3.3.1.

Nâng cao nhận thức.................................................................................89

3.3.2.


Bộ luật dân sự

BLHS:

Bộ luật hình sự

BLLĐ:

Bộ luật lao động

BVCS&GDTE:

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

HNGĐ:

Hôn nhân và gia đình

MTTQ:

Mặt trận tổ quốc

NCTN:

Người chưa thành niên

TNHS:

Trách nhiệm hình sự


1


sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, tạo cơ hội cho trẻ
em phát triển toàn diện, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.
Để thực hiện tốt nhất công tác bảo vệ trẻ em, các cấp, các ngành, các tổ chức
đoàn thể và mỗi cá nhân cần quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của nhà nước, nhận thức đầy đủ, đúng đắn về trẻ em, vị trí vai trò và quyền của trẻ
em được quy định bằng pháp luật. Từ đó có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng
của công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em; ý thức sâu sắc nghĩa vụ, trách nhiệm của mình
để đề xuất những giải pháp, việc làm cụ thể trong thực hiện pháp luật về bảo vệ
quyền trẻ em.
Pháp luật Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện để bảo đảm tốt nhất quyền
được bảo vệ cho trẻ em ở Việt Nam. Bởi vậy, trẻ em Việt Nam đã, đang và sẽ được
hưởng những cơ hội tốt đẹp hơn so với trước đây. Mức sống của nhiều gia đình
được cải thiện, các bậc cha mẹ có sự lựa chọn dễ dàng hơn trong việc tổ chức cuộc
sống và điều này có ảnh hưởng tích cực tới lợi ích của trẻ em. Nhận thức toàn dân
về quyền được bảo vệ của trẻ em cũng không ngừng được cải thiện. Mặc dù vậy,
vẫn còn một khảng cách khá lớn giữa nhận thức về Quyền của trẻ em, hay hẹp hơn
là quyền được bảo vệ của trẻ em với các hành động cụ thể. Có thể thấy rằng, sau
hơn 20 năm thực hiện các chương trình hành động quốc gia vì trẻ em, bên cạnh rất
nhiều thành tựu đáng ghi nhận thì những hạn chế, yếu kém của công tác bảo vệ trẻ
em cũng bộc lộ.
Vấn đề bạo lực, bóc lột sức lao động, xâm hại trẻ em những năm gần đây
diễn biến rất phức tạp, gây bức xúc trong xã hội. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
tình trạng này. Quyền được bảo vệ của trẻ em trở thành một đề tài rất rộng và luôn
mang tính thời sự, luôn dành được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành khoa
học như xã hội học, chính trị học, luật học, kinh tế học… Trong thời gian vừa qua,
đã có không ít các công trình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài về thực hiện
pháp luật nói chung, hoặc về trẻ em và các quyền của trẻ em nói riêng. Tuy vậy, các

đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” của tác giả Lê Cảm (chủ biên), Hà Nội,
2007; “Tài liệu tập huấn tư pháp người chưa thành niên” của tác giả Đỗ Thị
Ngọc Tuyết năm 2008;……
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học của các tập thể, cá nhân
cũng như các bài viết của các tác giả từ trước đến nay về thực hiện pháp luật nói

3


chung và về quyền hoặc bảo vệ quyền trẻ em nói riêng đã có nhiều đóng góp
quan trọng vào nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở các khía cạnh khác nhau. Tuy
nhiên, có thể nói rằng, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
đầy đủ cả những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan trực tiếp đến “Quyền được
bảo vệ của trẻ em Việt Nam”. Bởi vậy, đây là đề tài nghiên cứu đầu tiên, dựa trên
cơ sở thực trạng quy định của pháp luật về quyền trẻ em và thực trạng các hoạt
động cũng như những kết quả đạt được và những hạn chế trong việc thực hiện
pháp luật về quyền được bảo vệ của trẻ em Việt Nam hiện nay và đưa ra những
kiến nghị, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật để bảo vệ
quyền trẻ em ngày một tốt hơn trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
và hội nhập quốc tế hiện nay.
3. Nhiệm vụ và ý nghĩa của luận văn
Trên cơ sở phân tích quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về
quyền được bảo vệ của trẻ em và quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam, luận văn
đánh giá chính xác, khách quan về thực hiện pháp luật và thực trạng pháp luật Việt
Nam về quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam. Phân tích tình hình đảm bảo
quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam hiện nay. Từ đó đề xuất một số kiến nghị,
giải pháp góp phần nâng cao pháp luật, nâng cao hiệu quả của văn bản quy phạm
pháp luật, nâng cao hiệu quả của nhà nước, cơ quan và các tổ chức, cá nhân trong
việc bảo đảm quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:

- Về địa điểm: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về
việc đảm bảo quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam.
- Về thời gian: trong khoảng thời gian 6 năm (2010 – 2016).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng
Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng
và Nhà nước về chính sách hình sự, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Để thực hiện đề tài, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa
học như: phương pháp tổng hợp và phân tích, so sánh, hệ thống hóa, thống kê… kết
hợp với các tri thức khoa học của các ngành tương ứng để nghiên cứu luận văn
nhằm đạt được mục đích đặt ra.
6. Điểm mới của luận văn
Những điểm mới cơ bản của luận văn là:

5


- Lần đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống tổng quát về quyền được
bảo vệ của trẻ em ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 2010-2016.
- Phân tích, đánh giá cụ thể nhưng rất khách quan, toàn diện về thực trạng
các quy định của pháp luật về quyền được bảo vệ của trẻ em ở nước ta.
- Hệ thống hóa các quy định của pháp luật, làm rõ đặc điểm pháp lý của
quyền được bảo vệ của trẻ em ở Việt Nam.
- Luận văn góp phần nâng cao nhận thức về quyền được bảo vệ của trẻ em
được quy định bằng pháp luật quốc tế và quốc gia, từ đó nâng cao ý thức trách
nhiệm của Đảng, nhà nước, xã hội, các tổ chức, cơ quan, từng gia đình và mỗi công
dân trong việc thực hiện pháp luật về quyền được bảo vệ của trẻ em.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích không
chỉ dành cho các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng
dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên

nhà nước, cá nhân và các tổ chức xã hội quan tâm bảo vệ. Từ thế kỷ XVI, ở Châu
Âu đã xuất hiện những dự án công cộng dành cho trẻ em (bệnh viện Spedale Degli
Innocenti ở Florent, Italia) [30, tr.53]… Do đó, việc xác định thế nào được gọi là trẻ
em chính là cơ sở để thực hiện và phát huy sự quan tâm đó.
Năm 1919 các tổ chức cứu trợ trẻ em của Anh và Thụy Điển ra đời nhưng vấn
đề trẻ em chỉ thực sự được quan tâm từ sau chiến tranh thế giới I (1914- 1918). Vấn
đề trẻ em cùng với các quyền trẻ em được quan tâm muộn đến như vậy trong khi
ngay từ thuở ban đầu loài người đã ý thức được rằng trẻ em cần được bảo vệ và chăm
sóc đặc biệt. Từ trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của nước
Pháp cũng chưa đưa ra khái niệm quyền trẻ em mà mới dừng lại ở việc đề cập đến
quyền con người nói chung. Như vậy, quyền trẻ em chưa được đặt ra trong pháp luật.
Nguyên nhân của sự ghi nhận chậm trễ này là do đơn giản quan niệm trẻ em là tài sản
riêng của các bậc cha mẹ nhất là ở các nước phương Đông với quan niệm “cha mẹ đặt
đâu con ngồi đấy” và “con không nghe cha mẹ trăm đường con hư”.
Năm 1923 Hiến chương về quyền trẻ em được thông qua. Ngày 26/09/1924
Hội Quốc liên (tổ chức tiền thân của Liên Hợp Quốc ngày nay) đã thông qua Tuyên
ngôn Giơnevơ 1924 về quyền trẻ em do hiệp hội quốc tế các quỹ cứu trợ trẻ em
khởi thảo dựa trên cơ sở Hiến chương về quyền trẻ em năm 1923. Kể từ đây, quyền
trẻ em đã trở thành một khái niệm được khẳng định và thừa nhận.
Từ đó, khái niệm trẻ em đã được đề cập trong nhiều văn kiện quốc tế: Tuyên
ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924, tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm
1959, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1968, Công ước quốc tế về

7


quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự
và chính trị năm 1966, Công ước 138 của Tổ chức lao động quốc tế (ULO) về tuổi
tối thiểu làm việc năm 1976, Công ước về quyền trẻ em năm 1989. Trong Công ước
về quyền trẻ em năm 1989 (Convention on the Rights of the Child – CRC) – văn

phận của quyền con người. Giống như tất cả quyền của các nhóm chủ thể khác,
quyền trẻ em cũng là một vấn đề có quá trình phát triển lâu dài với sự hình thành,
tiến triển qua các thời kỳ khác nhau.
1.1.2.1. Quyền con người của trẻ em theo pháp luật Quốc tế
Trước đây, thuật ngữ Quyền trẻ em chưa thực sự được chú trọng, phải đến
đầu thế kỷ thứ XX, thuật ngữ này mới được đề cập sau một loạt biến cố quốc tế lớn;
nhất là sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Sự kiện này khiến
rất nhiều trẻ em ở Châu Âu bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như mồ côi
không nơi nương tựa, đói khát, bệnh tật,… . Tình cảnh đó đã thúc đẩy việc thành
lập hai tổ chức cứu trợ trẻ em đầu tiên trên thế giới ở Anh và Thụy Điển vào năm
1919. Đến năm 1924, Hội Quốc liên thông qua bản tuyên ngôn Geneva về Quyền
trẻ em. Đây là lần đầu tiên, vấn đề quyền trẻ em chính thức được khẳng định và
thừa nhận trong pháp luật quốc tế, đánh dấu bước ngoặt trong nhận thức và hoạt
động bảo vệ trẻ em trên thế giới. Năm 1948, Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn
thế giới về quyền con người, trong đó khẳng định trẻ em cũng là chủ thể của quyền
con người. Năm 1959, Liên hợp quốc thông qua bản tuyên ngôn (thứ hai) về quyền
trẻ em, phát triển nội dung của Tuyên ngôn Geneva 1924. Từ năm 1959 đến những
năm 80 của thế kỷ XX, một loạt văn kiện quốc tế khác cũng được thông qua, trực
tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến các quyền của trẻ em. Tuy vậy, các văn kiện đó không
có tính chất ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý hoặc chưa tiếp cận từ vị thế đặc biệt và
chú trọng đến nhu cầu đặc thù của trẻ em nên tác động trên thực tế rất hạn chế. Đến
năm 1989, Liên hợp quốc thông qua Công ước quốc tế về quyền trẻ em, tính đến
thời điểm này, đây là văn kiện quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em.
Mặc dù vậy, đây không phải là văn kiện quốc tế duy nhất về lĩnh vực này, mà còn
nhiều văn kiện khác, trong đó tiêu biểu là hai Nghị định thư không bắt buộc bổ sung
CRC về sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang và về buôn bán trẻ em,
bóc lột và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em…
Cùng với sự ra đời của CRC, việc thành lập Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc và
Ủy ban trẻ em của Liên hợp quốc năm 1990 cũng là một thành công to lớn trong
lịch sử bảo vệ và phát triển các quyền trẻ em. Hoạt động của các cơ quan này đã

Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về các quyền trẻ em
Từ năm 1924 Hội Quốc liên đã thông qua bản Tuyên ngôn về quyền trẻ em.
Bản Tuyên ngôn đã xác định:

10


1. Trẻ em phải được tạo mọi điều kiện để phát triển bình thường
cả về vật chất lẫn tinh thần;
2. Trẻ em bị đói phải được ăn; trẻ em ốm được săn sóc; trẻ em
phạm tội phải được cải hóa; trẻ em mồ côi, bơ vơ phải được che chở và
cứu giúp.
3. Trẻ em phải được cứu trước tiên khi có tai ương.
4. Trẻ em phải được tạo dựng để kiếm sống và phải được bảo vệ
khỏi mọi hình thức bóc lột.
5. Trẻ em phải được nuôi dạy trong lương tri và tài năng của trẻ
em phải được dành phục vụ cho đồng bào của mình.
Năm 1959, Bản Tuyên ngôn thứ hai về Quyền trẻ em được Liên Hiệp quốc
thông qua. Năm 1989 Công ước quyền trẻ em đã được thông qua. Công ước gồm 54
điều, tại Điều 1 Công ước đã đưa ra khái niệm trẻ em, theo đó “Trẻ em có nghĩa là
người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi
thành niên sớm hơn”.
Công ước xác lập các nguyên tắc cơ bản về quyền trẻ em xuyên suốt các điều
khoản, bao gồm:
1. Không phân biệt đối xử trong việc đảm bảo thực hiện các
quyền trẻ em.
2. Dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em.
3. Trẻ em có quyền xác lập, bày tỏ các ý kiến riêng của mình và
quyền đó phải được tôn trọng.
4. Những quy định trong pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế

thiếu niên không phân biệt tình trạng phụ hệ hay bất cứ thân trạng nào”. Tất cả trẻ
em đều được bảo vệ không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn
giáo… Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản được nêu ở điều 2 công ước quốc
tế về quyền trẻ em.
1.1.3.1. Định nghĩa quyền được bảo vệ của trẻ em
Trong cuộc đời hoạt động đầy cống hiến và hy sinh của mình, trẻ em luôn là
lớp “công dân đặc biệt” được Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm cụ thể, sâu
sát. Cho dù ở vào những giai đoạn gay cấn nhất của cách mạng, cho dù bận trăm
công, nghìn việc, quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một
trong những công việc Bác thường làm, được Bác coi là quan trọng và luôn thường

12


trực trong suy nghĩ, hành động của Người. Chăm lo cho thế hệ trẻ, cho trẻ em được
thể hiện trong phong cách sống, trong đạo đức, trong tầm nhìn chiến lược và khoa
học của Hồ Chí Minh. Ở Người, quan điểm về bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đã
sớm trở thành một bộ phận của tư tưởng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội văn
minh, dân giàu, nước mạnh. Dân tộc không được giải phóng thì trẻ em không được
bảo vệ, chăm sóc, không được hưởng các quyền lợi cơ bản của mình. Đất nước
không được giàu mạnh thì trẻ em không được ấm no, hạnh phúc [47].
Trong Luật trẻ em 2016 của Việt Nam, tại khoản 1, điều 4 có giải thích: “Bảo
vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an
toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ
giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” [28, Điều 4].
Từ đó có thể kết luận rằng: Quyền được bảo vệ của trẻ em là các quyền cho
phép trẻ em có được sự bảo vệ chống lại tất cả các hình thức lạm dụng, sao nhãng
và bóc lột.
1.1.3.2. Nội dung quyền được bảo vệ của trẻ em
Quyền được bảo vệ của trẻ em được ghi nhận tại CRC, chúng ta có thể nhận

hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ em để trục lợi” [28, Điều 4].
Hiện nay, tình trạng bóc lột trẻ em, nhất là trong lĩnh vực lao động xảy ra ở mọi
quốc gia. Chính vì vậy, việc bảo vệ trẻ chống lại các hình thức bóc lột được đặt ra là
một nhu cầu cấp thiết. Tại điều 32 CRC có quy định: trẻ em được bảo vệ không bị bóc
lột về kinh tế và không phải làm bất cứ công việc nào nguy hiểm, có hại đối với sức
khỏe hay sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức, hay xã hội của trẻ em.
1.1.3.3. Hình thức và cấp độ của quyền được bảo vệ của trẻ em
Từ những nội dung nêu trên về quyền được bảo vệ của trẻ em, người ta đã
xây dựng một thang thể hiện các cấp độ bảo vệ trẻ em để đánh giá hiệu quả trong
việc thực hiện quyền được bảo vệ của trẻ em.
- Cấp độ 1: Cấp độ phòng ngừa
Cấp độ phòng ngừa gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với cộng
đồng, gia đình và mọi trẻ em nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức về bảo vệ
trẻ em, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em, giảm thiểu nguy
cơ trẻ em bị xâm hại hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
- Cấp độ 2: Cấp độ hỗ trợ

14


Cấp độ hỗ trợ bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với trẻ em có
nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm kịp thời
phát hiện, giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em.
- Cấp độ 3: Cấp độ can thiệp
Cấp độ can thiệp bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với trẻ em
và gia đình trẻ em bị xâm hại nhằm ngăn chặn hành vi xâm hại; hỗ trợ chăm sóc
phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
1.1.3.4. Ý nghĩa của quyền được bảo vệ của trẻ em
Bảo vệ trẻ em là một trong những nhiệm quan trọng hàng đầu của mỗi quốc
gia, dân tộc, bởi "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai" (UNESCO).

là tập hợp những quy định pháp lý quốc tế một cách toàn diện nhằm mang lại lợi ích
và bảo vệ cho trẻ em. CRC quy định các quyền con người cơ bản của trẻ em. Công
ước là văn kiện quyền con người được nhiều nước phê chuẩn nhất trong lịch sử.
Công ước bao gồm 54 điều và có bốn nguyên tắc cơ bản là:
- Trẻ em không bị phân biệt đối xử.
- Lợi ích tốt nhất của trẻ em phải được đặt lên hàng đầu trong các
chương trình nghị sự đưa ra các quyết định liên quan đến trẻ em.
- Trẻ em có quyền được sống và phát triển cả về thể chất lẫn trí tuệ.
- Trẻ em có quyền được phát biểu ý kiến của mình và ý kiến của
các em phải được tôn trọng trong các vấn đề liên quan đến các em.
Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê
chuẩn CRC vào năm 1990. Khi chính phủ phê chuẩn công ước thì trẻ em được
hưởng quyền ở tất cả các giai đoạn trong cuộc đời như: Quyền được sống, được
phát triển và được bảo vệ. Bằng việc phê chuẩn công ước thì các chính phủ đã cam
kết thực hiện Công ước. Các quyền của trẻ em là những quyền cơ bản, chính đáng,
là một phần trong số các nhu cầu thiết yếu với tất cả mọi người, mọi trẻ em đều có
các quyền như nhau. Các quyền trẻ em đồng thời là trách nhiệm, nghĩa vụ của các
quốc gia, vấn đề này phải được công nhận và quy định cụ thể bằng pháp luật của
mỗi quốc gia.
Công ước quy định hệ thống các quyền được bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội. Hệ thống các quyền được bảo vệ của trẻ em được
phân loại thành các quyền như sau:
Bảo vệ quyền khai sinh, có họ tên và có quốc tịch của trẻ em. Các công

16


ước quốc tế đã có những quy định cụ thể để bảo vệ quyền khai sinh và quyền có
quốc tịch của trẻ em. Trong công ước quốc tế về quyền dân sự và chính chị năm
1966 tại khoản 2 có nêu rõ: “trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi sinh và được

luật của quốc gia. Như tại Nhật Bản năm 2000 có quy định: cho phép trẻ em hay
còn gọi là người chưa thành niên phạm tội, khi bị xét xử tại tòa án gia đình được có
một hoặc hai người đại diện, người đại diện không nhất thiết phải là luật sư bảo
chữa, có thể là giáo viên hoặc người làm công tác xã hội. Tòa án gia đình phải tiến
hành xét xử trên cơ sở chân tình, có lợi cho trẻ em, cần có mọi cố gắng để bảo vệ
cho những thuộc tính cao đẹp nhất của người chưa thành niên và để cho người chưa
thành niên có niềm tin, việc xét xử cần tiến hành công khai [47]. Ở Thái Lan, tại
điều 75 bộ luật hình sự có quy định: người chưa thành niên từ 14 đến 17 tuổi có thể
bị phạt và được hưởng hình phạt đặc biệt. Trong trường hợp ở độ tuổi này, trước khi
xét xử và tuyên án, Tòa án bao giờ cũng xem xét kỹ hoàn cảnh, nhân thân và môi
trường của người đó… Còn tại Hà Lan khi người chưa thành niên phạm tội, người
ta cân nhắc và áp dụng các chế tài thay thế, chỉ được phép tiến hành theo thủ tục tố
tụng hình sự khi không còn cơ hội nào để có thể áp dụng chế tài thay thế… Có hai
loại chế tài thay thế khác nhau được áp dụng với người chưa thành niên, đó là các
dự án công tác và các dự án đào tạo. Các chế tài này góp phần tăng cường hệ thống
giáo dục và hệ thống quản lý xét xử người chứa thành niên, giúp cho các em hạn
chế được tái phạm, mặt khác các chế tài thay thế này góp phần hạn chế được việc áp
dụng những chế tài truyền thống vốn dĩ không đem lại được sự thay đổi hành vi của
các em theo hướng tốt.
Như vậy, tùy thuộc vào sự phát triển và lịch sử của mỗi quốc gia mà có
những quy định về độ tuổi, mức độ chịu TNHS, thủ tục, cách thức xử lý hành vi
phạm tội của người chưa thành niên là khác nhau. Tuy nhiên, pháp luật của các
quốc gia đều có những quy định hướng tới bảo vệ quyền con người của người chưa
thành niên phạm tội từ mọi góc độ.
Bảo vệ trẻ em chống lại sự bóc lột và lạm dụng. Vấn đề này rất đáng lo
ngại vì trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương và hậu quả của việc bóc lột, lạm dụng
tình dục trẻ em là rất nghiêm trọng và lâu dài. Công ước về quyền trẻ em có quy
định tại điều 34: các quốc gia phải bảo vệ trẻ em chống lại tất cả các hình thức bóc
lột và lạm dụng tình dục, phải đặc biệt thực hiện tất cả các biện pháp thích hợp để


em tàn tật. CRC có quy định: trẻ em tàn tật về tinh thần hay thể chất cần được
hưởng một cuộc sống trọn vẹn và đẩy đủ, trong những điều kiện đảm bảo phẩm giá,

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status