Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật và điều trị i131 ung thư tuyến giáp thể biệt hóa giai đoạn muộn - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư tuyến giáp (UTTG) là bệnh ác tính thường gặp nhất của hệ nội
tiết, theo Hiệp hội quốc tế phòng chống ung thư (UICC) UTTG chiếm khoảng
90% tổng số các ung thư tuyến nội tiết và khoảng 1% tổng số các ung thư nói
chung [1], [2]. Tỷ lệ này cao hơn ở các nước có bệnh bướu cổ lưu hành địa
phương, bệnh gặp ở nữ nhiều hơn nam, xuất hiện ở mọi lứa tuổi song nhóm
tuổi hay gặp nhất là 7 – 20 tuổi và 40 – 65 tuổi. Trên thế giới tỷ lệ mắc UTTG
biến đổi từ 0,5 – 10/100.000 dân tùy thuộc vào chủng tộc và vùng địa lý [1],
[2]. Ở Việt Nam số liệu thống kê cho thấy tại Hà Nội tỷ lệ mắc bệnh là
1,9/100.000 dân, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ cao hơn nam 2,6 lần; tại thành phố Hồ
Chí Minh tỷ lệ mắc bệnh ở nữ là 2,8/100.000 dân, và ở nam là 1,5/100.000
dân. Các yếu tố nguy cơ gây ung thư tuyến giáp như tiền sử tia xạ vùng đầu
cổ, gia đình có người bị ung thư tuyến giáp...[1],[3], [4].
Về mô bệnh học, UTTG gồm 4 loại chính được sử dụng trong thực hành
lâm sàng và nghiên cứu là ung thư thể nhú, ung thư thể nang, ung thư thể tủy
và ung thư không biệt hóa. Trong đó ung thư thể biệt hóa là ung thư thể nhú
và ung thư thể nang có tiên lượng tốt do đáp ứng rất tốt với điều trị I 131. Đặc
biệt ung thư thể nhú là thường gặp nhất với tỷ lệ 80% và có tiên lượng rất tốt.
UTTG giai đoạn sớm đôi khi chỉ thấy có khối u đơn thuần vùng cổ. Giai
đoạn muộn hơn khi khối u xâm lấn tổ chức xung quanh gây nuốt vướng, khàn
tiếng hoặc chỉ có hạch cổ di căn đơn độc. Giai đoạn muộn trong UTTG được
cho là giai đoạn T3, T4a, T4b khi mà khối u có kích thước lớn hoặc bắt đầu
phá vỡ vỏ xâm lấn ra tổ chức xung quanh.
Đối với UTTG thể biệt hóa thì phẫu thuật là phương pháp được lựa chọn
đầu tiên[5], [3]. Theo khuyến cáo của Hiệp hội Ung thư quốc tế thì các bệnh
nhân UTTG thể biệt hóa giai đoạn muộn cần được phẫu thuật cắt toàn bộ
tuyến giáp + có hoặc không nạo vét hạch cổ phối hợp với điều trị bổ xung I 131
sau mổ nhằm loại bỏ mô giáp còn sót lại, diệt những ổ di căn hạch và di căn


nữ/nam là 1,3/1; tỷ lệ tái phát 13,9% [8].
Sherman SI (2003) cho thấy khi phẫu thuật cắt TGTB đơn thuần tỷ lệ tái
phát là 51% so với phẫu thuật cắt TGTB kết hợp với vét hạch trung tâm và
hạch cổ bên tỷ lệ tái phát chỉ còn 18% [9].
Simon Grodski và cộng sự (2007) khi nghiên cứu phẫu thuật vét hạch
nhóm VI thường quy cho tất cả các bệnh nhân UTTG thể biệt hóa nhận thấy
giảm tỷ lệ tái phát và giảm nồng độ Tg [10].
Nghiên cứu của Mazzaferri và cộng sự trên 2 nhóm bệnh nhân UTTG
thể biệt hóa sau phẫu thuật, một nhóm được điều trị tiếp bằng I 131 và một
nhóm chỉ dùng Thyroxine đơn thuần. Tỷ lệ tái phát và tử vong của nhóm
được điều trị bằng I131 là 16% và 3% thấp hơn rõ rệt so với nhóm không được
điều trị I131 là 38% và 8% [11].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Các con số thống kê về UTTG ở nước ta cho thấy tỷ lệ của bệnh tương
đối cao. Theo số liệu của Phạm Hoàng Anh ghi nhận ung thư Hà Nội năm
1991 – 1995, UTTG chiếm ở nam là 0,9% và nữ là 3% trong tổng số các
loại ung thư [1].


4

Về mặt chẩn đoán và điều trị, Nguyễn Quốc Bảo (1999) cho thấy phần
lớn u có kích thước lớn hơn 3cm, nhiều nhân, tỷ lệ di căn hạch cao. Xạ hình
đồ tuyến giáp sau mổ thấy 41,9% còn rải rác mô giáp sót lại ở vùng tuyến
giáp, 65% còn tổ chức tuyến giáp [4].
Bàn về vấn đề tái phát của UTTG, Lê Chính Đại (1996) cho thấy tỷ lệ
tái phát cao (25%) [7]. Theo nghiên cứu của Đoàn Hữu Nghị (1995) tỷ lệ
tái phát là 20% [12].
Lê Văn Quảng, nghiên cứu 308 bệnh nhân UTTG giai đoạn 1992 – 2000
cho thấy tỷ lệ sống thêm 5 năm là 83,6%; tái phát u 12%; tái phát hạch 15,0%

- Cực dưới liên quan với bó mạch giáp dưới, bên trái liên quan đến ống ngực.
* Eo tuyến giáp
Eo tuyến nằm vắt ngang nối hai phần dưới của hai thùy tuyến, từ bờ trên
eo thường tách ra một mẩu tuyến chạy lên trên tới xương móng gọi là thùy
tháp. Eo dính vào vòng sụn khí quản II – IV nên nó di chuyển theo thành khí
quản khi ta nuốt, đây là một đặc điểm giúp ta phân biệt khối u của tuyến giáp
với các khối u khác ở cổ [15].

Hình 1.1. Giải phẫu tuyến giáp
(Trích từ Atlas giải phẫu người của Frank H. Nnetter - NXB Y học - 1996)


6

1.2.2. Mạch máu và thần kinh
* Mạch máu
- Động mạch: Cung cấp máu cho tuyến giáp có bốn động mạch chính:
hai động mạch giáp trên và hai động mạch giáp dưới [15], [14] .
+ Động mạch giáp trên: Tách từ động mạch cảnh ngoài, đến cực trên của
mỗi thuỳ giáp chia 3 nhánh vào mặt trước ngoài, mặt trong, mặt sau. Động
mạch giáp trên cấp máu chủ yếu cho tuyến giáp.
+ Động mạch giáp dưới: Tách từ động mạch dưới đòn tới thuỳ giáp chia
ra các nhánh cho phần dưới của tuyến giáp và tuyến cận giáp.
+ Đôi khi tuyến giáp còn được cấp máu bởi động mạch giáp dưới cùng
tách từ thân cánh tay đầu hoặc từ cung động mạch chủ.
Đặc điểm bố trí hệ thống động mạch của tuyến giáp là các thân động
mạch nằm trên bề mặt của tuyến.
- Tĩnh mạch: Các tĩnh mạch của tuyến giáp tạo nên các đám rối ở trên
mặt tuyến và phía trước khí quản, các đám rối này đổ vào các tĩnh mạch giáp
trên, giáp dưới và giáp giữa.

bình của tuyến dài 6mm, rộng 3 – 4mm và dày khoảng 1 – 2mm, nặng khoảng
50mg. Có từ 2 – 6 tuyến, thường là 4 tuyến, mỗi bên có 2 tuyến, một trên và
một dưới. Sự tiếp nối giữa động mạch giáp trên và động mạch giáp dưới nằm
dọc theo bờ sau thùy bên tuyến giáp có liên quan mật thiết với các tuyến cận
giáp và là mốc để tìm tuyến cận giáp [15], [14].


9

1.2.4. Hệ thống bạch huyết

Hình 1.4. Các chuỗi hạch chính ở cổ
(Trích từ Atlas giải phẫu người của Frank H. Nnetter - NXB Y học - 1996)
Bắt nguồn từ các mao mạch bạch huyết vây quanh các nang tuyến, từ
đây tân dịch được đổ vào hệ thống bạch huyết dưới vỏ và tạo nên các ống
góp, từ các ống góp bạch huyết được đổ về hai vùng hạch:
- Các hạch trước về bên tĩnh mạch cảnh trong.
- Chuỗi quặt ngược, chặng đầu của hạch trung thất trên và trước.
Vì vậy trong UTTG hay gặp di hạch cảnh.
- Cần chú ý sự nối liền chặt chẽ với nhau của các chuỗi hạch cổ: Hạch cổ
ngang, nhóm hạch gai, nhóm hạch cảnh tạo nên tam giác cổ của Rouviere
[10]. Do sự nối này, UTTG có thể di căn cả hạch nhóm gai.
- Giữa đám rối bạch huyết trong niêm mạc khí quản và của tuyến giáp có


10

sự thông thương trực tiếp với nhau. Điều này giải thích những trường hợp
UTTG có di căn sớm vào hạch trước khí quản (tương ứng với eo giáp).
- Động mạch cảnh chung là mốc để phân biệt khoang bạch huyết trung

Những mao mạch máu nằm trong mô liên kết xen giữa các túi tuyến và
có quan hệ mật thiết với các túi tuyến [17].
1.2.6. Vài nét về sinh lý tuyến giáp
Tuyến giáp là một tuyến nội tiết, trong tuyến có 2 loại tế bào: tế bào C tiết
calcitonine và rất nhiều tế bào tuyến giáp liền nhau tạo thành những nang đường
kính khoảng 100 – 300 micromet. Những tế bào này bắt giữ iod ở máu và tổng
hợp tiền nội tiết tố tích trữ trong các nang. Khi có kích thích bởi TSH các nang sẽ
giải phóng một phần nội tiết tố tuyến giáp đã được tích trữ dưới dạng triiodothyroxine (T3: 20%) và thyroxine (T4: 80%). Hormon này có các tác dụng:
 Tác dụng lên sự phát triển cơ thể
Thúc đẩy sự trưởng thành và phát triển não trong thời kỳ bào thai và cả
những năm đầu sau sinh. Làm tăng tốc độ phát triển [18],[19],[20].
 Tác dụng chuyển hoá
Nội tiết tố tuyến giáp làm tăng hoạt động chuyển hóa của hầu hết các mô


12

trong cơ thể, tăng tốc độ các phản ứng hóa học, tăng tiêu thụ và thoái hóa thức
ăn [18], [19],[20].
 Tác dụng lên chuyển hóa glucide, lipide và protein
 Tác dụng lên hệ tim mạch, hệ thần kinh cơ, cơ quan sinh dục và các
tuyến nội tiết khác
1.3. ĐẶC ĐIỂM BỆNH HỌC UNG THƯ TUYẾN GIÁP
1.3.1. Dịch tễ học yếu tố nguy cơ
1.3.1.1. Dịch tễ học
Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 1% các loại ung thư, tỷ lệ này cao hơn
ở các nước có bệnh bướu cổ địa phương. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở nam là
3/100.000 dân/năm, ở nữ cao hơn từ 2 – 3 lần, tỷ lệ này ít có sự khác biệt giữa
các vùng khác nhau trên thế giới, tuy nhiên ở một vài cộng đồng dân cư thì tỷ
lệ này cao hơn (gồm phụ nữ ở quần đảo Pacific Polynesia, dân ở Philippin di

phát triển khối u giáp dễ nghi ngờ ung thư, nhưng ảnh hưởng của các yếu tố
này còn chưa được sáng tỏ [2], [21].
- Vai trò của gen: khoảng 20 – 25% bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp thể
tuỷ có thể là do yếu tố di truyền và do một loại gen bất thường gây ra.
1.3.2. Tiến triển của ung thư tuyến giáp thể biệt hóa
Ung thư tuyến giáp thể biệt hóa có tốc độ phát triển rất chậm với thời
gian nhân đôi trên 1 năm, tiến triển tự nhiên trong nhiều năm.
- Sự phát triển tại chỗ, xâm lấn vỏ bao tuyến giáp và các cấu trúc xung quanh
như thực quản, khí quản, thanh quản, xâm nhiễm da phụ thuộc vào phân loại giải
phẫu bệnh và thời gian phát hiện bệnh [21], [25],[26],[27],[28].
- Di căn xa:
+ Ung thư thể nhú thường di căn hạch vùng cổ, có thể di căn sớm ngay cả
khi u còn nhỏ, khoảng 40% có di căn hạch vùng ở thời điểm chẩn đoán. Di căn


14

xa theo đường máu chiếm khoảng 10% và có từ 1 – 2% di căn xa ở thời điểm
chẩn đoán ban đầu [2],[29],[26].
+ Ung thư thể nang ít di căn hạch cổ hơn thể nhú, thường di căn xa theo
đường máu tới phổi, xương. Theo y văn, di căn hạch gặp 5 – 20% và di căn xa
2 – 5% ở thời điểm chẩn đoán [21], [26].
- Tái phát tại chỗ: Nguyên nhân của tái phát tại chỗ là sự hoạt động trở
lại của tế bào u ban đầu do điều trị không loại bỏ được hoàn toàn tế bào u.
1.3.3. Phân loại mô bệnh học (MBH)
Dựa vào kết quả sinh thiết người ta có thể phân loại mô bệnh học ung thư
tuyến giáp theo Tổ chức Y tế thế giới (1998) như sau [6]:
U ác tính:
1. Ung thư biểu mô nhú
2. Ung thư biểu mô nang

thể nang.
Các đặc điểm về tuổi, giới tính, tiền sử gia đình, sự hoàn thiện của phẫu
thuật và điều trị bổ sung sau phẫu thuật có liên quan tới tỷ lệ tái phát hơn là tỷ
lệ sống.
1.3.5. Chẩn đoán ung thư tuyến giáp
1.3.5.1. Triệu chứng lâm sàng
* Triệu chứng cơ năng
- Giai đoạn đầu: triệu chứng cơ năng thường nghèo nàn, ít có giá trị. Đa
số bệnh nhân đến khám vì xuất hiện khối u vùng cổ. Điều quan trọng cần ghi
nhận là: hoàn cảnh, thời gian phát hiện, sự thay đổi mật độ và thể tích u.
+ U lớn nhanh gợi ý ung thư (đặc biệt u gần đáy tuyến) nhưng lưu ý
những u tuyến và nang cũng có thể to nhanh.
+ Ở thể giả viêm của UTTG: Tuyến giáp to toàn bộ, đau, sốt.
- Giai đoạn muộn hoặc khối u lớn xâm lấn thường có biểu hiện nuốt
vướng, khó thở, khàn tiếng [5], [3],[27].
- Một số bệnh nhân đến vì một di căn xa, qua thăm khám mới phát hiện


16

được u giáp. Các di căn xa thường gặp là ở phổi, xương, trung thất, não ...
* Triệu chứng thực thể
- Khối u giáp [5], [3]:
+ U có thể biểu hiện một hay nhiều nhân với đặc điểm u cứng, bờ rõ, bề
mặt nhẵn hay gồ ghề, di động theo nhịp nuốt.
+ U có thể ở một thuỳ, eo hoặc cả hai thuỳ.
+ Khi u lớn thường có biểu hiện: Khối u cứng, cố định, đỏ da, sùi loét
hoặc chảy máu.
- Hạch cổ [5], [3]:
+ Đa số hạch cùng bên (có thể hạch cổ đối bên hoặc hai bên).

Thể đặc

Thể hỗn hợp

Giảm âm

Thể nang

Hình 1.6. Một số hình ảnh của siêu âm tuyến giáp
(Trích từ “La Thyroide” - NXB L’Expansion scientiphique Francaise – 1992)
* Xạ hình tuyến giáp và xạ hình toàn thân: thường dùng I131
- Phần lớn ung thư tuyến giáp không bắt I 131 và biểu hiện bằng nhân lạnh.
Tuy nhiên phần lớn nhân lạnh là u lành nang tuyến vì thế xét nghiệm này có ít
giá trị chẩn đoán và hay bỏ sót những u nhỏ.
- Xạ hình toàn thân với I131 rất có ích trong việc phát hiện di căn xa
nhưng xét nghiệm này chỉ có giá trị sau phẫu thuật cắt tuyến giáp toàn bộ.
* Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA)
Tại Việt Nam, Nguyễn Vượng (1972) là người đầu tiên sử dụng phương
pháp chọc hút bằng kim nhỏ chẩn đoán một số bệnh thường gặp sau đó được
áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán ung thư nói chung trong đó có ung thư
tuyến giáp. Kỹ thuật này có thể thực hiện nhanh chóng, chính xác, rẻ tiền và
dễ áp dụng. Thường áp dụng kỹ thuật chọc hút bằng kim nhỏ tại u và hạch,
sau đó phết lên phiến kính sạch, được cố định và nhuộm Giemsa, có thể làm


18

nhiều lần khi nghi ngờ. Nếu tìm thấy tế bào tuyến giáp ở hạch thì chắc chắn là
ung thư tuyến giáp. Hiện nay chọc hút tế bào tuyến giáp dưới hướng dẫn của
siêu âm làm tăng hiệu quả của phương pháp chẩn đoán này [7], [21].

+ T1: U có đường kính lớn nhất ≤ 2cm, còn giới hạn ở tuyến giáp.
T1a: u ≤ 1cm.
T1b: 1 < u ≤ 2cm.
+ T2: U có đường kính từ 2 – 4 cm, còn giới hạn ở tuyến giáp .
+ T3: U có đường kính trên 4cm, còn giới hạn ở tuyến giáp hoặc u xâm
lấn tối thiểu ra bên ngoài tuyến giáp (phần mềm quanh tuyến giáp).
+ T4: U có kích thước bất kỳ nhưng xâm lấn vỏ bao tuyến giáp.
Chú ý: Từ T1 đến T4 có thể phân chia ra: a – u đơn độc, b – u đa ổ (lấy
u có đường kính lớn nhất để đánh giá T).
- N: Hạch vùng:
+ Nx: Không đánh giá được hạch vùng.
+ No: Không di căn hạch vùng.
+ N1: Di căn hạch vùng.
N1a: Di căn hạch cổ nhóm VI (hạch trước khí quản, cạnh khí
quản và trước thanh quản).
N1b: Di căn hạch cổ 1 bên, 2 bên hoặc hạch cổ đối bên (nhóm I,
II, III, IV, V) hoặc hạch thành sau họng hoặc hạch trung
thất trên.
- M: Di căn xa
+ Mx: Không xác định được di căn xa.
+ Mo: Không có di căn xa.
+ M1: Di căn xa.


20

Giai đoạn muộn của UTTG được cho là từ giai đoạn T3,có hoặc không
di căn hạch



+ Cắt toàn bộ thuỳ giáp cùng bên đối với u < 1 cm, bệnh nhân thuộc
nhóm có nguy cơ thấp, khối u không vượt quá vỏ bao tuyến giáp, không thâm
nhiễm mạch máu và di căn [21], [5], [24],[30],[34].
+ Cắt tuyến giáp toàn bộ (TGTB) hiện nay được nhiều phẫu thuật viên
(PTV) ủng hộ. Chỉ định: ung thư tuyến giáp thể nhú ở cả 2 thùy, khối u vượt
quá vỏ bao tuyến giáp, xâm lấn tại chỗ hay đã có di căn. Phương pháp phẫu
thuật này còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều trị bổ trợ bằng I 131 sau mổ,
theo dõi sau điều trị bằng định lượng Thyroglobulin [9], [7],[18] .
- UT thể nang và UT tế bào Hurthlre: đa số các khối u thể nang và tế bào
Hurthlre có biểu hiện là những nhân giáp đơn độc, tương đối mềm và có kích
thước khá lớn (2 đến 5cm). Chẩn đoán tế bào học bằng kim nhỏ thường cho
kết quả “không xác định” hay nghi ngờ ác tính. Nhiều khi, ngay cả tại thời


22

điểm tiến hành phẫu thuật, người ta không thể phân biệt được adenoma với
carcinoma. Vì vậy, nhiều PTV khuyến cáo nên tiến hành cắt toàn bộ một thùy
giáp và eo tuyến. Sau phẫu thuật nếu kết quả giải phẫu bệnh lý là u lành tính
hoặc khối u ác tính nhỏ và chỉ xâm lấn tối thiểu thì bệnh nhân không phải
điều trị gì thêm. Nếu tổn thương được xác định là ác tính, có thâm nhiễm, di
căn hạch ... thì bệnh nhân được chỉ định cắt TGTB và điều trị I131 sau mổ.
* Nạo vét hạch cổ
Nạo vét hạch cổ chọn lọc [35]
Nạo vét hạch cổ chọn lọc được thực hiện trên bệnh nhân có nguy cơ di
căn hạch sớm. Phương pháp này bao gồm lấy đi toàn bộ một hay hơn
một nhóm hạch có nguy cơ tiềm ẩn ung thư di căn. Có 4 loại:
+ Nạo vét chọn lọc hạch trên cơ vai-móng.
+ Nạo vét chọn lọc hạch cổ bên.
+ Nạo vét chọn lọc sau ngoài.

tuyến giáp đã được loại bỏ hoàn toàn Tg được coi là chất chỉ điểm đáng tin
cậy trong theo dõi tiến triển của bệnh.
- Điều trị những ổ di căn ung thư tại các tổ chức hạch, phổi, xương...
- Hầu hết các tác giả đồng ý không nên điều trị I 131 một cách thường quy
sau mổ mà chỉ dành cho các loại ung thư thể biệt hoá (nhú, nang), tuổi cao, nhiều
ổ, có xâm lấn tại chỗ, và đặc biệt có di căn xa. Dùng I 131 làm giảm tỷ lệ tái phát
tại chỗ nhưng không kéo dài thời gian sống thêm. Đối với ung thư tuyến giáp có
di căn xa (xương, phổi) đáp ứng tốt với điều trị này, đặc biệt là loại có bắt iod
phóng xạ. Theo Maxon (1990), Sisson (1996): Tỷ lệ sống thêm 5 năm với di căn
xa có bắt iod là 60% so với 30% khối di căn không bắt iod . Kết quả nghiên
cứu của Tubiana và cộng sự (1985) so sánh giữa 2 phương pháp có sử dụng
I131 và không sử dụng I131 thấy tỷ lệ sống thêm không bệnh tương ứng là 80%
và 73% sau 5 năm [3],[30],[36],[37],[38].
Quy trình điều trị huỷ mô giáp bằng I131
*Chuẩn bị bệnh nhân:
- Không dùng hormon giáp ít nhất 2 tuần trước đó, không dùng các thuốc,
chế phẩm có iốt để bảo đảm cho I131 tập trung cao vào tổ chức tuyến còn lại và
tổn thương di căn nếu có.
- Làm các xét nghiệm cơ bản: huyết học, sinh hóa chức năng gan, thận.


24

- Định lượng hormon tuyến giáp, TSH, Tg, TgAb.
- Siêu âm tuyến giáp, hạch, ổ bụng.
- Xạ hình tuyến giáp và xạ hình toàn thân sau phẫu thuật:
+ Cho bệnh nhân uống I131 liều 2-5 mCi (xa bữa ăn).
+ Sau 48h: Đo độ tập trung tại vùng cổ, xạ hình toàn thân và vùng cổ.
Lưu ý: trước khi xạ hình phải đảm bảo bệnh nhân đang ở tình trạng nhược
giáp (TSH ≥ 30 µU/ml).

- Kết luận sau điều trị:
Sạch tổ chức giáp và di căn: Tg (-) và xạ hình (-): không cần điều trị I131 lần 2.
- Tiếp tục cho T4 liều 2-4µg/kg cân nặng/ ngày.
- Khám định kỳ 6 tháng một lần trong 2 năm đầu, sau đó một năm một lần
trong nhiều năm tiếp theo theo cách sau: bệnh nhân không ngừng uống T4, định
lượng Tg nếu Tg (-) tiếp tục theo dõi định kỳ; nếu Tg (+) thì ngừng uống T4
trong1 tháng rồi lại điều trị tiếp I131 lần 2 và tiếp tục theo dõi như trên.
Còn tổ chức giáp, tổ chức ung thư di căn: khi Tg (+) ≥ 13 ng/ml, xạ
hình (+) hoặc 1 trong 2 xét nghiệm trên (+)  cần điều trị tiếp I131 rồi lại theo
dõi như trên [39].
1.3.6.3. Điều trị nội tiết
Sử dụng hormon tuyến giáp hay liệu pháp ức chế TSH nhằm ức chế TSH
huyết thanh. Levothyroxine được sử dụng với liều cao hơn nhu cầu sinh lý
bình thường để ức chế sự sản xuất TSH của tuyến yên.
Levothyroxine được dùng cho bệnh nhân UTTG sau phẫu thuật cắt
TGTB vào khoảng thời gian giữa các đợt điều trị I 131 và khi bệnh nhân đã
xóa sạch mô giáp sót. Mục đích của liệu pháp hormon là thay thế hoạt động
của tuyến giáp đã cắt bỏ và ức chế TSH, hạn chế sự phát triển của các tế
bào ung thư có nguồn gốc từ tế bào nang tuyến, tác dụng giảm tỷ lệ tái phát



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status