Đánh giá đáp ứng điều trị và thời gian sống thêm không tiến triển của ung thư biểu mô buồng trứng tái phát kháng platin được điều trị bằng phác đồ gemcitabin - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư buồng trứng (UTBT) là ung thư thường gặp thứ 5 và là nguyên
nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 ở nữ. Mặc dù chỉ chiếm 5% các loại ung
thư ở nữ giới nhưng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong số các ung
thư phụ khoa ở các nước Âu-Mỹ . Theo Globocan 2012, trên toàn thế giới có
khoảng 238.700 ca mới mắc và 151.900 ca tử vong do UTBT . 47,6% số ca
mới mắc tập trung tại các nước Châu Á. Tại Việt Nam, theo ghi nhận
Globocan 2012, UTBT đứng thứ 11 trong các ung thư ở nữ, tỷ lệ mắc chuẩn
theo tuổi là 2,6/100.000 phụ nữ.
Về mô bệnh học, UTBT có rất nhiều thể nhưng được phân loại thành 3
nhóm chính: Ung thư biểu mô, u tế bào mầm ác tính và u đệm-dây sinh dục .
Trong đó ung thư biểu mô buồng trứng (UTBMBT) chiếm tới 80-90%. UTBT
thường xuất hiện ở tuổi mãn kinh với trên 80% các trường hợp được chẩn
đoán sau tuổi 50. Bệnh thường diễn biến âm thầm với triệu chứng không đặc
hiệu hoặc không có triệu chứng ở giai đoạn sớm. Vì vậy, hầu hết bệnh nhân
được phát hiện ở giai đoạn muộn. Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung
nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân UTBMBT.
Điều trị ban đầu của UTBMBT chủ yếu là phẫu thuật kết hợp hóa trị,
phác đồ hóa trị có platin được coi là phác đồ tiêu chuẩn. Mặc dù đã được điều
trị ban đầu, đa số bệnh nhân sẽ tái phát và cần được điều trị tiếp. Tỷ lệ tái phát
chung của bệnh nhân UTBMBT tất cả các giai đoạn khoảng 62%, và tăng đến
80%-85% ở bệnh nhân giai đoạn III, IV .
Đối với bệnh nhân UTBMBT tái phát, bệnh nhân được phân loại thành
hai nhóm chính dựa vào thời gian tái phát từ khi kết thúc điều trị. Những bệnh
nhân có thời gian tái phát từ 6 tháng trở lên sau điều trị ban đầu với phác đồ
hóa trị có platin được gọi là nhóm “nhạy cảm với thuốc platin”. Nhóm bệnh


2

vú và ung thư cổ tử cung. Theo Globocan 2012 tính chung trên toàn thế giới
có khoảng 238.700 ca mới mắc và 151.900 ca tử vong mỗi năm, tính trong các
loại ung thư gặp ở nữ giới UTBT là ung thư hay gặp đứng hàng thứ 7 trên thế
giới và đứng thứ 5 tại khu vực Đông nam Á . Tại Mỹ, UTBT là ung thư phụ
khoa hay gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 5 trong số các
nguyên nhân gây tử vong do ung thư ở phụ nữ. Năm 2011 ước tính có khoảng
12.990 ca mới mắc và khoảng 15.460 trường hợp tử vong vì bệnh này.

Biểu đồ 1.1. Số lượng ca mắc mới và tử vong của ung thư buồng trứng so với
một số loại ung thư ở phụ nữ trên thế giới (Nguồn GLOBOCAN 2012)


4

Biểu đồ 1.2. Số lượng ca mắc mới và tử vong của UTBT so với một số loại
ung thư ở phụ nữ khu vực Đông nam Á (Nguồn GLOBOCAN 2012)
Tỷ lệ mắc UTBT ở khu vực châu Á thấp hơn, tuy nhiên châu Á lại là
khu vực chiếm tới 47,6% số ca mắc mới trên toàn thế giới, theo Globocan
2012 ước tính có tới 112000 ca mắc mới một năm. Điều này cho thấy gánh
nặng ung thư buồng trứng mang lại là rất lớn do tình trạng kinh tế xã hội tại
các nước châu Á nói chung, trong đó có Việt Nam còn nhiều khó khăn.

Biểu đồ 1.3. Số lượng ca mắc mới của ung thư buồng trứng ở các khu vực
trên thế giới (Nguồn GLOBOCAN 2012)


5

Tại Việt Nam UTBT đứng hàng thứ 9 trong các loại ung thư ở nữ giới,
theo ghi nhận giai đoạn 2001-2004, tỷ lệ mắc dao động từ 3,6-3,9/100.000

thai dạng uống có tác dụng bảo vệ đáng kể đối với UTBMBT. Nguy cơ mắc
UTBMBT ở những phụ nữ này chỉ bằng một nửa so với những phụ nữ không sử
dụng, tác dụng bảo vệ này kéo dài nhiều năm sau khi ngưng sử dụng .
1.1.2.2. Chế độ dinh dưỡng
Chế độ ăn nhiều mỡ làm tăng khả năng mắc UTBMBT: Những người có
chế độ ăn nhiều chất có lactose như sữa mà thiếu men galactose-1-phosphate
uridyltransferase có tăng nguy cơ mắc UTBMBT. Vitamin A và C dường như
có vai trò bảo vệ.
1.1.2.3. Yếu tố môi trường
Trong một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ tiếp xúc với bột tan qua bao cao
su hoặc giấy vệ sinh có tăng nguy cơ mắc bệnh UTBMBT. Tỷ lệ UTBMBT
cao ở những người có tiền căn dùng phấn thơm ở vùng sinh dục hơn những
người không sử dụng.
Mối liên hệ giữa tia bức xạ ion và UTBMBT còn nhiều bàn cãi. Chưa có
bằng chứng rõ ràng về mối liên hệ giữa virus và UTBMBT, nhưng có nhiều
nghiên cứu đã cho thấy ảnh hưởng của virus như cúm, rubella, quai bị đối với
UTBMBT .


7

1.1.2.4. Ảnh hưởng của yếu tố di truyền.
UTBMBT có tính chất di truyền. UTBMBT di truyền thường xảy ra sớm
hơn 10 năm so với UTBMBT không có tính di truyền, tuy nhiên tiên lượng có
vẻ tốt hơn. Có khoảng 5-10% UTBMBT mang tính chất gia đình. Nguy cơ
mắc UTBT tăng lên khi người phụ nữ có mẹ hoặc chị em gái mắc UTBT hoặc
ung thư vú, đặc biệt khi những người này bị bệnh khi còn trẻ. Tiền sử bản
thân người phụ nữ bị mắc ung thư nội mạc tử cung hoặc ung thư đại tràng
cũng có nguy cơ cao bị UTBMBT .
Hội chứng ung thư vú-buồng trứng gia đình thường ảnh hưởng tới liên

Hình 1.1: Giải phẫu và liên quan của buồng trứng
(Nguồn: Trích Atlas - Giải phẫu người của Frank H. Netter)
- Hình thể ngoài:
+ Hình hạt đậu dẹt với 2 mặt ngoài và trong, 2 đầu là đầu vòi và đầu tử
cung, 2 bờ là bờ mạc treo buồng trứng và bờ tự do.
+ Buồng trứng bình thường dài 3cm, rộng 2cm, dày 1cm.


9

- Liên quan:
+ Mặt ngoài áp vào phúc mạc thành bên chậu hông trong hố buồng
trứng. Hố này được giới hạn bởi động mạch chậu ngoài ở trên và động mạch
chậu trong ở sau. Rốn buồng trứng nằm ở mặt ngoài. Mặt trong liên quan với
các tua của phễu vòi tử cung và ruột non, bên phải còn liên quan với manh
tràng và ruột thừa, bên trái liên quan đại tràng sigma.
+ Đầu tử cung hướng về phía tử cung, là nơi bám của dây chằng riêng
buồng trứng. Đầu vòi hướng về phía phễu vòi tử cung, là nơi bám của dây
chằng treo buồng trứng.
+ Bờ mạc treo buồng trứng hướng ra trước, có các mạc treo buồng trứng
bám. Bờ tự do hướng ra sau, có liên quan giống liên quan của mặt trong.
- Phương tiện cố định:
+ Dây chằng riêng buồng trứng là từng sợi nối sừng tử cung với đầu tử
cung của buồng trứng.
+ Dây chằng treo buồng trứng từ thành bên chậu hông chạy tới đầu vòi
của buồng trứng, dây chằng này được tạo nên bởi các mạch máu, thần kinh đi
vào và đi ra khỏi buồng trứng.
+ Mạc treo buồng trứng là nếp phúc mạc nối lá sau dây chằng rộng với
bờ trước của buồng trứng.
1.2. Chẩn đoán

1.2.2. Các xét nghiệm cận lâm sàng
1.2.2.1. Siêu âm
Khi sờ thấy khối u vùng khung chậu nên tiến hành kiểm tra bằng siêu
âm cho bệnh nhân. Siêu âm với đầu dò âm đạo và siêu âm qua thành bụng có
thể phân biệt u buồng trứng với các khối u khác vùng chậu, hình thái khối u
(nang, đặc, nhú…), kích thước khối u, tình trạng buồng trứng bên đối diện và
dịch cổ trướng.


11

Siêu âm Doppler màu đánh giá được mạch máu của khối u, có thể phát
hiện được những mạch máu tân sản bất thường gợi ý u lành hay ác.
Khi nghi ngờ UTBT nên làm thêm siêu âm đầu dò âm đạo. Siêu âm đầu
dò âm đạo giúp nhìn rõ hơn cấu trúc buồng trứng, cải thiện khả năng phân
biệt lành tính ác tính.
Nếu siêu âm nghi ngờ UTBT nên làm thêm các xét nghiệm chụp cắt lớp
vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ vùng bụng tiểu khung.
1.2.2.2. Xét nghiệm chất chỉ điểm khối u:
- CA 125 (carcinoma antigen 125): Nồng độ CA 125 tăng cao ở hơn 80%
các trường hợp UTBMBT, nhưng cũng có thể tăng trong một số tình trạng
lành tính hoặc một số ung thư ngoài buồng trứng. Là chất chỉ điểm U có vai
trò chính giúp hỗ trợ và theo dõi UTBMBT.
- HE4 (Human epidemal secretory protein 4): Bổ xung cho CA 125 trong
chẩn đoán và theo dõi UTBMBT.
- CEA (Carcinoembryonic antigen) và CA 19-9 (Carbohydrate antigen
19-9): Có thể sử dụng khi nghi ngờ khối u buồng trứng di căn từ đường tiêu
hóa, hoặc khối u buồng trứng thể nhày nguyên phát.
1.2.2.3. Chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ ổ bụng và vùng chậu:
- Chụp cắt lớp vi tính (CT Scaner) cho phép quan sát được những khối u

giai đoạn muộn, bệnh không mổ được, tránh chọc hút đối với bệnh giai đoạn
sớm do có thể làm vỡ nang gieo giắc tế bào u trong ổ bụng. Các hạch ngoại vi
nếu sờ thấy cũng nên kiểm tra chọc hút bằng tế bào.


13

1.2.2.10. Chẩn đoán mô bệnh học: Là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán UTBT

Hình 1.2: Hình ảnh đại thể khối u buồng trứng
(Nguồn: Tumours of the ovary - WHO Classification, Retrieved, 15/8/2017)
Các thể mô bệnh học thường gặp của UTBMBT được đánh giá dựa trên
phân loại của Tổ chức Y tế thế giới năm 2010 [17]:
- Các u thanh dịch ác tính (Malignant serous tumors)
- Các u nhày ác tính (Malignant mucinous tumors)
- Các u dạng nội mạc tử cung (Malignant endometrioid tumors)
- Các u tế bào sáng ác tính (Malignant clear cell tumors)
- Các u tế bào chuyển tiếp (Transitional-cell tumors)
- UTBM tế bào vảy (Squamous cell carcinoma)
- Các u biểu mô hỗn hợp (Mixed epithelial tumors)
- UTBM không biệt hoá (Undifferentiated carcinoma)
Các u thanh dịch ác tính có tỷ lệ khoảng 75% là thể mô bệnh học
thường gặp nhất trong các thể mô bệnh học của UTBMBT.


14

Hình 1.3: Hình ảnh vi thể khối u thanh dịch ác tính buồng trứng
(Nguồn: Tumours of the ovary - WHO Classification, Retrieved, 15/8/2017)
1.2.3. Chẩn đoán xác định:

hoặc có nang, với nhiều khối trắng vàng, xuất huyết.Trên vi thể u có dạng ung
thư đại tràng nguyên phát. U có thể có các bọc lót bởi tế bào chế tiết nhầy, có
chứa mô hoại tử và chất nhầy nhiều hơn carcinom tuyến bọc dịch nhầy của
buồng trứng.
- U Krukenberg thường xảy ra ở phụ nữ 40 tuổi hay trẻ hơn.U có hình
ảnh tế bào tiết nhầy hình mặt nhẫn, nằm trong mô đệm sợi giầu tế bào. Ung
thư nguyên phát thường là ung thư dạ dày, trong 76% các trường hợp. Ngoài ra
các ung thư đại tràng có thể có hình ảnh mô học tương tự. Đại thể u ở hai
buồng trứng trong 80% các trường hợp, u đặc, trắng, cứng, mặt cắt có thể có
nang nhỏ hay những vùng hoại tử. Vi thể các tế bào u rời rạc trong mô đệm
với bào tương nhiều, chế tiết nhầy, hoặc đôi khi sắp xếp thành dạng ống.
- U di căn từ vú: 60% ung thư vú di căn đến hai buồng trứng. Trên đại
thể Có những nốt cứng, trắng xâm nhập buồng trứng. Trên vi thể u có dạng
tương tự như u nguyên phát. Tế bào u hay sắp xếp theo hàng một.


16

- U lymphô di căn: 18-40% phụ nữ chết vì u lymphô hay bệnh bạch cầu
có di căn tế bào lymphô vào buồng trứng. Trên đại thể buồng trứng có vỏ bao
dầy lên, mặt cắt đồng nhất, màu hồng. Vi thể mô buồng trứng bị thâm nhập
bởi u lymphô dạng lan tỏa. Tiên lượng u rất xấu.
1.2.5. Chẩn đoán giai đoạn
Chẩn đoán giai đoạn bệnh dựa trên xếp loại của Liên đoàn sản phụ
khoa quốc tế (FIGO), đồng thuận bới Uỷ ban liên kết chống ung thư Mỹ
(AJCC) và Hiệp hội phòng chống ung thư quốc tế (UICC), được chỉnh sửa và
cập nhật tháng 1/2014 .
Giai đoạn I:

U còn khu trú ở buồng trứng


Giai đoạn II:

U phát triển ở một hoặc hai bên buồng trứng có lan tràn
vào khung chậu (dưới giới hạn của tiểu khung) hoặc khối
u lan tràn phúc mạc.

Giai đoạn IIA:

U xâm lấn và/hoặc di căn tới tử cung và/hoặc vòi trứng
nhưng tế bào dịch cổ chướng, dịch rửa ổ bụng âm tính.


17

Giai đoạn IIB:

U xâm lấn tới tổ chức khác trong khung chậu nhưng tế bào
dịch cổ chướng, dịch rửa ổ bụng âm tính.

Giai đoạn III:

U có ở một hoặc hai bên buồng trứng nhưng khối u bắt
đầu di căn ra ngoài phúc mạc với tế bào học hoặc giải
phẫu bệnh khẳng định có lan tràn đến phúc mạc ngoài tiểu
khung và/hoặc di căn hạch sau phúc mạc.

Giai đoạn IIIA1:

Chỉ có hạch sau phúc mạc dương tính (Tế bào học hoặc

Giai đoạn IVA:

Tràn dịch màng phổi với tế bào học dương tính

Giai đoạn IVB:

Di căn tới nhu mô và cơ quan ngoài ổ bụng (bao gồm hạch
bẹn và hạch ngoài ổ bụng)


18

1.3. Các phương pháp điều trị UTBMBT
1.3.1. Điều trị bệnh mới chẩn đoán
1.3.1.1. Điều trị bệnh giai đoạn I, II
* Phẫu thuật
- Phẫu thuật đóng vai trò quan trọng trong UTBT nói chung, đặc biệt đối
với UTBMBT giai đoạn khu trú. Phẫu thuật giúp đánh giá giai đoạn chính xác
vì trong khi phẫu thuật có thể kiểm tra tình trạng trạng khối u, buồng trứng
đối bên và toàn bộ các tổn thương trong ổ bụng. Phương pháp phẫu thuật đầy
đủ bao gồm cắt tử cung toàn bộ, phần phụ hai bên, mạc nối lớn, lấy bỏ hoặc
phá huỷ tối đa các khối u, sao cho các khối còn lại kích thước 1mm. Kiểm
tra mặt dưới cơ hoành, toàn bộ phúc mạc và sinh thiết nếu nghi ngờ. Kiểm tra
hạch chậu, hạch chủ bụng và lấy bỏ hạch di căn. Lấy dịch rửa ổ bụng làm tế
bào học.
- Đối với giai đoạn IA, IB, mô bệnh học loại biệt hoá tốt hoặc trung bình
phẫu thuật là đủ. Các trường hợp còn lại cần điều trị tiếp bằng hoá trị.
- Nếu bệnh nhân có nhu cầu sinh con, giai đoạn IA, IC, mô học độ I có
thể xem xét chỉ cắt bên phần phụ (vòi- buồng trứng) tổn thương.
- Phẫu thuật kiểm tra lại sau điều trị (second-look) nay ít dùng.

- Có hai phương thức điều trị hóa chất bổ trợ ở bệnh nhân giai đoạn này
đó là hóa chất tĩnh mạch hoặc kết hợp hóa chất tĩnh mạch và hóa chất ổ bụng.
Hóa chất bổ trợ phác đồ paclitaxel kết hợp carboplatin đường tĩnh mạch 6-8
chu kỳ được ưu tiên sử dụng. Hóa chất ổ bụng chỉ được áp dụng trong trường
hợp phẫu thuật được tối ưu còn lại tổn thương sau phẫu thuật dưới 1mm. Hiện
tại hóa chất ổ bụng chỉ khuyến cáo thực hiện ở các cơ sở điều trị lớn liên quan
đến kỹ thuật áp dụng, theo dõi và điều trị các biến chứng của phương pháp
điều trị này.


20

- Vai trò của phối hợp bevacizumab với phác đồ hóa chất chuẩn
paclitaxel - carboplatin trong điều trị bổ trợ bệnh nhân giai đoạn muộn đã
được nghiên cứu trong một số thử nghiệm lâm sàng sống thêm không tiến
triển được cải thiện có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên thời gian sống thêm toàn
bộ khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê.
- Điều trị duy trì sau 6-8 đợt điều trị với phác đồ chuẩn hiện tại cũng
chưa được khuyến cáo chắc chắn do việc điều trị duy trì không cải thiện được
thời gian sống thêm, chi phí cao và liên quan đến độc tính của hóa trị. Chỉ
định theo từng cá thể.
- Một số phác đồ hóa trị bước 1 , , , .
+ Paclitaxel/ Carboplatin:
Paclitaxel 175mg/m2 (TM) truyền trong 3h ngày 1, sau đó
Carboplatin AUC = 5 - 7 (TM) ngày 1. Chu kỳ 3 tuần
+ Paclitaxel/ Cisplatin:
Paclitaxel 135mg/m2 (TM) ngày 1
Cisplatin 75 mg/m2 (TM) ngày 1
Chu kỳ 3 tuần
+ Docetaxel/ Carboplatin:

- Nếu không phẫu thuật triệt căn được, có thể phẫu thuật tạm bợ: Giải
phóng tắc ruột, dẫn lưu niệu quản ra da v.v.
- Phẫu thuật lại lấy gọn u hoặc công phá u tuỳ theo mức độ lan rộng của
u, di căn xa hay không, thể trạng bệnh nhân. Sau đó điều trị hoá chất tùy theo
cá thể bệnh nhân.
1.3.2.2. Xạ trị
- Đồng vị phóng xạ P32 bơm màng bụng có thể được áp dụng trong một
số trường hợp, chủ yếu đóng vai trò điều trị triệu chứng.
- Xạ trị toàn ổ bụng, khung chậu chủ yếu được áp dụng trong điều trị
triệu chứng


22

1.3.2.3. Hóa trị
* Nhóm UTBMBT nhạy platin
Bệnh nhân UTBMBT có thời gian tái phát trong vòng 6 tháng sau phác
đồ hóa trị ban đầu có platin được xếp vào nhóm kháng platin. tái phát từ 6
tháng trở lên tính từ thời điểm kết thúc với phác đồ hóa trị ban đầu có platin
được xếp vào nhóm còn nhạy cảm với platin. Trong điều trị ung thư biểu mô
buồng trứng tái phát thuộc nhóm nhạy cảm với platin thì phác đồ hóa trị có
platin hiện là điều trị chuẩn. Nhưng trong một số trường hợp bệnh nhân không
thể dung nạp với phác đồ có platin thì có thể chuyển sang điều trị các phác đồ
đơn hóa trị ít độc tính hơn. Nhìn chung trên lâm sàng lựa chọn phác đồ hóa trị
trong giai đoạn tái phát dựa trên cá thể bệnh nhân. Thêm bevacizumab giúp
làm tăng thời gian sống thêm không tiến triển.
-Một số phác đồ hóa trị UTBMBT tái phát nhạy platin , , .
+ Gemcitabin/Carboplatin
Gemcitabin 1000mg/m2 (TM) ngày 1,8
Carboplatin AUC = 4 (TM) ngày 1

Oxaliplatin
Hexamethylmelamine
Ifosfamide
Vinorelbine
Tamoxifen

Tỷ lệ đáp ứng
(%)
13-22
12-16
22
28-32
19-26
16-27
23
10-15
12-15
15-23
13-15

Thời gian sống

Thời gian sống

thêm không tiến

thêm toàn bộ

triển (tuần)
19

Gemcitabin (2', 2'-difluorodeoxycytidine) là một nucleoside tương tự
tổng hợp của cytidine, đã được chứng minh là một thuốc có hiệu quả với
nhiều loại ung thư khác nhau, như ung thư phổi không tế bào nhỏ, tuyến tụy,


24

sinh dục và ung thư vú . Như mô tả trong công trình tiên phong của Plunkett,
gemcitabin là một thuốc được ủng hộ sử dụng. Gemcitabin được chuyển hóa
thành diphosphate gemcitabin và triphosphate, khi liên kết vào chuỗi DNA có
thể chấm dứt chuỗi bằng cách ức chế hoạt động DNA polymerase. Do đó, các
tế bào khối u bị tác động trong giai đoạn G1 của chu kỳ tế bào. Các chất
chuyển hóa gemcitabin triphosphate cũng có thể được gắn vào RNA, từ đó có
thể ức chế sản xuất RNA[33], .
Sử dụng lâm sàng của gemcitabin cho bệnh ung thư buồng trứng lần
đầu tiên được báo cáo trong năm 1994 bởi Lund B và CS . Trong báo cáo
gemcitabin (800mg/m2) đã được sử dụng cho những bệnh nhân bị UTBT tái
phát, truyền tĩnh mạch, ngày 1-8-15 CK 28 ngày. Đáp ứng một phần đã được
quan sát ở 8 trong số 42 bệnh nhân (19%). Bây trong số tám người đáp ứng có
kháng với phác đồ hóa trị đầu tiên có platin. Thời gian sống thêm không tiến
triển là 2,8 tháng, và trung vị thời gian sống thêm toàn bộ là 6,2 tháng. Giảm
bạch cầu và giảm tiểu cầu là những độc tính chính gặp phải trong quá trình
điều trị, nhìn chung độc tính huyết học là nhẹ và có thể chấp nhận được.
Matsuo K và CS đã tiến hành tổng hợp các nghiên cứu lâm sàng được
công bố giữa tháng 1 năm 2005 và tháng 3 năm 2010, phân tích một cách hệ
thống các thuốc đang được sử dụng cho các bệnh ung thư buồng trứng kháng
platin. Tác giả nhận thấy rằng gemcitabin là loại thuốc phổ biến nhất được sử
dụng trong các thử nghiệm lâm sàng báo cáo tỷ lệ đáp ứng cao. Liệu pháp
điều trị có gemcitabin cho tỷ lệ đáp ứng trung bình 27,2%, với thời gian sống
không tiến triển (hơn 4,1 tháng) . Trước đó báo cáo tổng hợp của Lorusso D

51
27
7
27
50
51
22
38
37
40
36
16
411

Tỷ lệ

Thời gian

Thời gian sống

đáp ứng

tiến triển

thêm toàn bộ

toàn bộ (%)
19
11
29

điều trị gemcitabin (n=99) và liposomal doxorubicin(n=96) cho thấy kết quả
không khác biệt có ý nghĩa thống kê (thời gian sống thêm không tiến triển:
3,6 và 3,1 tháng. Sống thêm toàn bộ: 12,7 và 13,5 tháng. Đáp ứng toàn bộ: 9,2
và 11,7%) .
Một số nghiên cứu của các tác giả trên thế giới cho thấy với liều điều trị
từ 800 - 1250mg/m2, gemcitabin có tác dụng trên những bệnh nhân ung thư
buồng trứng đã được điều trị với phác đồ có platin +/- paclitaxel trước đó , , , ,
, . Có hai nghiên cứu của tác giả Markman và Agostino 100% bệnh nhân khi
tuyển vào nghiên cứu có đặc điểm đã kháng thuốc platin, liều điều trị
1000mg/m2 được áp dụng trong cả hai nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đáp ứng
tương tự như một số nghiên cứu khác , .
Bảng 1.3. Một số kết quả nghiên cứu và liều điều trị của gemcitabin.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status