TUYỂN CHỌN, xây DỰNG và sử DỤNG hệ THỐNG bài tập PHẦN KIM LOẠI lớp 12 (NÂNG CAO) NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG lực tự học CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------------

PHAN THỊ LIÊN

TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG
BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI LỚP 12 (NÂNG CAO)
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành : Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số

: 60.14.10.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Trường

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin được tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành tới

PGS.TS Nguyễn Xuân Trường , người trực tiếp hướng dẫn luận văn, đã tận tình
chỉ bảo và hướng dẫn cho tôi tìm ra hướng nghiên cứu, tiếp cận thực tế, tìm kiếm tài
liệu, giải quyết vấn đề,… nhờ đó tôi mới có thể hoàn thành luận văn này. Sự quan
tâm chỉ bảo của thầy giúp cho tôi tự hoàn thiện bản thân mình trong công việc, thầy
là tấm gương sáng về sự cần mẫn, nghiêm túc và khoa học trong lao động.

11
12
13
14
15
16
17
18

Viết tắt
BT
DD
GQVĐ
GV
HS
KTĐG
KL
NLTH
PP
PPDH
PTHH

SGK
TCHH
TCVL
TNTL
TNKQ
THPT

Viết đầy đủ

IX. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI.......................................................4
X. CẤU TRÚC LUẬN VĂN...........................................................................4
PHẦN II: NỘI DUNG.....................................................................................5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN............................................5
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu....................................................................5
1.1.1. Trên thế giới............................................................................................5
1.1.2. Trong nước..............................................................................................6
1.2. Đổi mới phương pháp dạy học...................................................................7
1.2.1. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học................................................7
1.2.2. Những xu hướng dạy học hoá học hiện nay............................................8
1.3. Năng lực tự học..........................................................................................9
1.3.1. Khái niệm về tự học................................................................................9
1.3.2. Vai trò về việc tự học của HS................................................................10
1.3.3. Khái niệm năng lực tự học....................................................................11
1.3.4. Các mức độ của năng lực tự học...........................................................11
1.3.5. Một số năng lực tự học cần phát triển cho HS THPT...........................12
1.3.6. Tự học có hướng dẫn.............................................................................13
1.4. Bài tập hoá học.........................................................................................16
1.4.1. Khái niệm về bài tập hoá học................................................................16


1.4.2. Tác dụng của bài tập hoá học................................................................17
1.4.3. Phân loại bài tập hoá học.......................................................................18
1.4.4. Tiến trình giải một bài tập hoá học........................................................18
1.4.5. Xu hướng phát triển bài tập hoá học hiện nay.......................................19
1.4.6. Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và hoạt động giải BTHH với tài
liệu tự học có hướng dẫn.................................................................................20
1.5. Tình hình sử dụng bài tập hoá học để phát triển năng lực tự học cho học
sinh THPT hiện nay.........................................................................................22
1.5.1. Mục đích và phương pháp điều tra........................................................22

2.4.3. Bài toán về kim loại tác dụng với dung dịch axit..................................50
2.4.4. Bài toán về kim loại tác dụng với dung dịch muối...............................55
2.4.5. Bài tập về kim loại tác dụng với oxit kim loại......................................58
2.4.6. Bài toán về điện phân............................................................................61
2.4.7. Bài toán giải bằng phương pháp kinh điển............................................65
2.5. Hệ thống bài tập phần kim loại dùng để phát triển NLTH cho học sinh
THPT...............................................................................................................66
2.5.1. Bài tập Đại cương về kim loại...............................................................66
2.6. Phương pháp sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại để phát triển NLTH
cho học sinh THPT........................................................................................117
2.7.1. Nguyên tắc xây dựng đề kiểm tra........................................................118
2.7.2. Xây dựng đề kiểm tra đánh giá............................................................119
2.8. XÂY DỰNG CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TỰ HỌC.............120
2.8.1. Biểu hiện và các mức độ đánh giá năng lực tự học.............................120
2.8.2. Công cụ đánh giá năng lực tự học.......................................................122
Tiểu kết chương 2........................................................................................127
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM..................................................128
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm.............................................................128
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm............................................................128
3.3. Nội dung thực nghiệm sư phạm.............................................................128
3.4. Kế hoạch thực nghiệm sư phạm.............................................................128


3.4.1. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm......................................................128
3.4.2. Thời gian thực nghiệm........................................................................128
3.5. Tiến hành thực nghiệm và xử lý kết quả................................................129
Tiểu kết chương 3........................................................................................135
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................136
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................138
PHỤ LỤC

Cùng với sự tiến bộ mạnh mẽ của các ngành khoa học cơ bản, khoa học công
nghệ, lí luận dạy học trong khoa học giáo dục cũng có những bước phát triển đáng
kể trong mấy thập kỷ trở lại đây. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
(2000 – 2020), sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu bằng cạnh tranh trí tuệ đòi hỏi
đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học.
Luật giáo dục năm 2005 Chương I Điều 5 về phương pháp giáo dục nêu
rõ: “ Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng
tạo của người học, bồi dưỡng người học năng lực tự học, khả năng thực hành,
lòng say mê học tập và ý trí vươn lên”. Ngoài ra, phải chú trọng các điều kiện
chuẩn hoá nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Để làm được điều đó cần
thiết phải đổi mới phương pháp dạy học và cách thức kiểm tra kết quả giáo dục
đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy
và học là hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động,
thường xuyên tự học ở mọi điều kiện.
Trong xã hội hiện đại, khi khoa học phát triển mạnh mẽ, sự bùng nổ của
cách mạng thông tin đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến giáo dục nói chung và
quá trình dạy học nói riêng. Trong hoàn cảnh như vậy, giáo dục ý thức tự lực, tự
học một cách thường xuyên, có kế hoạch và phương pháp đúng đắn khoa học cho
học sinh là một nhiệm vụ bắt buộc và là trách nhiệm nặng nề của người thầy. Chỉ
có dạy cách học, cách tự học, tự học sáng tạo, học một biết mười, học đi đôi với
hành ,… mới đáp ứng được yêu cầu cao của sự phát triển xã hội đòi hỏi một
nguồn nhân lực chất lượng cao.

1


Trong quá trình dạy học, một trong những phương tiện tổ chức hoạt động
tự lực học tập, phát huy tính tích cực của học sinh là sử dụng nguồn bài tập để
giúp học sinh có thể dễ dàng trong việc tự học, tự đọc, tự kiểm tra đánh giá kết
quả học tập. Tuy nhiên trong thực tế, có rất nhiều loại sách, tài liệu tham khảo

IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu giáo viên xây dựng được HTBT phần kim loại hóa học 12 và các công cụ
đánh giá phù hợp ; có các biện pháp sử dụng hợp lí, hiệu quả trong các khâu của quá
trình dạy học thì sẽ góp phần phát triển được một số năng lực của HS trong đó có năng
lực tự học và nâng cao được kết quả dạy học hóa học hiện nay ở trường THPT.
V. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
V.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học nói chung và quá trình phát triển NLTH cho học sinh nói
riêng ở trường THPT.
V.2. Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống bài tập cho học sinh lớp 12 nâng cao phần kim loại.
- Phương pháp sử dụng các bài tập trong việc phát triển NLTH môn hoá học.
VI. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Nghiên cứu cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài.
2. Nghiên cứu chương trình hoá học THPT nâng cao đi sâu vào nội dung
phần kim loại.
3. Tìm hiểu thực trạng NLTH của học sinh qua hệ thống bài tập phần kim loại.
4. Lựa chọn, xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại nhằm phát triển năng
lực tự học hoá học cho học sinh lớp 12 THPT.
5. Thực nghiệm sư phạm nhằm để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập và
phương pháp sử dụng đã đề xuất.
VII. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
-Nội dung kiến thức được giới hạn trong 3 chương: “ Đại cương về kim
loại”, “Kim loại kiềm- Kiềm thổ- Nhôm” và chương “ Crom- Sắt- Đồng” hóa học
lớp 12 chương trình nâng cao ở trường THPT.
- Địa bàn nghiên cứu:
+ Trường THPT Giao Thủy C, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
+ Trường THPT Giao Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2015 đến tháng 10/1016

Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham
khảo thì nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tự học và bài tập hóa học.
Chương 2. Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại
lớp 12 nâng cao nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.

4


PHẦN II: NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Từ những năm trước công nguyên, các nhà tư tưởng Trung Quốc như Khổng
Tử, Mạnh Tử đã có những tư tưởng trong dạy học là phải quan tâm đến việc kích
thích, suy nghĩ của người học, người học phải suy nghĩ chứ không nên nhắm mắt
làm theo sách.
Thế kỷ thứ 17 – 18, ở các nước châu Âu, các nhà giáo dục nổi tiếng như
Comenski, J.J. Rousseau cũng đã có những quan điểm phải đưa ra biện pháp DH
hướng học sinh tìm tòi suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, tích cực tự đánh giá kiến thức.
Những quan điểm này chỉ rõ: Không nên cho học sinh kiến thức có sẵn mà cần cho
học sinh phải tự phát minh ra, tự bồi dưỡng tinh thần độc lập trong sáng, đàm thoại
và trong việc ứng dụng vào thực tiễn.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, việc tổ chức cho học sinh học tập theo
hướng tích cực hoá đã hình thành và phát triển những quan điểm, công trình nghiên
cứu có quy mô lớn ở các nước châu Âu và Mỹ. Nhiều nhà giáo dục ở các nước trên
thế giới đã thấy rằng việc dạy học phải kích thích được hứng thú, sự độc lập tìm tòi,
phát huy sáng tạo của học sinh, thầy giáo chỉ là người thiết kế, người cố vấn.

đề ra nguyên tắc và các bước tổ chức học sinh tự học.
Ngoài ra có rất nhiều tài liệu, luận văn thạc sỹ của nhiều tác giả gần đây cũng
nghiên cứu về xây dựng hệ thống bài tập nhằm bồi dưỡng NLTH cho học sinh
THPT ở những môn học khác nhau,...
Trong tất cả các nghiên cứu của mình, các tác giả đều khẳng định: cần phải
đưa ra biện pháp tích cực để tổ chức HS tự học, trong đó bài tập là phương tiện
quan trọng để người dạy tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.
Đồng thời đã đưa ra nguyên tắc, qui trình xây dựng và biện pháp sử dụng bài tập nói
chung và bài tập phát triển NLTH nói riêng. Các thành công này của các tác giả sẽ
được chúng tôi nghiên cứu, kế thừa trong luận văn này.
Tuy nhiên, trong biện pháp hướng dẫn, cách thức sử dụng các dạng bài tập ở
phần kim loại lớp 12 nâng cao để rèn NLTH cho học chưa nghiên cứu nhiều. Do đó,
để đi sâu vào nghiên cứu lí thuyết để đưa ra các biện pháp sử dụng bài tập nhằm rèn
luyện cho học sinh tự học môn Hoá học là hết sức cần thiết, đặc biệt là phần dạy
học sinh phần kim loại lớp 12 nâng cao hiện nay.

6


1.2. Đổi mới phương pháp dạy học
1.2.1. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học
Chiến lược phát triển giáo dục (2001- 2020) đã chỉ rõ: Một trong những giải
pháp thực hiện mục tiêu giáo dục là đổi mới phương pháp giáo dục: “Đổi mới và
hiện đại hoá phương pháp giáo dục, chuyển việc truyền đạt tri thức thụ động: thầy
giảng, trò ghi sang hướng người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri
thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ
thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân,
tăng cường tính chủ động , tính tự chủ của học sinh,…”
Như chúng ta đã biết: Tự học, tự đào tạo là một con đường phát triển suốt
đời của mỗi con người trong điều kiện kinh tế, xã hội nước ta hiện nay và cả mai

thế giới và được xác định là một trong những phương pháp cải cách giáo dục phổ
thông Việt Nam. Những tư tưởng, quan điểm, những tiếp cận mới thể hiện nguyên
tắc trên đã được chúng ta nghiên cứu, áp dụng trong dạy học các môn học và được
coi là phương pháp dạy học tích cực.
1.2.2.1. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Đây là một quan điểm được đánh giá là tích cực vì hướng việc dạy học chú
trọng đến người học để tìm ra những PPDH hiệu quả. Dạy học lấy HS làm trung
tâm, đặt vị trí của người học vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình
dạy học, phát huy tối đa những tiềm năng của từng người học. Do vậy, vai trò tích
cực chủ động, độc lập sáng tạo của người học được phát huy. Người GV đóng vai
trò là người tổ chức, hướng dẫn, động viên các hoạt động độc lập của HS, đánh thức
các tiềm năng của mỗi HS giúp họ chuẩn bị tham gia vào cuộc sống.
1.2.2.2. Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hoá người học
Định hướng hoạt động hoá người học đã chú trọng đến việc giải quyết vấn đề
dạy học thông qua hoạt động tự giác tích cực và sáng tạo của người học, hình thành
công nghệ kiểm tra đánh giá, sử dụng phương tiện kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ
thông tin trong quá trình dạy học. Trong dạy học hoá học cần sử dụng các biện pháp
hoạt động hoá người học như sau:
- Khai thác nét đặc thù môn Hoá học tạo các hình thức hoạt động đa dạng,
phong phú của HS trong giờ học:
+ Tăng cường sử dụng thí nghiệm hoá học, các phương tiện trực quan,
phương tiện kĩ thuật trong dạy học hoá học.
+ Trong giờ học cần sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động của HS
như: thí nghiệm, dự đoán lí thuyết, mô hình hoá, giải thích, thảo luận nhóm,… giúp
HS được hoạt động tích cực và chủ động.

8


- Tăng cường hoạt động của HS trong giờ học. Hoạt động của giáo viên chú

9


Theo V.P. Xtơrozicozin (1981), tổ chức cho học sinh tự học có vai trò sau:
+ Nâng cao tính tự giác và tính vững chắc trong việc nắm kiến thức của học sinh.
+ Rèn cho học sinh kỹ năng, kĩ xảo được qui định trong chương trình của
mỗi bộ môn, phù hợp với mục đích của nhà trường.
+ Dạy cho học sinh biết cách áp dụng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã thu nhận
được vào cuộc sống và lao động công ích.
+ Phát triển khả năng nhận thức của học sinh (tính quan sát, tính ham hiểu
biết, khả năng tư duy logic, tích cực sáng tạo).
+ Luyện cho học sinh khả năng lao động có kết quả, biết say mê vươn tới
mục đích đặt ra.
+ Chuẩn bị cho học sinh có thể tiếp tục tự học một cách có hiệu quả.
+ Tự học là biện pháp tối ưu nhất là tăng độ bền kiến thức ở mỗi học sinh.
Tự học là hoạt động học hoàn toàn không có giáo viên, học sinh không có sự
tiếp xúc với giáo viên, là hình thức học tập hoàn toàn không có sự tương tác thầy
trò, do đó học sinh phải tự lực thông qua tài liệu, qua hoạt động thực tế, qua thí
nghiệm để chiếm lĩnh tri thức.
Tự học là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, chủ động, tự giác,
phát huy cao độ vai trò của HS với sự hợp tác của thầy cô, bạn bè và các điều kiện
học tập. NLTH được thể hiện qua việc HS tự xác định đúng đắn động cơ học tập
cho mình, có khả năng tự quản lí việc học của mình, có thái độ tích cực trong các
hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả
học tập của chính mình.
1.3.2. Vai trò về việc tự học của HS
Năng lực tự học của HS có 4 vai trò chính sau:
+ Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kĩ xảo nhận thức, tạo ra cầu nối nhận thức
trong tình huống học.
+ Làm chủ tri thức hiện diện trong chương trình học và tri thức siêu nhận

1.3.4. Các mức độ của năng lực tự học
Nếu tự học là hoạt động học hoàn toàn không có GV, HS không có sự tiếp
xúc với GV, thì đó là hình thức học tập hoàn toàn không có sự tương tác thầy trò, do
đó HS phải tự lực thông qua tài liệu, qua hoạt động thực tế, qua thí nghiệm để
chiếm lĩnh kiến thức. Sau đây là các mức độ của NLTH.
a) Tự học hoàn toàn (không có GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế,
học kinh nghiệm của người khác. HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến

11


thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự
học của mình,... Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học.
b) Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay
làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ
thông. Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết
quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ.
c) Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng
giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không
nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn. Với hình thức tự học này, HS cũng không
đánh giá được kết quả học tập của mình.
d) Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách
xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn
cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm
trên máy tính). Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và
không biết hỏi ai.
e) Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của
GV ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định. Song nếu HS vẫn sử
dụng SGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vì
thiếu sự hướng dẫn về phương pháp học.

hiện các thao tác trong khi làm thí nghiệm, kiên trì trong quá trình thí nghiệm nhằm
làm sáng tỏ vấn đề lí thuyết qua thực nghiệm.
1.3.6. Tự học có hướng dẫn
1.3.6.1. Tự học có hướng dẫn
- Học sinh muốn học tập có hiệu quả cần phải tự học. Nhưng không thể để
cho học sinh tự mò mẫm để rút ra cách tự học mà cần phải nghiên cứu cách hướng
dẫn cho học sinh và tạo ra những điều kiện để học sinh có thể thực hiện thành công
hoạt động tự học.
- Hướng dẫn việc tự học là chỉ cho người học cách thức để chiếm lĩnh tri
thức một cách có hiệu quả, sáng tạo đồng thời hướng dẫn học sinh tự đánh giá năng
lực của bản thân. Qua đó tự mỗi học sinh sẽ có những điều chỉnh phù hợp với việc
học tập của mình.
Tự học là một hình thức học. Vậy hoạt động tự học cũng phải có mục đích,
nội dung và phương pháp phù hợp. Hình thức tự học có hướng dẫn vừa phải đảm
bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhận
thức của HS.

13


Cần hiểu mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên ngoài và
hoạt động bên trong. Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho HS tự phát triển, chỉ
có tự học của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân HS. Hình thức tự
học có hướng dẫn là hướng dẫn để HS tự học. Trong tự học có hướng dẫn, HS nhận
được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ GV.
- Nguồn hướng dẫn qua tài liệu: Tài liệu SGK hóa học thường chỉ trình bày kiến
thức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động để dẫn đến kiến thức, để
hình thành kĩ năng. Bởi vậy HS rất bị động, đọc đến dòng nào trong SGK thì biết đến
dòng ấy không hiểu phương hướng bước đi kế hoạch như thế nào và sau khi học xong
cũng không thể tự rút ra được điều gì về phương pháp làm việc để vận dụng cho các

SGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua các phương tiện học
tập như tài liệu tự học có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử,...
HS không dùng SGK phổ thông mà sử dụng tài liệu viết riêng cho họ tự học.
Tài liệu tự học có hướng dẫn cung cấp cho HS nội dung kiến thức và phương pháp
học nội dung kiến thức đó.
1.3.6.2. Dạy tự học có hướng dẫn
- Hướng dẫn HS tại lớp (tự học từng phần của tài liệu tại lớp dưới sự hướng
dẫn của GV là giai đoạn trung gian sau đó tự học tại nhà).
- Hình thành ở HS kĩ năng tự học từ thấp lên cao, tự học từng phần cho đến
tự học hoàn toàn.
- GV thu nhận thông tin phản hồi về kết quả học tập của HS sau quá trình tự
học và giúp đỡ điều chỉnh nhịp độ học tập của HS khi cần thiết.
- Sử dụng phương pháp "dạy tự học có hướng dẫn" để dạy học sinh tự học.
Mục đích của phương pháp này là tạo điều kiện cho HS tự học được dễ dàng
và tận dụng điều kiện có một số thời gian làm việc với GV để tranh thủ sự hướng
dẫn của GV mà rèn luyện phương pháp, kĩ năng tự học, việc nắm vững kiến thức,
rèn luyện năng lực. Như vậy, nội dung của phương pháp "dạy tự học có hướng dẫn"
sẽ bao gồm hoạt động của GV và HS:
- GV biên soạn "tài liệu tự học có hướng dẫn", hướng dẫn HS cách sử dụng
tài liệu. HS theo hướng dẫn trong tài liệu mà tự lực hình thành kiến thức, kĩ năng,...
- GV sử dụng những giờ lên lớp để rèn luyện cho HS kĩ năng, kĩ xảo tự học,
đánh giá kết quả, điều chỉnh kế hoạch.
Như vậy, trong cách dạy học này có hai kiểu hướng dẫn được phối hợp với nhau:
- Hướng dẫn bằng lời viết ngay trong tài liệu, đó là những chỉ dẫn về kế
hoạch, về phương pháp giải quyết vấn đề, thu thập, xử lí thông tin,... nhằm định
hướng cho HS có thể tự lực thực hiện các hành động học một cách có ý thức, có
phương hướng rõ ràng.

15


Phương tiện giải

16


1.4.2. Tác dụng của bài tập hoá học
- Bài tập hoá học là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để
dạy học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập
nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức
của chính mình. Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp
nhận định:" Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu học sinh có thể vận dụng thành
thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành.”
- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, chỉ có vận
dụng kiến thức vào giải bài tập học sinh mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc.
- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất.
- Rèn luyện kĩ năng hóa học cho học sinh như: Kĩ năng viết và cân bằng
phương trình hoá học, kĩ năng tính toán theo công thức và phương trình hoá học, kĩ
năng thực hành như cân, đo, nung sấy, đun nóng, lọc, nhận biết hoá chất,…
- Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho học sinh (học sinh có
hiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn). Một số bài tập có tình huống đặc biệt ngoài cách
giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu học sinh có tầm nhìn sắc sảo. Thông
thường nên yêu cầu học sinh giải bằng nhiều cách: có thể tìm ra cách giải ngắn nhất,
hay nhất, đó là cách rèn luyện tư duy thông minh cho học sinh. Khi giải bài toán
bằng nhiều cách dưới các góc độ khác nhau, khả năng tư duy của học sinh tăng lên
gấp nhiều lần so với việc học sinh giải nhiều bài toán bằng một cách và không phân
tích đến nơi đến chốn.
- Bài tập hoá học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu
mới (hình thành khái niệm, định luật,..) khi trang bị kiến thức mới, giúp học sinh
tích cực, tự lực lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững. Điều này thể hiện
rõ khi học sinh làm bài tập thực nghiệm định lượng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status