1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh khá thường gặp ở Việt Nam,
đứng hàng thứ năm trong các ung thư (UT) đường tiêu hóa [1],[2],[3], đứng
hàng thứ 9 trong các loại bệnh ác tính. Trên thế giới có khoảng 400.000
bệnh nhân UTTQ được chẩn đoán mỗi năm và được phân bố rất khác nhau
giữa các vùng [4],[5],[6],[7]. Nam giới gặp nhiều hơn nữ [8]. Đây là một
trong những bệnh ung thư có tiên lượng xấu nhất.
Chẩn đoán UTTQ không khó, nhưng đa số vẫn chẩn đoán muộn [9]. Tỷ lệ
được chỉ định điều trị ngoại khoa lấy bỏ u triệt căn là không cao do thời điểm
chẩn đoán u đã xâm lấn rộng sang các tạng xung quanh, di căn xa hoặc toàn
trạng xấu. Do vậy, xác định giai đoạn bệnh trước mổ là rất quan trọng để lựa
chọn bệnh nhân cho điều trị phẫu thuật và các điều trị bổ trợ khác.
Điều trị UTTQ rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải phối hợp nhiều
phương pháp như phẫu thuật, hóa chất và xạ trị. Trong đó, phẫu thuật vẫn là
phương pháp cơ bản trong điều trị ung thư thực quản, điều trị hóa chất và xạ
trị chỉ định trong một số trường hợp: ung thư thực quản giai đoạn muộn
không còn khả năng phẫu thuật, điều trị tiền phẫu giảm giai đoạn u, điều trị bổ
trợ sau phẫu thuật. Tiên lượng bệnh phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn bệnh và
khả năng phẫu thuật triệt căn [3],[9],[10],[11].
Ngày nay, phẫu thuật UTTQ đã đạt được những tiến bộ quan trọng với
tỷ lệ tử vong và các biến chứng sau mổ đã giảm xuống đáng kể.Trước năm
1980, tỷ lệ tử vong sau mổ là 29%, ngày nay tỷ lệ này đã giảm xuống dưới
10%. Thời gian sống 5 năm sau mổ đã cải thiện rõ rệt, trước những năm
1980, tỷ lệ này chỉ đạt 4% [9]. Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu đạt tỷ lệ
sống 5 năm sau mổ từ 15 -25 % [12].
Lựa chọn phương pháp phẫu thuật UTTQ còn nhiều tranh luận trong y
văn. Có nhiều phương pháp phẫu thuật cắt thực quản khác nhau đã được áp
dụng điều trị như phẫu thuật Sweet, phẫu thuật Lewis – Santy, phẫu thuật
Akiyama, cắt thực quản không mở ngực, cắt thực quản qua nội soi…
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá kết
quả sớm của phẫu thuật nội soi điều trị ung thư thực quản tại Bệnh viện
Đại học Y Hà Nội” với 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của những bệnh nhân ung thư thực
quản được phẫu thuật nội soi ngực- bụng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
2. Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật nội soi điều trị ung thư thực quản
tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Giải phẫu thực quản
1.1.1. Hình dạng, vị trí, kích thước thực quản
Thực quản (TQ) là đoạn đầu của ống tiêu hóa, nối hầu với dạ dày.
Miệng TQ nằm ngang bờ dưới sụn nhẫn, tương ứng với thân đốt sống cổ 6.
Đầu dưới TQ đổ vào bờ phải phình vị lớn qua lỗ tâm vị, tương ứng với bờ trái
của đốt sống ngực 11 ở phía sau, đầu trong sụn sườn 7 ở phía trước. TQ đi từ
cổ xuống ngực và bụng, nằm ép sát trước cột sống từ đốt sống cổ 6 đến đốt
sống ngực 4, sau đó lệch dần sang trái cho tới chỗ tận hết, ở trước và bên trái
cột sống 3cm.
Ở người lớn, TQ dài khoảng 25cm, đường kính trung bình 2-3cm [18].
Từ trên xuống dưới, TQ đi qua vùng cổ trước, trung thất sau, qua lỗ cơ hoành
để xuống bụng. Như vậy TQ gồm 3 đoạn chính: đoạn cổ, dài 5 - 6 cm, đoạn
ngực dài 16- 18cm và đoạn bụng dài 2-3 cm. Để thuận lợi cho chẩn đoán và
phẫu thuật chia thành: TQ đoạn 1/3 trên gồm đoạn cổ và một phần đoạn ngực
đến ngang mức quai động mạch chủ; đoạn 1/3 giữa từ ngang mức quai ĐM
chủ đến ngang mức tĩnh mạch phổi dưới; đoạn 1/3 dưới tiếp theo đến tận hết
Liên quan trong bao tạng.
Phía trước, TQ nằm sau và lệch nhẹ sang trái khí quản, liên quan với
khí quản bởi tổ chức liên kết và cơ khí quản - thực quản dễ bóc tách. Hai bên,
TQ liên quan với thùy trái và phải của tuyến giáp, các tuyến cận giáp, quai
thứ hai của động mạch giáp dưới, hai dây thần kinh quặt ngược. Phía sau, TQ
nằm sát và dính vào thân các đốt sống cổ bởi một khoang tổ chức liên kết
lỏng lẻo dễ bóc tách.
Liên quan ngoài bao tạng.
Phía trước, TQ liên quan với cơ vai móng, cơ ức giáp, cơ ức móng và cơ
ức đòn chũm. Phía sau, TQ là khoang sau tạng, cân trước cột sống và các cơ
trước cột sống cổ. Phía trước bên, bó mạch thần kinh nằm ngoài TQ. Động
mạch giáp dưới bắt chéo trước bên thực quản [5],[18]. Ống ngực ở bên trái
vòng ra phía trước để đổ vào hợp lưu Pirogoff. Nông nhất là các thành phần
phía trước ngoài của máng cảnh gồm da, cơ bám da, cân cổ nông, cơ ức đòn
chũm, cân cổ giữa, cơ vai móng và là đường mổ trước bên để vào thực quản
cổ. Đường mổ cổ trái thường được sử dụng hơn bên phải [24],[25].
1.1.3.2. Phần thực quản ngực
Phần ngực dài 16 – 18cm, nằm sâu nhất trong lồng ngực, có thể chia
thành 3 đoạn bởi quai động mạch chủ và quai tĩnh mạch đơn, ngang mức đốt
sống ngực 4.
6
Liên quan phía trước:
Từ trên xuống dưới, TQ liên quan với 3 thành phần chính là khí quản,
phế quản gốc phải và trái (phế quản gốc phải nằm xa hơn phế quản gốc trái),
màng ngoài tim. TQ nằm sau và lệch nhẹ sang trái khí quản. Trong khe thực
quản - khí quản có thần kinh quặt ngược trái đi từ dưới lên. Xuống thấp hơn,
TQ bắt chéo phía sau của phế quản gốc trái. Ở xa hơn trước khí quản là thân
9. TK quặt ngợc trái. 10. ĐM phổi trái. 11. TM bán đơn trên trái. 12. ĐM
TQ nhỏ.
13. Các TM phổi trái. 14. TK hoành trái. 15. ĐM TQ lớn. 16. Dây
chằng tam giác
Phớa trờn quai ng mch ch, TQ tip giỏp vi mng phi trung tht v
nm trong h Poitier c to ra bi ng mch di ũn, quai ng mch
ch v ct sng m Rezano mụ t l tam giỏc trờn ct thc qun.
Di quai ng mch ch, thn kinh X trỏi bt chộo sau ph qun gc
trỏi v ng mch phi trỏi.
Liờn quan bờn phi
8
Bờn phi, TQ cú mi liờn quan n gin v ớt nguy him hn. TQ liờn
quan vi quai tnh mch n ngang D4. Quai tnh mch n i ngang qua t
sau ra trc vo mt sau tnh mch ch trờn.
on trờn quai tnh mch n, TQ nm h ca mng phi trung tht,
liờn quan vi mng phi trung tht. Thn kinh X phi i xung, chch t
trc ra sau ti b phi TQ. i kốm theo thn kinh X cú chui hch ca
khoang Barety bờn phi ca khớ qun.
on di quai tnh mch n, thc qun liờn quan trc tip vi mng phi.
Hỡnh 1.3: Liờn qun bờn phi thc qun [26]
Ghi chú: 1. Thực quản. 2. Khí quản. 3. TK hoành phải. 4. Quai TM
đơn. 5. TM liên sờn. 6. ĐM liên sờn. 7. ĐM phổi phải. 8. Chuỗi giao
cảm ngực.
9. TM phổi trên phải. 10. TM phổi dới phải. 11. TK X phải. 12. ống
ngực.
qu¶n. B: §M b¾t chÐo xuÊt ph¸t tõ §M phÕ qu¶n ph¶i. C: §M b¾t chÐo
xuÊt ph¸t tõ quai §M chñ. D: §M b¾t chÐo xuÊt ph¸t tõ §M phÕ qu¶n tr¸i
Phần cổ và phần ngực trên quai ĐMC, TQ được cấp máu bởi ĐM giáp
dưới. Phần TQ ngực dưới quai ĐMC được cấp máu bởi hai hệ: ĐM phế quản
phải và ĐM phế quản trái cấp máu cho mặt sau bên TQ. ĐM bắt chéo xuất
phát trực tiếp từ quai ĐMC. Các ĐM thực quản xuất phát trực tiếp từ ĐM chủ
ngực. Phần TQ bụng được cấp máu bởi ĐM hoành dưới trái, nhánh TQ tâm
phình vị trước và sau của ĐM vị trái, nhánh tâm phình vị của ĐM lách.
Như vậy, TQ có bốn đoạn được cấp máu tốt do các ĐM cấp máu trực
tiếp và bốn vùng thiểu mạch nằm giữa hai ĐM. Bốn đoạn TQ được cấp máu
tốt là thực quản cổ, đoạn thực quản trên quai ĐM chủ, đoạn thực quản dưới
quai ĐM chủ và TQ bụng. Bốn đoạn thực quản được cấp máu kém là đoạn
nối hầu họng, đoạn 2 – 3 cm ngay trên quai động mạch chủ, đoạn 2-3 cm
ngay dưới ngã ba khí phế quản, đoạn 2-3 cm ngay trên cơ hoành [9], [26].
1.1.4.2. Tĩnh mạch
Hệ thống tĩnh mạch thực quản xuất phát từ các mao mạch, tạo ra trên
thành thực quản hai đám rối tĩnh mạch, đám rối dưới niêm mạc rất phong phú
và đám rối tĩnh mạch cạnh thực quản.
Các TM dẫn lưu máu theo từng vùng vào các tĩnh mạch giáp dưới, tĩnh
mạch đơn. Hai TM này đổ vào TM chủ trên. Một số tĩnh mạch đổ vào TM
hoành dưới. Các TM đầu dưới thực quản đổ về TM vành vị, TM lách để về
TM cửa.
1.1.4.3. Hệ bạch huyết
Có hai mạng lưới bạch huyết, một ở dưới niêm mạc và một ở lớp cơ
11
Ở cổ: có các hạch ở giữa và dưới của chuỗi hạch cảnh trong, các hạch
1.2.2. Hình ảnh đại thể: được chia làm 2 loại
1.2.2.1. Thể kinh điển [9],[28]
Dạng sùi: chiếm trên 60% các trường hợp. Là khối sùi vào lòng thực
quản, bề mặt sần sùi, thường có loét hoại tử ở trung tâm khối u, bờ xung
quanh gồ cao, dễ chảy máu, cắt ngang u có màu trắng ngà.
Dạng loét: chiếm khoảng 20 – 30 % các trường hợp. Ổ loét đáy sâu,
thường có hoại tử ở đáy, xâm lấn sau vào thành thực quản và các tổ chức xung
quanh.
Dạng thâm nhiễm: rất ít gặp, chiếm 10% các trường hợp. Tổ chức
ung thư xâm lấn lan tỏa thành của thực quản, thường chiếm toàn bộ chu vi, có
màu trắng ngà, làm dày đều thành và hẹp lòng thực quản.
1.2.2.2. Thể sớm
Các tác giả Nhật Bản đưa ra thuật ngữ UTTQ sớm để chỉ các tổn
thương ung thư chưa vượt qua lớp dưới niêm mạc [29], tương ứng với giai
đoạn Tis và T1 trong phân loại TNM của UICC [30]. UTTQ sớm có tiên
lượng tốt nhưng tỷ lệ phát hiện được còn thấp.
Về mặt đại thể, UTTQ sớm có 3 hình thái chính theo phân loại Nhật Bản:
Loại I (Thể lồi): tổn thương lồi nhẹ, có dạng một polyp.
Loại II (Thể phẳng): Thể này lại được chia thành 3 loại nhỏ (nhô
nông: IIa, phẳng : IIb, lõm nông : IIc).
Loại III (Thể loét): tổn thương loét rõ ràng.
1.2.3. Hình ảnh vi thể
Hình ảnh vi thể của UTTQ rất đa dạng và có nhiều cách xếp loại khác
nhau, trong đó cách xếp loại của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2010,
được coi là phù hợp nhất hiện nay và được nhiều nhà giải phẫu bệnh chấp
nhận nhất [31,[32].
13
đó phân loại TNM được nhiều tác giả ủng hộ nhất [31],[32].
1.3.1. Phân loại giai đoạn theo TNM
Cách phân loại do hiệp hội chống ung thư quốc tê đề xuất đầu tiên vào
năm 1968. Từ đó đến nay, cách phân loại này đã có 7 lần điều chỉnh vào năm
1974, 1978, 1987, 1992, 1997, 2002 và 2012 [30],[31],[32].
1.3.1.1. Phân loại giai đoạn bệnh trước mổ
Trước đây, việc phân loại giai đoạn trước mổ dựa vào kích thước, chiều
cao khối u và mức độ xâm lấn chu vi thực quản trên nội soi và chụp X –
quang thực quản [34].
Từ năm 1987 đến nay, phân loại giai đoạn bệnh trước mổ và sau mổ là
tương đương nhau nhờ sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán hiện đại
như CLVT, SANS, có thể xác định chính xác mức độ xâm lấn thành, di căn
hạch, di căn xa, do vậy giúp việc lựa chọn phương pháp điều trị và đánh giá
khả năng cắt u chính xác hơn [33],[34].
1.3.1.2 Phân loại giai đoạn bệnh sau mổ
Cách phân loại dựa trên kết quả mô bệnh học của bệnh phẩm cắt u,
được gọi là cách phân loại pTNM [31],[32] dựa trên 3 yếu tố: T (ung thư
nguyên phát), N (di căn hạch vùng), M (di căn xa).
Phân loại theo TNM trong UTTQ theo AJCC năm 2010 [31],[32]
T: U nguyên phát
Tx: U không đánh giá được
T0: không có bằng chứng u
Tis: tổ chức ung thư chỉ khu trú ở niêm mạc phủ
T1: tổ chức ung thư xâm lấn lớp niêm mạc và dưới niêm mạc
T2: tổ chức ung thư xâm lấn đến lớp cơ nhưng chưa vượt quá lớp này
T3: tổ chức ung thư xâm lấn đến tổ chức liên kết
T4: tổ chức ung thư xâm lấn sang các tạng xung quanh
15
Không biệt hóa, xem nhóm giai đoạn
như G3 tế bào vảy
16
Hình 1.5. Giai đoạn TNM của ung thư thực quản theo AJCC 7th 2010
“Nguồn: Zhigang Li và cộng sự, 2012” [35]
Bảng 1.2. Giai đoạn ung thư thực quản theo AJCC 7th [31]
Giai đoạn
0
IA
T
Tis
T1
T1
IB
T2-T3
T2-T3
IIA
T2-T3
T2-T3
IIB
T1-T2
T1-T2
IIIA
T3
T4a
IIIB
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M1
G
1
1, X
2-3
1, X
1, X
2-3
2-3
Bất kỳ
Bất kỳ
Bất kỳ
Bất kỳ
Bất kỳ
Bất kỳ
Bất kỳ
đoạn cũng tương tự như cách phân loại của TNM.
1.3.3. Phân loại giai đoạn theo WNM
Skinner đề xuất cách phân loại này vào năm 1981 chính là mượn cách
phân loại theo Dukes trong ung thư đại tràng.
Phân loại theo WNM:
W0: u còn giới hạn ở niêm mạc
W1: u xâm lấn từ lớp dưới niêm mạc tới lớp cơ
W2: u xâm lấn toàn bộ thành thực quản
N0: hạch không bị xâm lấn
N1: 1-4 hạch bị xâm lấn
N2: có 5 hạch trở lên bị xâm lấn
1.4. Chẩn đoán ung thư thực quản
1.4.1. Yếu tố nguy cơ
Nguyên nhân gây bệnh UTTQ đến nay còn chưa được biết rõ. Tuy
nhiên, đã có nhiều yếu tố nguy cơ được tìm thấy: Tuổi trên 50, nghiện rượu,
hút thuốc lá là nguy cơ hàng đầu. Các chất Nitrosamine có trong một số thức
ăn được coi là chất sinh ung thư, thói quen ăn nóng, chế độ ăn kiêng thiếu rau
quả là yếu tố thuận lợi. Các bệnh sẹo bỏng thực quản do kiềm, bệnh phình
giãn thực quản, viêm trào ngược thực quản, túi thừa thực quản … được coi là
những tổn thương tiền ung thư.
1.4.2. Chẩn đoán lâm sàng
vẫn có vai trò quan trọng trong chẩn đoán và làm bilan trước mổ, nhất là trong
19
các trường hợp thương tổn đã gây hẹp lòng thực quản, hoặc các trường hợp
không thực hiện được nội soi như bệnh nhân không hợp tác, bệnh nhân có di
chứng vùng hàm mặt…
1.4.3.2. Chẩn đoán nội soi
Nội soi thực quản kết hợp sinh thiết, làm tế bào học là thăm khám
cận lâm sàng có tính chất quyết định, đặc biệt có giá trị chẩn đoán ung thư
sớm [38].
Hình ảnh UTTQ thể hiện qua nội soi dưới 3 hình thái chính: u sùi, loét
thâm nhiễm, hẹp thâm nhiễm.
Để phát hiện UTTQ sớm, cần chú ý tới những thay đổi nhỏ nhất của
niêm mạc thực quản về màu sắc (đỏ nhạt, ngà trắng, vàng nhạt) và các thay
đổi hình thái nếp niêm mạc (dày lên, lõm xuống), thay đổi tính chiết quang
của niêm mạc.
1.4.3.3. Chẩn đoán mô bệnh học và tế bào học
Được coi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán UTTQ. Có 3 phương pháp
lấy bệnh phẩm: Sinh thiết qua nội soi, chẩn đoán tế bào bằng phương pháp
bàn chải, chẩn đoán tế bào bằng phương pháp chọc hút qua nội soi.
1.4.3.4. Chụp cắt lớp vi tính
Chụp CLVT là phương pháp quan trọng để đánh giá mức độ xâm lấn
trung thất, phát hiện khối u thứ hai ở thực quản, và phát hiện di căn xa nhằm
xác định giai đoạn bệnh trước mổ [39],[40].
Đánh giá xâm lấn thành thực quản và trung thất
Đánh giá xâm lấn thành thực quản: bình thường thành thực quản dầy
khoảng 3mm, vị trí dày nhất (sát tâm vị) < 5mm. Khi thành thực quản dày >
5mm cần theo dõi. Có nhiều nguyên nhân gây dày thành thực quản nhưng
thay đổi tùy thuộc nghiên cứu.
Xác định di căn xa: chụp CLVT có độ nhạy 100% đối với các di căn
gan có kích thước > 2cm, 75% đối với di căn có kích thước từ 1 -2 cm và 49%
với di căn dưới 1cm [42].
1.4.3.5. Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI)
21
Vai trò của chụp CHT trong xác định xâm lấn các tạng lân cận và di căn
xa có giá trị tương tự như CCLVT. Hình ảnh UTTQ trên CHT thường là khối
đồng nhất, tăng tín hiệu trên T2W, đồng tín hiệu hoặc tăng nhẹ tín hiệu trên
T1W và ngấm thuốc đối quang từ.
1.4.3.6. Siêu âm
Siêu âm nội soi (SANS)
Với SANS đầu dò 7,5 MHz, thành thực quản thể hiện bằng năm lớp
tăng giảm âm xen kẽ, tương ứng với các lớp giải phẫu của thực quản [43].
Hình ảnh siêu âm của UTTQ là khối giảm âm khu trú ở thành thực quản, tùy
mức độ xâm lấn của khối u vào các lớp khác nhau ở thành thực quản mà được
xếp thành 4 giai đoạn, tương ứng với 4 giai đoạn T trong phân loại TNM.
Hạch được coi là di căn khi có các tiêu chuẩn: khối tròn, giảm tỷ trọng, ranh
giới rõ, đường kính > 1cm.
SANS rất giá trị trong đánh giá xâm lấn thành, di căn hạch lân cận. Với
xâm lấn thành thực quản, SANS đạt độ chính xác từ 85% - 90%. Tuy nhiên tỷ
lệ này thay đổi tùy thuộc vào giai đoạn T, càng muộn, độ chính xác càng cao.
Khả năng phát hiện xâm lấn hạch vùng của SANS còn thấp, chỉ đạt từ 65 –
86%. SANS không thể phát hiện được các di căn xa ở các cơ quan khác.
Trường hợp khối u lấp kín lòng thực quản, hoặc xơ hóa sau xạ trị gây chít hẹp
thì SANS khó hoặc không đánh giá được. Với sự kết hợp chọc hút sinh thiết
ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả điều trị, bao gồm
Tình trạng dinh dưỡng: đánh giá BMI, giảm cân theo tỷ lệ phần trăm
cân nặng trước đây, protid máu, albumin máu
Chức năng hô hấp, tình trạng tim mạch
Chức năng gan – thận
Tình hình sức khỏe chung theo phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO)
Theo phân loại của ASA, dựa trên các thông số trên, chia làm 5 mức độ:
ASA1: tình trạng sức khỏe tốt
ASA2: có một bệnh nhưng không ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh
hoạt hàng ngày của bệnh nhân
23
ASA3: có một bệnh ảnh hưởng đến sinh hoạt của bệnh nhân
ASA4: có bệnh nặng đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân
ASA5: tình trạng bệnh quá nặng, không có khả năng sống quá 24h,
dù có mổ hay không.
1.5. Điều trị ung thư thực quản
Tháng 04 năm 2012, Hội thực quản Nhật (Japan Esophageal Society)
đã đặt nền tảng cho hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư biểu mô tế bào
vảy thực quản. Theo đó, cắt bỏ u qua nội soi thực quản được khuyến cáo để
điều trị ung thư ở lớp niêm mạc. Điều trị chủ yếu đối với u ở lớp dưới niêm
hay sâu hơn là phẫu thuật. Điều trị hỗ trợ hoặc tân hỗ trợ sẽ được kết hợp đối
với u xâm lấn lớp cơ hay lớp áo ngoài và/hoặc có di căn hạch. Bệnh nhân có u
xâm lấn tạng lân cận hay có di căn xa sẽ được hóa trị, xạ trị hoặc hóa xạ trị
đồng thời. Đối với ung thư xâm lấn lớp dưới niêm mạc nhưng chưa di căn
hạch (T1bN0M0), có thể sử dụng hóa xạ trị điều trị [46].
IA (T1a)
Điều trị
Cắt u qua nội soi
cắt thực quản
tân hỗ trợ
thực quản
Điều trị hỗ trợ
Hình 1.6: Sơ đồ điều trị ung thư thực quản từ Hướng dẫn chẩn đoán và điều
trị ung thư biểu mô thực quản (ấn bản tháng 04 năm 2012). Giai đoạn ung
thư dựa theo Phân giai đoạn TNM của UICC lần thứ 7
“Nguồn: Masanobu Nakajima và cộng sự, 2013”[46]
25
1.6. Điều trị phẫu thuật UTTQ
1.6.1. Lịch sử của phẫu thuật cắt thực quản
Phẫu thuật cắt UTTQ có lịch sử gần 100 năm, nhưng chỉ thực sự phát
triển sau chiền tranh thế giới thứ 2, với sự phát triển của gây mê và phẫu