B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
NGUYN MNH QUYT
ĐáNH GIá TìNH TRạNG RốI LOạN GIấC NGủ
ở BệNH NHÂN VIÊM ĐA CƠ Và VIÊM DA CƠ Tự
MIễN
BằNG THANG ĐIểM PITTSBURGH SLEEP QUALITY
INDEX
Và CáC YếU Tố ảNH HƯởNG Tại BệNH VIệN BạCH
MAI
Từ THáNG 7/2019 ĐếN 6/2020
CNG LUN VN THC S Y HC
H NI 2019
B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
NGUYN MNH QUYT
ĐáNH GIá TìNH TRạNG RốI LOạN GIấC NGủ
ở BệNH NHÂN VIÊM ĐA CƠ Và VIÊM DA CƠ Tự
MDI
MITAX
MMT8
MYOACT
NREM
Aspartate aminotransferase
Alanine aminotransferase
Beck Depression Inventory (bậc thang đánh giá trầm cảm)
Creatine kinase
Protein phản ứng C
Phân loại theo Hội Tâm thần học Mỹ
Thể tích khí thở ra tối đa trong giây đầu tiên
Dung tích sống gắng sức
Phân loại bệnh Quốc tế
Phân loại Quốc tế về rối loạn giấc ngủ
Myositis Damage Index
Myositis intention to treat activity index
Manual Muscle Testing(Test đánh giá cơ lực và trương lực cơ)
Myositis disease activity asessement visual analogue scales
Non Rapid Eye Movement (trạng thái ngủ không có cử động
nhãn cầu nhanh)
PSQI
Bảng điểm Pittsburgh Sleep Quality Index
REM
Rapid Eye Movement (trạng thái ngủ có cử động nhãn cầu
nhanh)
RLGN
Rối loạn giấc ngủ
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ...........................................................................28
2.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................28
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu.........................................................................28
2.3.2. Chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu....................................................28
2.3.3. Quy trình nghiên cứu.......................................................................29
2.3.4. Công cụ thu thập số liệu..................................................................29
2.3.5. Nội dung nghiên cứu.......................................................................30
2.3.6. Biến số và chỉ số..............................................................................38
2.3.7. Các sai số và khống chế sai số.........................................................39
2.4. Sơ đồ nghiên cứu...................................................................................40
2.5. Xử lí số liệu...........................................................................................41
2.6. Đạo đức nghiên cứu...............................................................................41
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................42
3.1. Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu.................................42
3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu học.................................................................42
3.1.2. Đặc điểm về tình trạng bệnh của đối tượng nghiên cứu..................44
3.2. Đặc điểm rối loạn giấc ngủ ở bệnh nhân viêm đa cơ và viêm da cơ.....50
3.2.1. Tỷ lệ rối loạn giấc ngủ của bệnh nhân viêm đa cơ và viêm da cơ..50
3.2.2. So sánh các chỉ số PSQI ở nhóm bệnh VĐC và nhóm bệnh VDC..52
3.3. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn giấc ngủ......................52
3.2.1. Một số yếu tố nhân trắc liên quan đến tình trạng rối loạn giấc ngủ
của đối tượng nghiên cứu................................................................52
3.2.2. So sánh tình trạng rối loạn giấc ngủ ở nhóm bệnh nhân có thời gian
mắc bệnh < 6 tháng và nhóm bệnh nhân mắc bệnh >= 6 tháng......53
3.2.3. Đánh giá sự ảnh hưởng của triệu chứng toàn thân lên tình trạng
RLGN ở bệnh nhân Viêm đa cơ - viêm da cơ.................................54
3.2.4. Đánh giá sự ảnh hưởng của tổn thương cơ lên tình trạng RLGN của
bệnh nhân VĐC - VDC...................................................................54
Bảng 3.4. Đặc điểm thời gian bị bệnh của đối tượng nghiên cứu...................44
Bảng 3.5. Đặc điểm triệu chứng toàn thân của đối tượng nghiên cứu............44
Bảng 3.6. Đặc điểm tổn thương da của đối tượng nghiên cứu........................45
Bảng 3.7. Đặc điểm tổn thương các nhóm cơ của đối tượng NC khi đánh giá
cơ lực và trương lực cơ bằng chỉ số MMT8....................................45
Bảng 3.8. Đặc điểm về tổn thương cơ của đối tượng nghiên cứu...................46
Bảng 3.9. Đặc điểm tổn thương khớp của đối tượng nghiên cứu....................46
Bảng 3.10. Đặc điểm tổn thương đường tiêu hóa của đối tượng nghiên cứu.......47
Bảng 3.11. Đặc điểm tổn thương tim mạch của đối tượng nghiên cứu...........47
Bảng 3.12. Đặc điểm tổn thương hô hấp của đối tượng nghiên cứu...............48
Bảng 3.13. Đặc điểm tổn thương huyết học của đối tượng nghiên cứu..........48
Bảng 3.14. Đặc điểm tiến triển của bệnh và tổn thương mạn tính..................49
Bảng 3.15. Đặc điểm biến đổi men cơ và chỉ số viêm của đối tượng nghiên cứu...49
Bảng 3.16. Đặc điểm giấc ngủ của đối tượng nghiên cứu..............................50
Bảng 3.17. Điểm tổng và điểm thành phần của 7 lĩnh vực............................50
Bảng 3.18. Bảng so sánh các chỉ số PSQI ở nhóm bệnh VĐC và nhóm
bệnh VDC.......................................................................................52
Bảng 3.19. Một số yếu tố nhân trắc liên quan đến tình trạng rối loạn giấc ngủ.....52
Bảng 3.20. Bảng so sánh tình trạng rối loạn giấc ngủ ở 2 nhóm bệnh nhân có
thời gian mắc bệnh < 6 tháng và >= 6 tháng...................................53
Bảng 3.21. Đánh giá sự ảnh hưởng của triệu chứng toàn thân lên tình trạng
RLGN ở bệnh nhân Viêm đa cơ - viêm da cơ.................................54
Bảng 3.22. Đánh giá sự ảnh hưởng của tổn thương cơ lên tình trạng RLGN
của bệnh nhân VĐC - VDC.............................................................54
Bảng 3.23. So sánh chỉ số PSQI giữa các mức độ viêm cơ............................55
Bảng 3.24. Đánh giá sự ảnh hưởng của tổn thương khớp lên RLGN ở bệnh
nhân VĐC - VDC............................................................................55
Bảng 3.25. Đánh giá sự ảnh hưởng của tổn thương tiêu hóa lên RLGN ở bệnh
Hậu quả của những rối loạn này làm cho chủ thể có cảm giác không thỏa mãn
về giấc ngủ (mệt mỏi, lo lắng, khó chịu...) và có những ảnh hưởng đến hoạt
động lúc thức. RLGN ngày càng trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã
hội hiện đại. Một số cuộc điều tra dịch tễ học được thực hiện ở Tây Âu báo
cáo tỷ lệ mặc các triệu chứng mất ngủ từ 20-40% dân số nói chung [6].Ở Việt
Nam, cho đến nay tuy chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về RLGN
nhưng trên thực tế chúng tôi thấy vấn đề này rất phổ biến. Năm 1995, theo
công trình nghiên cứu 1310 người tới khám tại phòng khám ngoại trú Viện
Sức khỏe Tâm thần Trung ương từ 30/06/1993 đến 10/8/1993 thì có tới 116
người mất ngủ, chiếm tỷ lệ 9% [7]. Theo Bùi Quang Huy (2016), trong 1 năm
có khoảng 30-45% người lớn bị mất ngủ [18]. Hiện nay, trên thế giới có nhiều
phương pháp đánh giá rối loạn giấc ngủ như đánh giá bằng lâm sàng, đánh giá
2
gián tiếp thông qua test Beck, test Zung, đánh giá bằng thang điểm Pittsburgh,
đánh giá bằng điện não đồ. Tuy nhiên thang điểm Pittsburgh là bộ câu hỏi đơn
giản, dễ áp dụng để đánh giá chát lượng giấc ngủ của người bệnh.
Bệnh lý cơ xương khớp là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới rối loạn giấc
ngủ ở Hoa Kỳ. 72% người lớn từ 55 tuổi trở lên bị viêm khớp bị rối loạn giấc
ngủ. Do vậy đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về rối loạn giấc ngủ liên quan
đến viêm khớp dạng thấp, viêm khớp dạng thấp thiếu niên, hội chứng
Sjogren ,lupus ban đỏ hệ thống, xơ cứng bì, bệnh behçet, các bệnh lý huyết
thanh âm tính, viêm xương khớp, sarcoidosis, và đau xơ cơ. Tuy nhiên trên
thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, chưa có nghiên cứu nào đánh giá
về tình trạng rối loại giấc ngủ ở bệnh nhân viêm đa cơ và viêm da cơ. Do vây,
chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá tình trạng rối loạn giấc ngủ ở bệnh
nhân viêm đa cơ và viêm da cơ tự miễn bằng thang điểm Pittsburgh Sleep
Quality Index tại bệnh viện Bạch Mai từ tháng 7/2019 đến tháng 6/2020”
1.1.2. Định nghĩa
VĐC - VDC được sắp xếp vào nhóm bệnh tự miễn với tổn thương cơ
bản là tình trạng viêm mạn tính của các bó cơ (viêm đa cơ) và có thể có tổn
thương da kèm theo (viêm da cơ) [1][2]. Trên lâm sàng, bệnh nhân thường có
triệu chứng yếu cơ vùng gốc chi đối xứng hai bên. Ngoài tổn thương cơ và da,
thường có tổn thường có tổn thương các tạng như thực quản, phổi,tim,...Calci
hóa thường là biến chứng thường gặp ở trẻ nhỏ và thanh niên [10]. Ở người
già, bệnh thường kết hợp với ung thư [3].
1.1.3. Những yếu tố nguy cơ của bệnh VĐC - VDC
- Hiện nay, nguyên nhân chính xác của bệnh chưa được xác định rõ
ràng. Tuy nhiên có sự thay đổi về miễn dịch trong bệnh VĐC - VDC, yếu tố
4
về gen cũng có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của bênh. Các
nghiên cứu về VĐC - VDC chỉ ra một số yếu tố gây khởi phát bệnh như các
tác nhân gây nhiễm trung, thuốc, các yếu tố về gen và yếu tố môi trường.
+ Các tác nhân gây nhiễm trùng
Vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ và gây abces cơ với biểu hiện sưng
nóng đỏ đau, vi khuẩn thường gặp là tụ cầu vàng. Một số bệnh nhân có tiền sử
bị nhiễm trùng cấp tính do Toxoplasmosis gondii và Borelia.
Viêm cơ do virus như cúm, coxsackie và echo. Viêm cơ cấp tính kết hợp
với nhiễm Influenxa và coxsakie virus thường xảy ra ở trẻ em và tự khỏi.
+ Thuốc: Một số thuốc có thể gây triệu chứng giống viêm đa cơ tự miễn
như Colchicin, Corticoid, Lorvastatin, Ethanol, Cimetidin, Cloroquin,
Cimetidine...
+ Yếu tố về gen: Kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy có sự kết hợp
+ Điện cơ: khoảng 90% các bệnh nhân VĐC - VDC có những thay đổi
khi lần đầu ghi điện cơ ở cơ vùng gốc chi và cơ cạnh cột sống, có hình ảnh dễ
bị kích thích của các sợi cơ khi nghỉ ngơi, khi co cơ thấy những điện thế phức
tạp, biên độ thấp.
+ Sinh thiết cơ: Thấy xâm nhập nhiều tế bào viêm mạn tính ở xung
quanh mạch máu và tổ chức mô kẽ xung quanh các sợi cơ, chủ yếu là những
tế bào lympho, tương bào, mô bào và bạch cầu đa nhân. Các sợi cơ bị thoái
hóa và hoại tử , có sự tái tạo của các sợi cơ, trong đó hình ảnh đặc hiệu nhất là
teo tổ chức kiên kết xung quanh các bó cơ. Trong quá trình tiến triển của
bệnh, tổ chức kiên kết xơ và/ hoặc mỡ sẽ thay thế những sợi cơ bị hoại tử và
chia tách các bó cơ.
- Da: tổn thương da là dấu hiệu đặc trưng của bệnh viêm da cơ và thường
là biểu hiện sớm của bệnh, triệu chứng về cơ cỏ thể có trước, song thường
xuất hiện sau triệu chứng về da khoảng vài tuần đến vài năm. Biểu hiện ở da
là ban ở các vùng da hơ, rất ngứa khiến bệnh nhân mất ngủ. Bao gồm:
6
+ Ban màu đỏ hoặc tím ở vùng mi mắt, có thể kèm theo phù ở vùng mi mắt.
+ Ban Gottron: ban màu đỏ tím ở mặt duỗi của các khớp ở ngón tay
(gồm khớp bàn ngón, khớp ngón gần) va mặt duỗi của khớp khuỷu, khớp gối,
khớp cổ chân.
+ Bàn tay của người thợ cơ khí: hay gặp nhất ở những bênh nhân viêm
da cơ có hội chứng kháng synthetase và các bệnh nhân có hội chứng hỗn hợp
(viêm da cơ kết hợp với xơ cứng bì).
+ Ở giai đoạn bệnh tiến triển, những vùng da tổn thương sẽ bị teo và
mất sắc tố, có các ban đỏ và giãn mao mạch ở xung quanh móng giống như
những bệnh tự miễn khác.
+ Calci hóa ở da: gặp ở 40% số trẻ hoặc thanh niên mắc viêm đa cơ và
+ Tiêu hóa: Khó nuốt vùng hầu họng, có thể làm bệnh nhân bị sặc vào
khí phế quản khi ăn, giảm nhu động ruột non và tá tràng có thể dẫn đến đau
bụng, chướng bụng, ỉa chảy và sút cân. Viêm thực quản trào ngược mạn tính
do yếu cơ thắt thực quản.
- Thận: Bệnh nhân bị VĐC - VDC có thể có protein niêu, hội chứng thận
hư do viêm cầu thận tăng sinh gian mạch và viêm cầu thận ở. Nói chung tổn
thương thận ít gặp.
- Các bệnh ung thư kèm theo: Ở những bệnh nhân bị ung thư, viêm da cơ
gặp nhiều hơn viêm đa cơ.Các cơ quan bị ung thư thường phụ thuộc vào
tuổi.Bệnh nhân càng lớn tuổi thì nguy cơ bị ung thư kết hợp càng cao đặc biệt
là người trên 60 tuổi. Khoảng 15-20% bệnh nhân có ung thư kết hợp như ung
thư phế quản, ung thư buồng trứng, ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến, dạ
dày, gan.Các biểu hiện lâm sàng không có sự khác biệt giữa những bệnh nhân
viêm đa cơ và viêm da cơ có hay không có ung thư kết hợp [15].
8
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm đa cơ và viêm da cơ
Cho đến nay, tiêu chuẩn chẩn đoán VĐC - VDC được sử dụng nhiều
nhất trong các nghiên cứu về VĐC - VDC trên thế giới là tiêu chuẩn chẩn
đoán của Bohan và Peter năm 1975
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh VĐC - VDC cả Bohan và Peter năm 1975
gồm 5 yếu tố:
1. Yếu cơ vùng gốc chi đối xứng 2 bên
2. Sinh thiết cơ có bằng chứng của viêm cơ
3. Men có trong huyết thanh tăng
4. Điện cơ có dấu hiêu của viêm cơ
5. Tổn thương da điển hình của viêm da cơ ( ban Gottron, ban màu đỏ
hoặc tím ở vùng mi mắt, ban đỏ ở ngực và cổ hình chữ V, ban đỏ và giãn
Các thuốc thường dùng trong điều tri bênh VĐC - VDC gồm
- Corticoid: thuốc điều trị chính.
+ Đường uống: Liều khởi đầu 1-2 mg/kg/ ngày, dùng 1 lần / ngày hoặc
chia 3-4 lần/ ngày nếu dùng 1 lần/ ngày không kiểm soát được bệnh. Duy trì
liều cao đến khi các triệu chứng lâm sàng thuyên giảm và nồng độ men CK
trong huyết thanh giảm trở về bình thường, trung bình khoảng 6-8 tuần. Sau
đó giảm liều dần, liều trung bình 5-10 mg/ngày.
+ Corticoid truyền tĩnh mạch liều cao, chỉ định khi bệnh nhân bị bệnh
nặng, tiến triển cấp tính, có tổn thương tim mạch hoặc viêm phế nang cấp tính
hoặc khó nuốt do yếu cơ vùng hầu họng.
- Methotrexat: Dùng đường uống, liều 7.5 -15 mg/ tuần, có thể tăng liều
lên đến 25 mg/ tuần tùy theo đáp ứng của bệnh nhân , dùng kết hợp với
corticoid.
- Azathioprine: dùng đường uống với liều khởi đầu 1.2-2 mg/kg/ ngày,
liều trung bình 150-200mg/ngày, dùng kết hợp với corticoid.Dùng kéo dài,
đến khi các triệu chứng lâm sàng thuyên giảm có thể giảm liều.
10
- Cyclophosphamide: Dùng đường uống với liều 1-2 mg/kg/ngày, liều tối
đa 150mg/ngày. Ở những bệnh nhân có tổn thương phổi, có thể truyền tĩnh
mạch với liều 500-1000mg/ tháng/lần trong 6 tháng liên tục.
- Cyclosporin: Liều trung bình 2-3.5 mg/kg/ngày – đường uống, dùng
kết hợp với corticoid.
- Thuốc chống sốt rét tổng hợp: Chloroquin có hiệu quả trong điều trị tổn
thương da ở các bệnh nhân viêm da cơ và có ít hiệu quả trong điều trị viêm cơ
ở bệnh nhân viêm đa cơ và viêm da cơ. Thuốc chống sốt rét tổng hợp thường
dùng duy trì kéo dài khi đã ngừng các thuốc khác, với liều thấp nhất
chloroquin 100mg, hydroxychloroquin 200mg 2 lần/tuần.
- Giấc ngủ có tác động phục hồi các quá trình sinh lý và tâm thần, có vai
trò trong việc sửa chữa các mô, điều nhiệt, chức năng miễn dịch, điều hòa tính
nhạy cảm của thụ thể noradrenergic và duy trì trí nhớ. Khi giấc ngủ bị rối
loạn, như trong chứng mất ngủ, có thể gây ra nhiều triệu chứng trên cơ thể và
tâm thần, tùy thuộc vào mức độ trầm trọng và thời gian kéo dài của rối loạn
giấc ngủ [19].
1.2.1.2. Các giai đoạn của giấc ngủ
Giấc ngủ chia thành 2 trạng thái: trạng thái ngủ có cử động nhãn cầu
nhanh (Rapid Eye Movement - REM) và trạng thái ngủ không có cử động
nhãn cầu nhanh (Non Rapid Eye Movement - NREM). Sự thay đổi hoạt động
điện của não thể hiện rõ nét trên điện não đồ [21][22][23][24].
1.2.1.3. Giấc ngủ NREM [21][23][24]
Giấc ngủ NREM đặc trưng bởi sự giảm các hoạt động sinh lý, giấc ngủ
trở nên sâu hơn, song điện não biểu hiện bằng các sóng chậm, biên độ cao
hơn, nhịp thở và nhịp tim chậm xuống, huyết áp giảm nhẹ. Giấc ngủ NREM
được chia thành 4 giai đoạn, mỗi giai đoạn có một đặc trưng riêng biệt:
- Giai đoạn 1: Là khoảng thời gian thiu thiu ngủ, chuyển từ trạng thái
thức sang trạng thái ngủ, trên điện não biểu hiện giảm hoạt tính sóng Alpha và
ưu thế sóng Theta, nhãn cầu chuyển động châm lại, trương lực cơ giảm.
12
- Giai đoạn 2: Là giai đoạn ngủ nhẹ nhàng, ngủ chưa sâu, mắt ngừng
chuyển động, người ngủ yên tĩnh không cử động và xuất hiện hình thoi trên
điện não bắt đầu giấc ngủ.
- Giai đoạn 3 và 4: Được gọi chung là giai đoạn sóng châm, ngủ sâu. Đặc
trưng trên điện não đồ là các sóng chậm (sóng Delta) xuất hiện rải rác cùng
với các song nhỏ hơn và nhanh hơn, huyết áp giảm, nhịp thở chậm, thân nhiệt
giảm xuống thấp hơn, cơ thể bất động, giấc ngủ sâu hơn, không có chuyển động
diễn ra vào 1/3 đầu giấc ngủ.
Ở người trưởng thành, phân bố các giai đoạn giấc ngủ như sau:
- NREM chiếm 70 - 80% toàn bộ thời gian ngủ:
+ giai đoạn 1: 5%
+ giai đoạn 2: 45%
+ giai đoạn 3: 12%
+ giai đoạn 4: 13%
- REM chiếm 20 - 25% toàn bộ thời gian ngủ.
1.2.1.7. Chức năng của giấc ngủ
Chức năng của giấc ngủ đã được kiểm tra bằng nhiều cách khác nhau.
Các nhà nghiên cứu gần đây cho thấy rằng giấc ngủ giúp hồi phục sức khỏe,
giúp làm cân bằng nội môi và có vai trò quyết định trong điều hòa thân nhiệt
và bảo tồn năng lượng. Giấc ngủ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xử
lý, củng cố ký ức sửa chữa hệ miễn dịch, điều chỉnh khả năng học tâp và chức
năng tâm thần. Những người thiếu ngủ bộ não của họ sẽ phải làm việc nhiều
hơn những người có giấc ngủ tốt [25][26].
Giấc ngủ REM đã được chú ý và tiến hành nghiên cứu từ lâu, và có
nhiều kết quả được đưa ra. Một số vai trò của giấc ngủ REM đáng chú ý là:
- Lọc sạch các chất chuyển hóa tích trữ trong hệ thần kinh.
- Đảm bảo cho nguồn phát các xung động để kích thích vỏ não.
14
- Chuyển trí nhớ ngắn hạn thành trí nhớ dài hạn.
- Đảm bảo cảm xúc diễn ra trong giấc mơ thích ứng được với môi trường
xung quanh khi thức - tỉnh.
- Tổ chức lại luồng xung dộng thần kinh bị rối loạn trong giấc ngủ NREM, là
giai đoạn chuyển tiếp sang thức - tỉnh, chuẩn bị tiếp nhận thông tin mới.
1.2.2. Rối loạn giấc ngủ (RLGN)
F 51.0: Mất ngủ không thực tổn.
F 51.1: Ngủ nhiều không thực tổn.
F 51.2: Rối loạn nhịp thức ngủ không thực tổn.
F 51.3: Chứng miên hành.
F 51.4: Hoảng sợ khi ngủ.
F 51.5: Ác mộng.
F 51.8: RLGN không thực tổn khác.
F 51.9: RLGN không thực tổn, không biệt định.
- G47: RLGN thực tổn, bao gồm:
G47.0: Rối loạn khởi đầu và duy trì giấc ngủ (mất ngủ)
G47.1: Ngủ quá nhiều
G47.2: Rối loạn chu kì thức ngủ.
Hội chứng giai đoạn ngủ muộn.
Kiểu ngủ thất thường.
G47.3: Ngừng thở khi ngủ (do trung ương và do tắc nghẽn).
G47.4: Chứng ngủ rũ và mất trương lực.
G47.5: RLGN khác (Hội chứng Kleine - Levin).
16
G47.6: RLGN không xác định.
Phân loại theo DSM - V về Rối loạn giấc ngủ [18]:
- RLGN tiên phát.
- RLGN liên quan đến một số bệnh tâm thần khác.
- Các RLGN khác (do bệnh cơ thế, do lạm dụng thuốc, ma túy).
Trên lâm sàng người ta chia thành 4 nhóm cơ bản: mất ngủ, ngủ nhiều,
cận giấc ngủ, các rối loạn nhịp thức ngủ [18]:
- Mất ngủ:
+ Theo DSM-V (2013) của Hội Tâm thần học Mỹ, mất ngủ là ngủ ít
này không phải mất ngủ hay ngủ nhiều, mặc dù ban đầu người bệnh có thể
than phiền là mất ngủ hay ngủ nhiều.
+ Rối loạn nhịp thức - ngủ gây đảo lộn cuộc sống của người bệnh, ảnh
hưởng đến các chức năng xác hội, nghề nghiệp và các chức năng khác.
1.2.2.3 Dịch tễ học RLGN
RLGN ngày càng trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội hiện
đại. Một số cuộc điều tra dịch tễ học được thực hiện ở Tây Âu báo cáo tỷ lệ
mặc các triệu chứng mất ngủ từ 20-40% dân số nói chung [28]. Năm 2005,
một cuộc khảo sát quốc tế điều tra về sự phổ biến và đặc điểm của chứng mất
ngủ trong dân số nói chung ở Pháp, Ý, Nhật Bản và Hoa Kỳ cho kết quả
37,2% số người được hỏi ở Pháp, Ý, 6,6% ở Nhật Bản và 27,1% ở Mỹ bị
RLGN; số triệu chứng trung bình cho mỗi bệnh nhân là hai, trong đó mất ngủ
chiếm ưu thế nhất (73%), tiếp theo là khó ngủ (61%) và chất lượng giấc ngủ kém
(48%) [29]. Ở Anh, Morphy H và cộng sự (2007) nghiên cứu trên 2363 cá nhân
thấy 37% bị mất ngủ và 63% người không bị mất ngủ; trong số những người
không bị mất ngủ ban đầu, tỷ lệ bị mất ngủ sau 12 tháng là 15% [30].
Ở Việt Nam, cho đến nay tuy chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ
về RLGN nhưng trên thực tế chúng tôi thấy vấn đề này rất phổ biến. Năm
1995, theo công trình nghiên cứu 1310 người tới khám tại phòng khám ngoại