Tổn thương nguồn gốc động mạch trong chấn thương tạng đặc vai trò của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán và can thiệp nội mạch trong điều trị - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN ĐÌNH HIẾU

TỔN THƯƠNG NGUỒN GỐC ĐỘNG MẠCH
TRONG CHẤN THƯƠNG TẠNG ĐẶC VAI TRÒ CỦA
CẮT LỚP VI TÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN
VÀ CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ
Chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Duy Hùng
HÀ NỘI - 2019


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AAST (American Association for the

AAST

:

BN

: Bệnh nhân


1.3. Phương pháp chụp và nút động mạch cầm máu trong chấn thương
tạng đặc...............................................................................................19
1.3.1. Chỉ định.......................................................................................19
1.3.2. Chống chỉ định............................................................................19
1.3.3. Chụp mạch...................................................................................20
1.3.4. Vật liệu nút mạch........................................................................20
1.3.5. Biến chứng nút mạch..................................................................21
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............23
2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu...............................................23
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu..................................................................23
2.1.2. Thời gian nghiên cứu...................................................................23
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu:..................................................................23
2.2. Phương pháp nghiên cứu........................................................................24
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu.....................................................................24
2.2.2.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu..............................................24
2.3. Biến số, chỉ số nghiên cứu......................................................................24


2.4. Phương tiện nghiên cứu..........................................................................26
2.5. Quy trình can thiệp nội mạch..................................................................26
2.6. Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin....................................................28
2.7. Sơ đồ thiết kế nghiên cứu........................................................................29
2.8. Sai số và khống chế sai số.......................................................................29
2.9. Phương pháp phân tích số liệu................................................................29
2.10. Đạo đức nghiên cứu..............................................................................30
Chương 3. DỰ KIẾN KẾT QUẢ..................................................................31
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu..............................................31
3.2. Đánh giá vai trò của CLVT trong chẩn đoán các tổn thương nguồn gốc
động mạch trong chấn thương tạng đặc có so sánh với chụp mạch.........32
3.3. Đánh giá vai trò của can thiệp nội mạch trong điều trị các tổn thương


Bảng biến số, chỉ số nghiên cứu..............................................24

Bảng 3. 1.

Đặc điểm chung của sản phụ con so.......................................31

Bảng 3. 2.

Nguyên nhân chấn thương......................................................31

Bảng 3. 3.

Mạch, huyết áp trung bình ở các bệnh nhân có tổn thương
mạch trên CLVT......................................................................31

Bảng 3. 4.

Mức độ chấn thương trên CLVT theo các tạng ở bệnh nhân có
tổn thương nguồn gốc động mạch...........................................32

Bảng 3. 5.

Tổn thương động mạch trên CLVT.........................................32

Bảng 3. 6.

Tổn thương động mạch trên DSA...........................................32

Bảng 3. 7.


Biến chứng sau can thiệp........................................................35


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương bụng kín (CTBK) là cấp cứu ngoại khoa thường gặp chiếm
8-10% trong các chấn thương nói chung. Trong CTBK thì tạng đặc hay bị tổn
thương hơn tạng rỗng, các tổn thương tạng đặc thường phức tạp, tỷ lệ tử vong
cao. Việc chẩn đoán chấn thương tạng đặc, đặc biệt là các tổn thương mạch
máu đi kèm rất quan trọng vì đây là tổn thương nặng, bệnh nhân có thể tử
vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời [1], [2], [3], [4].
Trước đây với các tổn thương nguồn gốc động mạch (TTNGDM) (ổ
chảy máu hoạt động, giả phình, thông động tĩnh mạch) trong chấn thương
tạng đặc, phương pháp điều trị chủ yếu là phẫu thuật cầm máu đi kèm xử trí
các thương tổn của tạng đặc, ngày nay có nhiều thay đổi trong điều trị các tổn
thương động mạch nói chung và trong điều trị can thiệp nội mạch nói riêng.
Cùng với sự tiến bộ của chẩn đoán hình ành, đặc biệt là cắt lớp vi tính
(CLVT) đa dãy thì việc chẩn đoán các TTNGDM trở nên dễ dàng và chính
xác hơn, cùng với đó có thể đánh giá các tổn thương phối hợp một cách toàn
diện nhất.
Phương pháp chụp mạch và can thiệp nội mạch là một phương pháp
vừa có giá trị chẩn đoán cao vừa là một phương pháp điều trị hiệu quả đã
được áp dụng từ lâu trong nhiều lĩnh vực của y khoa: điều trị ung thư, nút
mạch trong các u lành tính, nút mạch trong điều trị các dị dạng mạch… Trong
đó gây tắc nhánh động mạch bị tổn thương trong điều trị cầm máu ở các bệnh
nhân chấn thương ngày càng được áp dụng rộng rãi. Gây tắc chọn lọc nhánh
động mạch bị tổn thương đem lại hiệu quả cầm máu nhanh, tạo điều kiện bảo
tồn được tối đa vùng tổn thương lành và giúp bệnh nhân tránh được cuộc


3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Chấn thương bụng kín tổn thương tạng đặc
Chấn thương bụng kín hay gọi là chạm thương bụng bao gồm cả những
tổn thương về bụng, tổn thương có thể chỉ ở ngoài thành bụng nhưng có thể
tổn thương các tạng đặc trong ổ bụng (như gan, lách, tụy...) hoặc tạng rỗng
(dạ dày, ruột, bàng quang hoặc các thương tổn phối hợp khác).
1.1.1. Các tổn thương cơ bản và tiến triển
1.1.1.1. Vỡ nông tạng đặc
Tổn thương là những đường vỡ (mất liên tục cả bao tạng và nhu mô)
nhỏ, ngắn, nông (dưới 1cm). Đường vỡ thường đơn thuần hoặc kèm đụng
giập nhu mô. Do vỡ nông ở ngoại vi nơi các mạch máu rất nhỏ, ít thành
phần quan trọng (mạch lớn, ống dẫn) nên dễ tự cầm máu. Các mạch nhỏ
tự co thắt, rồi bị bít lại bởi nút tiểu cầu sau đó mới cầm máu do quá trình
đông máu được khởi động. Thường xuất hiện máu cục quanh tổn thương
theo cơ chế cầm máu tự nhiên.
1.1.1.2. Vỡ nhỏ tạng đặc
Đường vỡ lớn hơn, sâu hơn (trên 1 cm), thường một, hai đường vỡ, chỉ
giới hạn ở một thùy của tạng. Tổn thương có thể kèm đụng giập nhu mô, tổn
thương đường bài xuất nhưng không lớn vẫn có thể tự hàn gắn được. Tổn
thương vẫn có thể tự cầm máu, nhưng khả năng cầm máu kém hơn, máu mất
nhiều hơn (800-1000 ml), có nguy cơ đe dọa tính mạng BN. Điều trị nội (bù
lại khối lượng tuần hoàn, chống bội nhiễm…) vẫn có thể thành công. Các
mạch máu lớn do áp lực lớn nên khó cầm máu hơn nữa dễ bị chảy thứ phát khi
có hiện tượng tiêu cục máu đông (tự nhiên hoặc bị nhiễm khuẩn).
1.1.1.3. Vỡ lớn tạng đặc


tim… do thông động TM kín đáo không rõ ràng. Phát hiện được bằng siêu âm
Doppler.
 Huyết khối: hình thành tại vùng chấn thương mới do nội mạc bị rách,


5
bong ra… hoặc trên cơ sở khối phồng do chấn thương cũ nơi dòng máu bị xoắn
rối. Huyết khối có thể tắc mạch hoàn toàn hoặc chỉ làm hẹp, hậu quả gây thiếu
máu cấp tính hoặc man tính tạng được cấp máu. Vùng nuôi dưỡng sẽ bị hoại tử
(thiếu máu cấp) hoặc teo, xơ hóa (thiếu máu man).

1.1.2. Tổn thương của các tạng và phân loại
1.1.2.1. Gan
Gan là tạng đặc lớn nhất trong ổ bụng (khoảng 1500 gr), giàu mạch máu,
cấu trúc giải phẫu phức tạp (động mạch gan, TM cửa, TM trên gan, đường
mật…) cho nên rất dễ bị tổn thương, tổn thương phức tạp, đe dọa tính mạng.
Phương tiện cố định: Gan nằm dưới cơ hoành, chiếm toàn bộ bên phải
(thùy phải) một phần dưới hoành trái (thùy trái), được cố định bởi các dây
chằng. Dây chằng tam giác phải và trái: hình thành từ 2 lá của dây chằng
vành dính vào cơ hoành. Bên phải thường ở hạ phân thùy VII, bên trái ở hạ
phân thùy II. ở những vị trí bám này cũng dễ bị xé rách bao gan, nhu mô theo
cơ chế gián tiếp. Dây chằng tròn, mạc chằng liềm: đây là phương tiện cố định
gan với thành bụng trước, rất chắc chắn nên cũng là nơi dễ bị xé rách nhất.
Nhẹ nhất là tụ máu nhỏ dưới bao dọc theo chỗ bám của mạc chằng liềm, rồi
đến rách bao Glisson chảy máu, nặng hơn là xé sâu vào nhu mô gan do nhu
mô bị giằng khỏi chỗ bá. Các dây chằng khác: ngoài các dây chằng đa nêu,
nhiều khi có những dây chằng như gan-tá tràng, gan-đại tràng, các dính bất
thường giữa gan và vòm hoành…khi bị chấn thương theo cơ chế gián tiếp các
vị trí bám với gan cũng có có nguy cơ bị xé gây chảy máu [8], [9], [1].
Mạch máu: TM gan (trên gan): là nơi gan bám vào TM chủ dưới, thông

+ Tụ máu dưới bao: bao Glisson không rách, có vỡ nông dưới bao hình
thành khối máu tụ dưới bao. Khối có thể nhỏ, có thể lan rộng. Bao Glisson
nguyên vẹn tạo nên áp lực giúp cho tự cầm máu tốt hơn. Nếu cầm máu được
khối máu tụ sẽ tự tiêu dần hoặc không để lại dấu vết gì hoặc để lại khối dịch.
Khối máu tụ lớn không tự tiêu được có thể bị áp xe hóa, chèn ép nhu mô gan
còn lại. Máu không cầm được khối máu tụ sẽ vỡ gây chảy máu thì 2.
+ Rách bao gan: vị trí rách xung quanh các vị trí bám các mạc treo, dây


7
chằng.
+ Đường vỡ: do mạch máu, đường mật đàn hồi hơn nhu mô gan nên
đường vỡ có xu hướng theo các đường phân chia gan. Độ dài, sâu và hướng
của đường vỡ rất phức tạp. Lực tác động trực tiếp đường vỡ có xu hướng theo
mặt phẳng dọc, chiều trước sau.Lực tác động kiểu sức ép, đường vỡ thường
theo mặt phẳng ngang. Nếu đường vỡ vào sâu thì TM cửa và TM gan dễ bị
xé rách nhất [11].
+ Đụng giập nhu mô, tụ máu: phần nhu mô bị đụng giập, chảy máu nằm
sâu trong gan nên không chảy tự do vào ổ bụng. Các thành phần trong ổ bị tổn
thương có thể gồm động mạch, TM cửa, TM gan, đường mật, tế bào gan…
Nếu là các nhánh nhỏ, tổn thương tự cầm, ổ đụng giập sẽ tổ chức hóa, dịch
hóa hoặc bị áp xe hóa. Nếu các nhánh tổn thương lớn, ổ đụng giập, tụ máu, tụ
mật to ra gây chèn ép nhu mô lành, gây vỡ làm chảy máu, chảy mật hoặc áp
xe hóa.
+ Tổn thương mạch máu: gan không những là tạng giàu mạch máu mà
còn liên quan chặt chẽ với nhiều mạch máu lớn xung quanh: TM chủ dưới,
TM cửa. Khi bị tổn thương đặc biệt theo cơ chế gián tiếp TM chủ dưới dễ bị
xé rách ở những chỗ gan bám vào (TM gan, thùy đuôi). Có thể có tắc, đứt các
nhánh động mạch gan, TM cửa gây thiếu máu một vùng gan mà nhánh mạch
đó chi phối [1].


V
VI

thuỳ gan
- Tổn thương tĩnh mạch gan (TM gan/TMCD)
- Đứt rời gan.

1.1.2.2. Lách
Giải phẫu lách và cơ chế chấn thương: Lách là tạng đặc lớn tứ 2 sau
gan trong ổ bụng (khoảng 250 gr) nhưng lại dễ bị tổn thương nhất. Chấn
thương lách gặp tới 30% trong CTBK. Lách có cấu tạo giải phẫu thường chỉ
có 1 động mạch lách và 1 TM lách, nhu mô dễ bị vỡ. Lách nằm dưới hoành
trái, di động hơn gan nhưng cũng được cố định bởi các mạc treo, dây chằng.
Mặt trước, trên là mạc nối vị tỳ nối lách với bờ cong lớn dạ dày có nhiều
mạch máu. Rốn lách liên tiếp với đuôi tụy nơi có động mạch, TM lách. Cực
dưới có dây chằng lách - đại tràng góc lách, cực trên có dây chằng lách hoành, mặt sau bên dính với mặt trước thận và cơ hoành. Lách được chia theo
phân chia của động mạch, có rất nhiều cách phân chia của nhiều tác giả nhưng
về nguyên tắc là lách có thể chia thành các thùy, phân thùy độc lập, đó là cơ
sở để cắt một phần lách cầm máu [8], [1]. Tất cả các chấn thương mạnh vào
vùng hạ sườn trái, mạng sườn trái đều có thể tác động trực tiếp vào lách làm
vỡ lách. Lách còn dễ bị chấn thương theo cơ chế gián tiếp, bị giằng xé khỏi
các phương tiện cố định làm rách lách thậm chí đứt cả cuống lách [15], [1].
Các dạng tổn thương: Cũng là tạng đặc giống như gan, lách cũng có
các tổn thương cơ bản


9
- Tụ máu dưới bao: cũng do tổn thương nông, bao lách còn nguyên. Khối
máu tụ cũng có thể tự tiêu, tổ chức hóa, dịch hóa, áp xe hóa hoặc vỡ thì 2


III

lan rộng
- Rách nhu mô sâu > 3cm hay tổn thương mạch
- Rách nhu mô tổn thương cả thuỳ lách hoặc đến mạch lách gây

IV
V

thiếu máu rộng (>25% lách)
- Lách vỡ nhiều mảnh
- Tổn thương mạch rốn lách gây mất mạch toàn bộ

1.1.2.3. Thận
Giải phẫu và cơ chế chấn thương: Thận gồm 2 quả nằm sau phúc mạc,
thận hình hạt đậu kích thước 12cm x 6cm x 3cm, nặng khoản 150 gr. Thận
được bọc bởi bao thận khá chắc, ít đàn hồi. Thận gồm 2 phần xoang thận nằm
ở trung tâm có mạch máu, thần kinh và các đài bể thận, nhu mô thận xung
quanh gồm phần vỏ và tủy. Cấp máu cho thận thường là 1 động mạch thận
(85%), có 1 TM thận. Các động mạch phân chia dần đến động mạch phân
thùy thận cấp máu cho từng vùng mô riêng biệt. Thận được cố định bởi cuống
thận, bọc xung quanh là mỡ quanh thận và cạnh thận nên khá di động. Thận
sẽ bị tổn thương theo cơ chế trực tiếp do lực tác động vào vùng hố thắt lưng,
hạ sườn, đè ép thận vào xương sườn, cột sống phía sau hoặc gián tiếp do dừng
đột ngột thận bị kéo căng tổn thương cuống thận, va đập với khối xương lân
cận gây vỡ [8], [16].
Các hình thái tổn thương:
- Tụ máu dưới bao: do tổn thương nhỏ dưới bao, hình thể, nhu mô thận
bình thường.

IV

xuất và không có thoát nước tiểu
- Rách nhu mô lan vào tuỷ thận và đường bài xuất
- Tổn thương mạch chính của thận có chảy máu; huyết khối động

II

mạch thuỳ thận.
- Thận vỡ nhiều mảnh
- Đứt cuống thận gây mất mạch toàn bộ thận.

V

Đa phần chấn thương thận ở độ thấp: độ I, II (60%), điều trị nội bảo tồn
được, chỉ số ít cần cắt thận (3,2%) [13].
1.1.2.4. Tuỵ
Giải phẫu tụy và cơ chế chấn thương:
Tụy cũng là tạng sau phúc mạc, vắt ngang cột sống gồm phần đầu, thân
và đuôi.
Đầu tụy được bọc bởi khung tá tràng có phần thấp ống mật chủ, chỗ đổ


12
của ống tụy chính (Wirsung) và ống tụy phụ (Santorini). Thân tụy vắt trước
cột sống từ bờ phải của TM cửa, giữa đầu và thân tụy là eo tụy nơi dễ bị tổn
thương nhất. Phần cuối là đuôi tụy liên quan chặt chẽ với bó mạch lách ở bờ
trên và rốn lách. Do nằm sâu sau phúc mạc nên ít bị tổn thương (2-12%
CTBK) nhưng tỷ lệ tử vong cao 12- 30%, do chấn thương thường mạnh, 80%
có tổn thương phối hợp đặc biệt là tá tràng và do phát hiện muộn, để sót. Chấn

Đụng giập nhỏ, tụ máu nhỏ, rách bao tuỵ không tổn thương ống

ĐộII

tuỵ chính
Vỡ nhu mô tuỵ, không tổn thương ống tuỵ chính

Độ III

Tổn thương ống tuỵ chính vùng thân và đuôi tuỵ

Độ IV

Tổn thương ống tuỵ chính vùng đầu tuỵ

Độ V

Tổn thương ống tuỵ chính kèm tổn thương tá tràng hoặc/và tổn
thương ống mật chủ

1.2. Các phương pháp chẩn đoán chấn thương tạng đặc
1.2.1. Chụp XQ ổ bụng không chuẩn bị
Ít có giá trị trong chẩn đoán tổn thương mạch trong chấn thương tạng
đặc, có thể thấy các dấu hiệu gián tiếp như gãy các xương sườn cuối bên phải
trong chấn thương gan, chấn thương thận phải; gãy các xương sườn cuối bên
trái trong chấn thương lách và chấn thương thận trái; gãy các mỏm ngang thân
đốt sống thắt lưng, vỡ thân đốt sống thắt lưng trong chấn thương thận; tăng
kích thước các bóng gan, bóng lách hay bóng thận, bờ các tạng đặc không sắc
nét, mất ranh giới các tạng đặc, bờ ngoài cơ thắt lưng chậu bị xoá; với trường
hợp dịch ổ bụng số lượng nhiều thấy bóng mờ vùng hạ vị…

không có dấu hiêụ đặc hiệu. Với trường hợp luồng thông lớn, siêu âm có thể
thấy đám giảm âm hình ống, kèm theo giãn động tĩnh mạch. Trên siêu âm
Doppler xuất hiện dòng rồi ở vị trí có luồng thông. Phổ động mạch giảm chỉ
số trở khác, tăng tốc độ tâm trương. Phổ tĩnh mạch dẫn lưu tăng tốc độ, có thể
có phổ dạng động mạch.
Hạn chế của siêu âm là phụ thuộc vào kỹ năng và đánh giá chủ quan của
người làm, hạn chế đánh giá trong các trường hợp vướng hơi, thành bụng dày,
bệnh nhân đau không tiếp cận được, khó đánh giá những thành phần hay cơ
quan ở sâu…Ngoài ra siêu âm khó đánh giá bản chất dịch trong ổ bụng và
mức độ chấn thương tạng đặc cũng như các tổn thương đi kèm.
1.2.3. Chụp cộng hưởng từ (CHT)
CHT là một phương pháp để phát hiện các khối máu tụ, phân biệt phù nề
với thiếu máu. Trong bệnh cảnh chấn thương, kỹ thuật này chưa phổ biến vì
thời gian thăm khám kéo dài, giá thành cao. Phương pháp này được dành cho


15
những bệnh nhân dị ứng với iod trong thuốc cản quang [20].
1.2.4. Chụp cắt lớp vi tính
Cắt lớp vi tính trong chẩn đoán tổn thương mạch trong chấn thương tạng đặc
Hiện nay, chụp CLVT có tiêm thuốc cản quang là phương tiện chẩn đoán
tốt nhất trong chấn thương bụng nói chung và tổn thương mạch trong chấn
thương tạng đặc nói riêng, nó cho phép thăm khám nhanh, trường thăm khám
rộng [21].
Hiện tượng chảy máu hoạt động được đánh giá bằng sự thoát thuốc cản
quang ra khỏi lòng mạch bị tổn thương.
Khả năng đánh giá chảy máu hoạt động trên CLVT có tiêm thuốc chụp
một thì sau tiêm rất hạn chế. Tuy nhiên, khả năng đánh giá tổn thương đó trên
CLVT có tiêm thuốc chụp hai thì động mạch và tĩnh mạch tốt hơn, có giá trị
hơn [22], [23].

Các phần nhu mô có thể còn hoặc giảm hoặc mất nuôi dưỡng [24], [25].
- Sử dụng phân độ AAST năm 1994 theo các tạng.
Hình ảnh chảy máu hoạt động trên CLVT hai thì có thể liên quan tới các
tổn thương khác của động mạch như ổ tụ máu hay ổ giả phình. Khác với ổ
chảy máu hoạt động, ổ giả phình được bao quanh bởi mô liên kết hay thành
mạch, do đó hình ảnh ổ giả phình sẽ khu trú và không bị lan rộng hay tăng tỷ
trọng khi chụp ở thì tĩnh mạch hay muộn. Áp lực đẩy thuốc cản quang qua
thành mạch bị tổn thương vào vùng được khu trú, bao bọc bở tổ chức liên kết
lân cận hình tròn hay oval có ranh giới rõ [26], [27].
Ổ cháy máu hoạt động thì khác, hỗn hợp thoát mạch bao gồm máu, thuốc
cản quang, có thể có các cục máu đông nhỏ, dưới áp lực lớn của động mạch
hỗn hợp này được đẩy ra ngoài và không được khu trú lại tạo thành hình tia
với đường bờ, ranh giới không rõ. Ổ chảy máu hoạt động làm hình thành khối
máu tụ và làm khối máu tụ tăng tỷ trọng và kích thước, hình ảnh này có thể
quan sát thấy ở thì tĩnh mạch hay muộn. Ngoài ra các ổ chảy máu hoạt động
cũng có thể quan sát thấy là hình ảnh các ổ khu trú do tốc độ chaỷ máu chậm
hoặc các cục máu đông gây bít tắc một phần hoặc chảy máu vào vùng bị giới
hạn giải phẫu [27].
So sánh
Ranh giới
Hình dạng

Chảy máu hoạt động
Không rõ
Thường hình tia, tuy

Ổ giả phình

Thường hình tròn hoặc


toàn giống nhau.
Chụp CLVT thì tĩnh mạch là một công cụ hữu hiệu trong chẩn đoán tổn
thương mạch trong các trường hợp không thể phân biệt được trên phim thì
động mạch dựa trên hình dạng, ranh giới, vị trí hay tỷ trọng. Chụp CLVT thì
tĩnh mạch cũng hữu ích ở bệnh nhân có đa tổn thương (vừa có ổ chảy máu
hoạt động vừa có ổ giả phình…)
Tỷ trọng của ổ chảy máu hoạt động
Hình ảnh ổ chảy máu hoạt động được xác định khi tỷ trọng lớn hơn tỷ
trọng cục máu đông (70-90HU) [28], [23]. Hầu hết các ổ chảy máu hoạt động
có tỷ trọng lớn hơn 100HU. Sự khác biệt về tỷ trọng giữa dịch tự do, dịch
máu và cục máu đông được mô tả ở bảng dưới đây theo Willman và các cộng
sự năm 2002 [23]:
Loại dịch

Tỷ trọng (đơn vị Hounsfield)


18
Dịch tự do
0-15
Dịch máu
20-40
Cục máu đông/ máu tụ
40-70
 10HU so với mạch nguồn chảy máu
Ổ chảy máu hoạt động
Vùng tỷ trọng cao nhất trên phim chụp thì động mạch biểu thị cho ổ chảy
máu hoạt động, chúng thường có kích thước nhỏ hơn so với khối máu tụ hay
cục máu đông có chứa thuốc cản quang. Tỷ trọng của ổ chảy máu hoạt động
thường tương đương với tỷ trọng trong mạch nguồn chảy máu. Sự khác nhau

- Bệnh nhân có chấn thương tạng đặc nhưng không thấy hình ảnh tổn


19
thương mạch trên CLVT có chỉ định chụp mạch để phát hiện tổn thương: vỡ
mạch giả phình, thông động tĩnh mạch, tắc mạch.
- Tình trạng huyết động ổn khi vào viện hoặc sau khi hồi sức.
- Có chỉ định bảo tổn không phẫu thuật.
1.3.2. Chống chỉ định
- Bệnh nhân có chấn thương tạng đặc có huyết động không ổn định sau
khi đã hồi sức tích cực.
- Sốc tụt huyết áp do đa chấn thương hoặc các tổn thương tạng khác (vỡ
ống tiêu hoá, vỡ bàng quang…) cần phẫu thuật.
- Bệnh nhân có tiền sử dị ứng thuốc cản quang đường tĩnh mạch.
- Bệnh nhân suy gan, suy thận, rối loạn đông máu.
- Gia đình hoặc bệnh nhân không đồng ý thực hiện kỹ thuật nút mạch
cầm máu.
1.3.3. Chụp mạch
Đây là một phương pháp vừa chẩn đoán vừa điều trị. Chụp mạch máu
cho phép chấn đoán các tổn thương như: tụ máu, đường vỡ nhu mô hay ổ
đụng dập nhu mô… Đặc biệt là xác định các tổn thương mạch máu: ổ chảy
máu hoạt động, ổ giả phình, thông động tĩnh mạch, cắt cụt mạch… Chụp
mạch được coi là tiêu chuẩn vàng trong việc xác định các tổn thương mạch
máu. Các dạng tổn thương có thể gặp:
- Chảy máu thể hoạt động (active bleeding): hình ảnh thoát thuốc cản
quang trực tiếp từ các nhánh mạch bị tổn thương.
- Giả phình động mạch: xuất hiện ổ đọng thuốc (kích thước thường lớn
hơn mạch thượng lưu) có thông với thân hoặc nhánh của động mạch bị tổn
thương, bờ rõ, có thoát thuốc thì muộn. Nếu túi phình đã vỡ thì bờ túi phình
không đều.

- Vòng xoắn kim loại (Coil): là vật liệu gây tắc vĩnh viễn ở các nhánh
mạch máu gần, có hiệu quả và vai trò lớn trong các tổn thương: phình hay giả
phình, thông động tĩnh mạch xong giá thành đắt.
Việc lựa chọn và sử dụng vật liệu nút mạch phụ thuộc vào từng loại tổn
thương mạch máu, kinh nghiệm và quan điểm của từng trung tâm can thiệp
cũng như bác sĩ can thiệp.
1.3.5. Biến chứng nút mạch



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status