TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài
HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TIẾP CẬN
CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI TẠI XÃ TRUNG MINH,
THÀNH PHỐ HÒA BÌNH DỰA VÀO NHÓM
Người hướng dẫn
: Th.S Đỗ Nghiêm Thanh Phương
Họ và tên sinh viên
: Kiều Thị Minh Thúy
Lớp
: K63B
HÀ NỘI - 2017
1
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành khóa luân tốt nghiệp này, trước tiên tôi xin chân
thành cảm ơn Nhà trường cùng các thầy cô giáo trong khoa Công tác xã hội Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Th.S Đỗ Nghiêm Thanh
Phương- giảng viên bộ môn Công tác xã hội với người khuyết tật và nạn nhân
: Nhân viên công tác xã hội
LĐ – TB & XH
: Lao động – Thương binh và xã hội
NKT
: Người khuyết tật
NKTVĐ
: Người khuyết tật vận động
UBND
: Ủy ban nhân dân
DVXH
: Dịch vụ xã hội
TP
: Thành phố
KT
: Khuyết tật
xã hội, đặc biệt là những người khuyết tật vận động. Người khuyết tật vận
động thường gặp những khó khăn như vận động tay kém, chân yếu, tư thế và
dáng đi bất thường, khó khăn trong việc vệ sinh cá nhân, thân thể. Những khó
khăn mà người khuyết tật ở Việt Nam gặp phải là: Nhận thức của xã hội về
vấn đề người khuyết tật còn hạn chế; Sự thiếu đồng bộ trong hệ thống chính
sách khiến nhiều người khuyết tật gặp trở ngại hoà nhập; Huy động sự ủng hộ
từ bản thân nội lực các cơ quan tổ chức trong nước chưa nhiều; Điều kiện
giao thông chưa tiếp cận; Các chính sách an sinh xã hội như giáo dục, y tế,
việc làm còn chưa đi vào chiều sâu và hiệu quả; Bản thân nhiều người khuyết
tật còn chưa khẳng định được tiếng nói của chính mình trong xã hội do mặc
6
cảm, tự ti… Vì vậy việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của người khuyết tật vận
động rất hạn chế.
CTXH là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng
đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ
và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu. đó Nghề
CTXH thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của
con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc
sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng thuyết hành vi con
người và hệ thống xã hội, CTXH góp phần đảm bảo cho việc thực hiện
chính sách xã hội tốt hơn. Công tác xã hội nhóm là một phương pháp nhằm
giúp tăng cường củng cố xã hội của cá nhân thông qua những hoạt động
nhóm và khả năng ứng phó các vấn đề của cá nhân. Công tác xã hội nhóm
là quá trình mà nhân viên Công tác xã hội sử dụng tiến trình sinh hoạt
nhóm để giúp đỡ nhóm và từng cá nhân tăng cường khả năng tự giải quyết
vấn đề nhằm thỏa mãn nhu cầu.
Trong những đối tượng cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhân viên công tác
người khuyết tật vận động xã Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa
Bình được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
2.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích của đề ra của đề tài, nghiên cứu thực hiện những
nhiệm vụ sau:
-
Khái quát các vấn đề lý luận liên quan đến người khuyết tật, người khuyết tật
-
vận động, dịch vụ xã hội và công tác xã hội nhóm.
Làm rõ thực trạng việc tiếp cận và nhu cầu tiếp cận các dịch vụ xã hội của
-
người khuyết tật vận động tại xã Trung Minh, thành phố Hòa Bình
Áp dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người khuyết
tật vận động xã Trung Minh, thành phố Hòa Bình tiếp cận với các dịch vụ xã
hội
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm để hỗ trợ người khuyết
tật vận động tại xã Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình tiếp cận
các dịch vụ xã hội.
3.2. Khách thể nghiên cứu
8
động không có nhiều thông tin, ít sự hiểu biết về các dịch vụ dành cho mình.
Chính vì vậy, việc áp dụng phương pháp công tác xã hội nhóm sẽ giúp cho
người khuyết tật có thể tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội.
6. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Các phương pháp được sử dụng chủ yếu cho việc nghiên cứu đề tài này là:
6.1 Phương pháp phỏng vấn sâu
- Đối tượng phỏng vấn: người khuyết tật vận động, người dân địa phương
9
-
Mục đích phỏng vấn: thu thập thông tin, làm rõ vấn đề
Nội dung phỏng vấn: Thực trạng nhu cầu, thuận lợi, khó khăn gặp phải khi
tiếp cận dịch vụ xã hội
6.2 Phương pháp phân tích tài liệu
- Thu thập số liệu: từ phòng lao động thương binh xã hội, ban dân số xã Trung
Minh, thành phố Hòa Bình
- Xử lí số liệu: thống kê toán học, tổng hợp số liệu
6.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Sử dụng bảng hỏi với các câu hỏi đóng, mở, đóng mở kết hợp làm rõ thực
trạng nhu cầu mong muốn tiếp cận dịch vụ xã hội của người khuyết tật
6.4 Phương pháp công tác xã hội nhóm
Đề tài sử dụng phương pháp công tác xã hội nhóm bao gồm các kỹ
năng, tiến trình, giai đoạn của công tác xã hội nhóm trong việc chuẩn bị thành
lập nhóm, giai đoạn hoạt động đến lượng giá.
Công tác xã hội nhóm là quá trình mà nhân viên Công tác xã hội sử
trợ hiệu quả cho NKTVĐ được tiếp cận các dịch vụ xã hội của địa phương,
nhà nước.
Đối với NKTVĐ địa phương
Giúp NKTVĐ được đáp ứng những nhu cầu cơ bản như những người
bình thường khác
Đối với cá nhân
Đề tài: “Vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm để hỗ trợ người
khuyết tật vận động tại xã Trung Minh, thành phố Hòa Bình tiếp cận các dịch
vụ xã hội” nhằm nâng cao hiểu biết của sinh viên về vai trò, tầm quan trọng
của bình đẳng mọi đối tượng trong xã hội, ai cũng được hưởng những quyền
lợi họ xứng đáng được hưởng. Đồng thời giúp cho sinh viên có cái nhìn thực
tế đối chứng với lý thuyết mình được học trên giảng đường cũng như có cái
nhìn thực tế trong xã hội để biết được lý thuyết mình học có vận dụng được
hết không. Đặc biệt giúp cho sinh viên thử sức xâm nhập vào thị trường xã
hội để có được kinh nghiệm thực tế bởi " học cần đi đôi với hành" hay lý
thuyết không có thực tế chỉ là lý thuyết suông, còn thực tế không đi liền với lý
thuyết là thực hành mù quáng .
Bên cạnh đó, qua nghiên cứu, sinh viên được rèn luyện cho mình
phương pháp tư duy khoa học, cách tìm ra các giải pháp phù hợp với từng
hoàn cảnh, từng đối tượng. Trau dồi nhiều vốn kiến thức mới.
8. Kết cấu của đề tài
Kết cấu của đề tài có 3 phần là: Mở đầu, nội dung và kết luận. Trong
đó, phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương II: Thực trạng việc tiếp cận và nhu cầu tiếp cận dịch vụ xã hội
của người khuyết tật vận động xã Trung Minh, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Chương III: Xây dựng nhóm tự lực cho người khuyết tật vận động nâng
cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội tại xã Trung Minh, thành phố Hòa Bình
NỘI DUNG
11
khuyết tật. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đi sâu về nhu cầu tiếp cận các
12
dịch vụ xã hội của người khuyết tật vận động và việc áp dụng phương pháp
công tác xã hội nhóm vào việc trợ giúp người khuyết tật tiếp cận các dịch vụ
xã hội.
2. Cơ sở lý luận
2.1 Khái niệm người khuyết tật và người khuyết tật vận động
2.1.1 Người khuyết tật
Khái niệm người khuyết tật
Là một vấn đề của xã hội, “khuyết tật” có liên quan đến nhiều khía
cạnh, cơ bản trong chương trình phát triển xã hội như nghèo đói, thất học, bất
công, định kiến xã hội... Do đó, không thể xem “khuyết tật” là vấn đề riêng lẻ
được giải quyết bằng các biện pháp đơn giản, duy nhất. Tùy thuộc vào nền
văn hóa, phong tục tập quán của mỗi địa phương, mỗi Quốc gia hoặc lĩnh vực
quan tâm của các cơ quan, tổ chức, sẽ có những khái niệm khác nhau về
“khuyết tật” và “người khuyết tật”.
Từ khuyết tật có nguồn gốc từ disability trong tiếng Anh. Theo nguyên
ngữ từ này hàm ý có khó khăn có trở ngại khi thực hiện một tác vụ nào đó.
Phân biệt với unability là mất khả năng. Disability không hàm ý về các khiếm
khuyết thể lý, hạn chế sức khỏe. Trước đây, theo Phân loại Quốc tế về khiếm
khuyết, giảm khả năng và tàn tật (International Classification of Impairment,
Disability and Handicap – ICIDH) của Tổ chức Y tế Thế giới(WHO, 1980),
khuyết tật thường được hiểu có ba mức độ theo ba mức độ.
- Impairment: nghĩa tương đương tiếng Việt là “Khiếm khuyết”
- Disability: nghĩa tương đương tiếng Việt là “Giảm khả năng”, “Không
có khả năng”
khuyết tật- Thuật ngữ “khuyết tật” có nghĩa là mất mát hoặc hạn chế các cơ
hội tham gia vào đời sống cộng đồng ở mức bình đẳng như những thành viên
khác. Thuật ngữ đó mô tả người khuyết tật tiếp xúc với môi trường. Mục đích
của thuật ngữ này là nhằm nhấn mạnh phải tập trung vào những thiếu sót
trong môi trường và các hoạt động có tổ chức trong xã hội, ví dụ như: thông
tin, phổ biến và giáo dục, những thiếu sót này ngăn trở người khuyết tật tham
gia các hoạt động xã hội một cách bình đẳng.
14
Còn theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1980, từ những kinh
nghiệm trong lĩnh vực y tế, đã có những định nghĩa: khuyết tật là bất kỳ một
sự hạn chế hoặc thiếu khả năng nào (là hậu quả của sự thiếu năng) đế thực
hiện một hoạt động nào theo cung cách hoặc trong phạm vi được coi là bình
thường của một con người
Trong Pháp lệnh về người khuyết tật, số 06/1998/PL-UBTVQH ngày
30/07/1998 của ủy ban thường vụ Quốc hội, cũng đưa ra đĩnh nghĩa về “người
khuyết tật”. Theo quy định của Pháp lệnh này, “người khuyết tật” không phân
biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật là người khiếm khuyết một hay nhiều bộ
phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm
suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, học tập, sinh hoạt gặp
nhiều khó khăn.
Từ những định nghĩa trên, có thể thấy rằng, người khuyết tật là người
không bình thường về sức khỏe do các khuyết tật hoặc do bệnh tật làm huỷ
hoại, rối loạn các chức năng của cơ thể, hoặc do hậu quả của những chấn
thương dẫn đến những khó khăn trong đời sống và cần được xã hội quan tâm,
giúp đỡ, bảo vệ. Được cấp giấy chứng nhận khuyết tật và hưởng các chế độ
trợ cấp xã hội. Khó khăn lớn nhất mà người khuyết tật phải đối diện không
phải từ sự khiếm khuyết chức năng của cơ thể mà chính là những yếu tố cản
trở về tâm lý, xã hội.
giải quyết sự việc.
Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến
cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập, gặp khó khăn mà không thuộc các
trường hợp được quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này
(Điều 2 – số 28/2012/NĐ-CP - Nghị định quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật)
Mức độ khuyết tật
- Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến
mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được
các hoạt động đi lại, mặc quần sao, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục
vụ nhu cần sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp,
chăm sóc hoàn toàn.
- Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một
phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc tự thực hiện được
một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác
phục vu nhu cần sinh hoạt cá nhân hằng ngày mà cần có người theo dõi, trợ
giúp, chăm sóc.
- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
(Điều 3 – số 28/2012/NĐ-CP - Nghị định quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật)
2.1.2 Người khuyết tật vận động
Theo Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP của Chính phủ về
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật : Khuyết tật vận
16
- Sự bất lực của y học và khoa học kỹ thuật
17
- Căng thẳng và áp lực trong cuộc sống và công việc hàng ngày - Thái
độ của xã hội, đô thị hoá, dân số gia tăng, di cư
Kết hôn trực hệ (cùng huyết thống)
Những nguyên nhân bẩm sinh
- Di truyền, dị tật bẩm sinh - Do gen (lỗi do NST, hội chứng đao)
- Do lây truyền từ cha mẹ từ trong bào thai (sởi Rubella, giang mai, HIV)
Và một số nguyên nhân khác như:
- Lạm dụng và nghiện rượu, thuốc lá và ma tuý gây nhiễm độc thai nhi.
- Các thử nghiệm khoa học lên thân thể mà không có sự đồng ý của
nạn nhân.
Hiện nay, các nguyên nhân gây nên khuyết tật có sự biến động và khác
hơn so với giai đoạn trước đây; các nguyên nhân do bệnh tật, bẩm sinh và
chiến tranh sẽ giảm, đặc biệt là các tác động dẫn đến khuyết tật trong giai
đoạn trước sinh và trong khi sinh được hạn chế rất nhiều do sự phát triển của
y học, nhất là vấn đề sàng lọc trước sinh và sự tuyên truyền tốt về việc chăm
sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em cũng như vấn đề sinh đẻ. Tuy nhiên, các nguyên
nhân như do tai nạn lao động, giao thông, ô nhiễm môi trường, môi trường xã
hội không phù hợp như thiếu thốn về tâm lý xã hội và không rõ nguyên nhân
có chiều hướng gia tăng do sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và đô thị hóa. Chính vì vậy, sự tham gia của CTXH đối với vấn đề
khuyết tật, nhất là đẩy mạnh vai trò tuyên truyền, nâng cao nhận thức của
người dân trong việc hạn chế các yếu tố gây nên khuyết tật của người nhân
viên CTXH là vô cũng quan trọng và cần thiết.
2.2 Khái niệm về dịch vụ xã hội
2.2.1 Dịch vụ xã hội
ra. Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong
mối quan hệ của con người nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải
mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội,
công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của
họ. Nhân quyền và công tác xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề.
Theo tác giả Toseland và Rivas (1998) có rất nhiều cách tiếp cận về
CTXH nhóm và mỗi cách tiếp cận có những điểm mạnh và ứng dụng thực
19
hành cụ thể. Vì vậy, các tác giả này đã đưa ra một định nghĩa bao quát được
bản chất của CTXH nhóm và tổng hợp được những điểm riêng biệt của cách
tiếp cận với CTXH nhóm như sau: “Công tác xã hội nhóm là hoạt động có
mục đích với các nhóm nhiệm vụ, trị liệu nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm
xã hội và hoàn thành nhiệm vụ. Hoạt động này hướng trực tiếp đến cá nhân
các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấo
dịch vụ”.
Trong giáo trình CTXH nhóm của ThS. Nguyễn Thị Thái Lan (NXB
Lao động – Xã hội), CTXH nhóm được định nghĩa như sau:
“Công tác xã hội nhóm trước hết phải được coi là phương pháp can thiệp
của công tác xã hội. Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên
trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau,
chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt
động nhóm nhằm đạt được tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải
quyết những vấn đề khó khăn. Trong hoạt động công tác xã hội nhóm, một nhóm
thân chủ được thành lâp, sinh hoạt thường ký dưới sự điều phối của trưởng
nhóm và đặc biệt là sự trợ giúp, điều phối của nhân viên xã hội.”
Trong giáo trính CTXH nhóm của ThS. Nguyễn Duy Nhiên, CTXH
nhóm được định nghĩa:
“ Phương pháp công tác xã hội nhóm là phương pháp công tác xã hội
cảm xúc, tình cảm, kinh nghiệm với các thành viên khác từ đó hiểu rõ và có
phương pháp giải quyế vấn đề của mình dựa trên sự hỗ trợ từ nhóm. Nhóm trị
liệu xây dựng kế hoạch, thời gian định kì gặp mặt, trao đổi thông tin, thực
hiện các sinh hoạt có chủ đề và mục đích rõ rang, phù hợp nhằm tạo sự hấp
dẫn, đem lại giá trị đáp ứng nhu cầu của thành viên tham gia. Để thực hiện
điều đó, đòi hỏi, người điều hành hoạt động nhóm đòi hỏi phải được đào tạo
chuyên môn. Họ phải có hiểu biết về cơ chế tâm sinh lý, tâm lý xã hội và
hành vi con người, có kĩ năng sử dụng năng động nhóm để hỗ trợ tinh thần,
khuyến khích nhóm cùng thành viên tham gia.
• Công tác xã hội nhóm thực hiện chức năng giải trí
Loại hình CTXH nhóm này có mục đích là cung cấp những hoạt động
vui chơi giải trí có ý nghĩa xã hội cho các thành viên. Thông qua các hoạt
động vui chơi giải trí đó, các thành viên 8trong nhóm giúp nhau nhận thức
đúng đắn chuẩn mực, hình thành thái độ, niềm tin, thực hành hành vi tích
cực,tránh hành vi tiêu cực.
21
•
Công tác xã hội nhóm giáo dục
Loại hình CTXH nhóm này hình thành với mục đích giáo dục , truyền
đạt cho các thành viên những kiến thức, kĩ năng về một lĩnh vực nào đó trong
đời sống, hoặc nhằm thay đổi thái độ, hành vi của các thành viên trong nhóm.
Sự tác động từ nhóm sẽ làm thay đổi thái độ, hành vi và phát huy vai trò của
từng cá nhân, nhất là ở nhóm đối tượng đặc thù (người nghiện ma túy, hành
nghề, hoạt động mại dâm, người có HIV/AIDS). Hiện nay, loại hình CTXH
nhóm này được gọi là nhóm giáo dục đồng đẳng.
• Công tác xã hội nhóm tái tạo - tái xã hội hóa phẩm chất cá nhân
Vấn đề người khuyết tật được thể hiện trong văn bản luật pháp cao nhất
đó là hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội
thông qua năm 1992 và sửa đổi năm 2013. Trên cơ sở của Hiến pháp và Pháp
lệnh người tàn tật ban hành, triển khai áp dụng trong thực tiễn đảm bảo quyền
lợi và lợi ích hợp pháp của NKT trên mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó
có nhóm các văn bản về lao động, dạy nghề cho người khuyết tật cũng được
triển khai.
Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30/07/1998, Ủy ban thường vụ Quốc
hội thông qua Pháp lệnh người tàn tật. Pháp lệnh gồm 8 chương và 35 điều
thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc khuyến khích, tạo điều
kiện thuận lợi cho NKT, trong đó có NKTVĐ thực hiện bình đẳng các quyền
về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn
định đời sống, hòa nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội.
Kỳ họp thứ 7, ngày 17 tháng 6 năm 2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật người khuyết tật, góp
phần hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính sách dành cho người khuyết tật cũng
như NKTVĐ. Luật trên có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Trên cơ sở
thừa kế Pháp lệnh người tàn tật và các văn bản có liên quan, tiếp thu, vận
dụng có chọn lọc các điều ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia, bảo
đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, Luật quy định
tương đối đầy đủ, toàn diện người khuyết tật, về quyền và nghĩa vụ của người
khuyết tật; trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với người khuyết
tật, từng bước được hoàn thiện hệ thống chính sách về người khuyết tật nói
chung và người khuyết tật vận động nói riêng.
23
Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ra ngày 10/04/2012 của Chính phủ: Nghị
định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết
Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất,
rộng rãi nhất của con người. Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản
này con người sẽ không tồn tại được. Ông quan niệm rằng, khi
những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết
để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ
không thể tiến thêm nữa.
Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh:
An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không
nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của
con người.
Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu
cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn
lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn
kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự,…
25