Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn quận 6, thành phố hồ chí minh - Pdf 55

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quận 6 là một trong 24 quận huyện của Thành phố Hồ Chí Minh, cửa
ngõ phía Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh; phía Bắc giáp với quận Tân Phú
và Quận 11 có ranh giới dọc theo rạch Lò Gốm, đại lộ Hồng Bàng; phía Đông
giáp với Quận 5, có ranh giới dọc theo đường Nguyễn Thị Nhỏ, qua bến xe
Chợ Lớn, đường Ngô Nhân Tịnh; phía Nam giáp Quận 8, có ranh giới kênh
Bến Nghé (bến Trần Văn Kiểu cũ); phía Tây giáp với quận Bình Tân, có ranh
giới đường An Dương Vương. Quận 6 có tổng diện tích tự nhiên là 7,14km 2,
chiếm 0,34 diện tích tự nhiên của toàn thành phố Hồ Chí Minh. Dân số hiện
nay của Quận 6 tính đến năm 2016 là 260.742 người. Về thành phần dân tộc,
đa số là người Kinh (chiếm 73,40%), kế đến là người Hoa chiếm 26, 01%,
ngoài ra còn một số dân tộc khác như người Chăm (chiếm 0,21%), Khmer
(chiếm 0,28%), Tày, Thái …
Trong những năm qua, Quận 6 phát huy lợi thế của mình đã và đang
phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định
hướng “Thương mại - Dịch vụ - Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp”, các
ngành dịch vụ chất lượng cao, các tuyến đường khu vực kinh doanh chuyên
ngành, đa ngành từng bước hình thành và phát triển. Quản lý đô thị có chuyển
biến tích cực, nhiều công trình, dự án trọng điểm được triển khai xây dựng,
nhất là các công trình hạ tầng kỹ thuật, cải thiện môi trường sống, góp phần
thay đổi rõ nét diện mạo đô thị quận theo hướng văn minh, hiện đại. Lĩnh vực
văn hoá – xã hội đạt nhiều kết quả tích cực; môi trường văn hoá có bước phát
triển; công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phòng chống dịch bệnh được tập
trung; chính sách an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết việc
làm được thực hiện ngày càng tốt hơn; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm
trật tự an toàn xã hội, không ngừng củng cố nhiệm vụ quốc phòng và an ninh.

1




tiến sĩ có liên quan đến tội trộm cắp tài sản có thể kể đến như: Luận văn thạc
sĩ “Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh
Bình Phước” của tác giả Lê Thị Bình, Học viện Khoa học xã hội, 2018; luận
văn thạc sĩ “Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn
từ huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội” của tác giả Phạm Tuấn Anh, Học viện
Khoa học xã hội; luận văn thạc sĩ “ Áp dụng hình phạt đối với các tội xâm
phạm sở hữu theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận 9, Thành phố
Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Thị Kim Quy, Học viện Khoa học xã hội,
2017…..
Các công trình, đề tài trên đã làm sáng tỏ các vấn đề về lý luận chung
của tội trộm cắp tài sản, các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản…. Tuy
nhiên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu việc áp dụng pháp luật hình
sự đối với tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì vậy, thông qua luận văn này tác giả muốn đi sâu nghiên cứu thực tiễn tội
trộm cắp tài sản, những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật
hình sự đối với tội trộm cắp tài sản. Bên cạnh đó, kế thừa các công trình của
các tác giả trước để đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện và áp
dụng đúng các quy định pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản.
3.

Mục đích và nhiệm vụ

3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn làm rõ những
vấn đề chung về áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản trên địa
bàn Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, đề xuất các giải pháp đảm bảo việc áp
dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội
trộm cắp tài sản nói riêng tại Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề áp dụng pháp luật hình sự
đối với tội trộm cắp tài sản n trên địa bàn Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
-

Về thời gian, đề tải sử dụng số liệu nghiên cứu trong vòng năm năm

(05 năm) từ năm 2014 đến năm 2018, bao gồm số liệu thống kê xét xử sơ
thẩm hình sự cấp quận và các bản án hình sự sơ thẩm trên địa bàn Quận 6,
Thành phố Hồ Chí Minh.
-

Về cơ sở pháp lý, đề tài đề cập đến tội trộm cắp tài sản quy định tại

chương XIV điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
-

Về không gian, Đề tài luận văn được thực hiện trên địa bàn Quận 6,

Thành phố Hồ Chí Minh
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
với phép duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và

4


Nhà nước ta về Nhà nước pháp luật, về chính sách hình sự, về cải cách tư

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
1.1. Các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản và đặc điểm của áp
dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản
1.1.1. Các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài
sản * Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan: trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của
người khác bằng thủ đoạn lén lút, lợi dụng sơ hở của người bị hai. Hành vi lén
lút của tội phạm là lén lút đối với việc chiếm đoạt tài sản, có thể tội phạm thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trước mặt nhiều người nhưng người đó không
biết được đó là hành vi trộm cắp tài sản (Ví dụ như: lợi dụng lúc cả nhà anh B
đi về quê, không có người ở nhà, A cạy cửa nhà anh B, ngang nhiên vào nhà
lấy tài sản trước sự chứng kiến của nhiều người nhưng họ không hay biết A
đang chiếm đoạt tài sản bất hợp pháp của nhà người khác mà đều nghĩ
A

là người thân của gia đình anh B). Cũng có thể người phạm tội thực hiện

hành vi lén lút với người bị hại nhưng công khai với người khác (như: hành vi
móc túi nơi công cộng)
Hậu quả: hậu quả của tội phạm này là gây thiệt hại về tài sản cho người
bị hại. Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội trộm cắp tài sản. Nếu một người
có ý định trộm cắp tài sản của người khác nhưng chưa thực hiện được hành vi
chiếm đoạt tài sản mà bị phát hiện thì chưa cấu thành tội trộm cắp tài sản theo
Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, người
phạm tội đã có hành vi chuyển tài sản ra khỏi vị trí ban đầu của nó thì sẽ bị
truy tố về tội trộm cắp tài sản dù mục đích chiếm đoạt tài sản có đạt được hay
không (Ví dụ: Y lén vào nhà A trộm cắp tài sản, nhưng chưa kịp đem số tài
sản ra khỏi nhà A thì bị phát hiện. Trường hợp này Y đã phạm tội



7


sự về tội trộm cắp tài sản theo khoản 3, 4 Điều 173 Bộ luật hình sự; đối với
người từ đủ 16 tuổi trở lên thì phải chịu trách nhiệm hình sự đối với cả những
hành vi thuộc khoản 1,2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
1.1.2. Đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp
tài sản
Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản có các đặc điểm
sau:
Thứ nhất, là một dạng đặc biệt của áp dụng pháp luật, khi nhà nước áp
dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất đối với người phạm
tội.
Áp dụng pháp luật là hình thức đặc thù luôn có sự tham gia của Nhà
nước, thông qua các cơ quan hoặc người có thẩm quyền. ADPL là hình thức
thực hiện pháp luật diễn ra trong hoạt động hành pháp và tư pháp của Nhà
nước.
Áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể
bị ADPL. Sự áp dụng này có tính bắt buộc đối với chủ thể bị ADPL, được
đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế nhà nước. Ví dụ công dân B đủ dấu
hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS năm 2015 (được sửa
đổi bổ sung năm 2017) thì thẩm phán phải áp dụng hình phạt tương xứng
được quy định tại Điều luật này, không được phép xử cao hơn hay thấp hơn.
Thứ hai, là sự điều chỉnh cá biệt các quan hệ xã hội khi có hành vi
trộm cắp tài sản xảy ra.
Đối tượng của hoạt động ADPL là những quan hệ cần đến sự điều chỉnh
cá biệt trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật. Bằng
hoạt động ADPL những quy phạm pháp luật nhất định được cá biệt hoá vào

TTHS đối với loại tội này nếu như xem xét hoạt động áp dụng pháp luật hình

9


sự là một quá trình từ khi bắt đầu đến khi ra được văn bản áp dụng pháp luật
hình sự.
1.2. Nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp
tài sản
1.2.1. Định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản
1.2.1.1. Khái niệm, đặc điểm định tội danh tội trộm cắp tài sản
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh “Định tội danh là việc xác định và ghi
nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi
phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được
quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [66, tr. 9-10].
Điều 173 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội
phạm có tên tội danh là “Tội trộm cắp tài sản”, do đó dựa trên khái niệm định
tội danh mà GS.TS Võ Khánh Vinh đã xây dựng, chúng ta có thể đưa ra khái
niệm định tội danh tội trộm cắp tài sản như sau:
Định tội danh tội trộm cắp tài sản là việc xác định và ghi nhận về mặt
pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể
đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định tại
Điều 173 BLHS.
- Đặc điểm định tội danh tội trộm cắp tài sản
Định tội danh tội trộm cắp tài sản là một trường hợp định tội danh cụ
thể, vì vậy nó có đặc điểm của định tội danh: [66, tr.10]
Thứ nhất, định tội danh tội trộm cắp tài sản là một quá trình lôgic nhất
định, là hoạt động xác nhận và ghi nhận sự phù hợp của trường hợp phạm tội
cụ thể với các dấu hiệu của cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại
Điều 173 BLHS.

sung năm 2017).
Cuối cùng, căn cứ vào tính chất đặc biệt của tội phạm, định tội danh tội
trộm cắp tài sản được chia thành định danh tội trộm cắp tài sản trong ba

11


trường hợp: trường hợp hành vi phạm tội chưa hoàn thành, trường hợp đồng
phạm và trường hợp có nhiều tội phạm.
Định tội danh tội trộm cắp tài sản trong trường hợp đồng phạm là định
tội danh trong trường hợp hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
Định tội danh tội trộm cắp tài sản trong trường hợp có nhiều tội phạm
là trường hợp định tội danh trong trường hợp người phạm tội có nhiều hành vi
phạm tội nhưng trong đó có hành vi trộm cắp tài sản.
Định tội danh tội trộm cắp tài sản trong trường hợp hành vi phạm tội
chưa hoàn thành là định tội danh trong trường hợp chuẩn bị phạm tội trộm cắp
tài sản và phạm tội chưa đạt trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, theo Điều 14 BLHS
về chuẩn bị phạm tội thì chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản không phải chịu
TNHS, vì vậy, định tội danh tội trộm cắp tài sản trong trường hợp hành vi
phạm tội chưa hành thành thì chỉ gồm trường hợp hành vi phạm tội chưa đạt.
1.2.1.3. Ý nghĩa định tội danh tội trộm cắp tài sản
-

Đối với hoạt động định tội danh đúng

Định tội danh đúng có ý nghĩa chính trị - xã hội, đạo đức và pháp luật
rất lquan trọng, là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa
trách nhiệm hình sự.
Định tội danh đúng sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện các nguyên tắc tiến bộ
được thừa nhận trong Nhà nước pháp quyền như: nguyên tắc pháp chế, trách

hình phạt (đối với loại hình phạt có các mức độ khác nhau) trong phạm vi
luật định để áp dụng đối với chủ thể chịu TNHS”.
Quyết định hình phạt đối với chủ thể chịu TNHS là sự lựa chọn một
trong số các hình phạt chính và xác định mức hình phạt đối với loại hình phạt
có mức độ khác nhau trong khung hình phạt được quy định. Nếu chế tài được
quy định chỉ có một loại hình phạt chính và có các mức độ khác nhau thì
quyết định hình phạt trong trường hợp này là xác định mức hình phạt trong
phạm vi khung hình phạt được quy định.
Quyết định hình phạt bổ sung có nội dung tương tự như quyết định hình
phạt chính. Đó là việc lựa chọn loại hình phạt bổ sung, có thể là một

13


hoặc nhiều loại nếu luật quy định có thể áp dụng nhiều loại hình phạt bổ sung
và xác định mức hình phạt trong khung quy định để áp dụng kèm theo hình
phạt chính.
Như vậy, quyết định hình phạt bao gồm quyết định hình phạt chính và
quyết định hình phạt bổ sung. Quyết định hình phạt theo nghĩa này được coi
là theo nghĩa hẹp.
Quyết định hình phạt cũng có thể hiểu theo các nghĩa rộng khác nhau
như: Quyết định hình phạt là quyết định hình phạt chính, quyết định hình phạt
bổ sung và quyết định biện pháp tư pháp. Hay quyết định hình phạt là quyết
định biện pháp xử lý đối với người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội.
Khái niệm quyết định hình phạt có thể được hiểu theo nhiều nghĩa nhưng
quyết định hình phạt theo nghĩa hẹp vẫn được đa số các tác giả ghi nhận trong
các sách, báo pháp lý.
Trên cơ sở đó, có thể đưa ra khái niệm về quyết định hình phạt đối với
tội trộm cắp tài sản như sau: “Quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài
sản là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt với mức hình phạt cụ thể trong

dựng chủ yếu dựa trên tính chất nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm.
Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản phụ
thuộc vào các yếu tố: tính chất của hành vi phạm tội như thủ đoạn, công cụ,
phương tiện, hình thức thực hiện; tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
trộm cắp tài sản đã thực hiện và mức độ của hậu quả do tội trộm cắp tài sản
gây ra; mức độ lỗi như tính chất của động cơ, quyết tâm phạm tộ, nguyên
nhân và điều kiện phạm tội; hoàn cảnh phạm tội như hoàn cảnh kinh tế, chính
trị, xã hội của địa điểm và thời gian xây ra hành vi phạm tội; những tình tiết
và nhân thân có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Thứ ba, căn cứ vào nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản.
Đây là nguyên tắc thể hiện nguyên tắc cá thể hoá hình phạt trong luật
hình Việt Nam. Nguyên tắc này biểu hiện nhân đạo, công bằng và cá thể hoá

15


được thể hiện rõ trong luật hình sự Việt Nam, được thực tiễn khẳng định, có ý
nghĩa to lớn trong giáo dục, phòng ngừa tội phạm.
Nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản là tổng hợp những đặc điểm
riêng của người phạm tội như: phạm tội lần đầu hay đã có tiền án, tiền sự,
phạm tội có tính chất chuyên nghiệp hay không; là người đủ 18 tuổi hay chưa
đủ 18 tuổi; có thái độ hối cải hay tự thú không; là người có hoàn cảnh đặc biệt
hay không…. Nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản được coi là
căn cứ để quyết định hình phạt nhằm đạt được mục đích trừng trị và giáo dục
người phạm tội.
Cuối cùng là căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS
Luật hình sự Việt Nam coi các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS là
căn cứ quyết định hình phạt độc lập để quyết định hình phạt. Các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ TNHS được xác định tại Điều 51 và Điều 52 là có tính chất
chung và chỉ được áp dụng đối với tội phạm cụ thể khi tình tiết đó chưa được

Khi áp dụng các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét toàn bộ các tình
tiết của sự việc, phân tích, chứng minh các sự kiện có liên quan. Khi điều tra
xem xét cần đảm bảo tính công bằng, khách quan và các đặc trưng pháp lý
của vụ việc. Tuân thủ tất các các qui định mang tính chất bắt buộc gắn với
mỗi loại vụ việc. Yêu cầu nghiên cứu khách quan, toàn diện và dầy đủ tất cả
các tình tiết liên quan của vụ việc để đưa ra quyết định đúng đắn nhất. Ví dụ
như điều tra vụ trộm cắp tài sản phải tìm hiểu rõ hiện trường, lời khai, người
làm chứng, tang vật, trị giá tài sản…. để xử lý đúng người, đúng tội.
Giai đoạn thứ hai, lựa chọn quy phạm pháp luật cần áp dụng.
Trên cơ sở của gia đoạn đầu tiên, cần tìm kiếm các quy phạm pháp luật
tương ứng để áp dụng. Phải xác định vụ việc do ngành nào điều chỉnh, sau đó
lựa chọn quy phạm pháp luật thích ứng với vụ việc. Quy phạm pháp luật đang
có hiệu lực; tuyệt đối không được mâu thuẫn, chồng chéo với các văn bản quy
phạm pháp luật khác. Xác định tính chân chính của văn bản quy phạm pháp
luật chứa đựng qui phạm pháp luật áp dụng, đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý,
có thẩm quyền. Trong trường hợp có nhiều văn bản giải quyết cùng vụ việc thì
ta chọn văn bản mới nhất; nếu nhiều cơ quan ra văn bản thì ta sử dụng văn

17


bản của cơ quan cấp trên cao hơn. Đối với tội trộm cắp tài sản do Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổ, bổ sung năm 2017) điều chỉnh và là văn bản
quy phạm mới nhất để áp dụng đối với tội này.
Giai đoạn thứ ba, làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp
luật.
Mục đích đảm bảo tính đúng đắn của pháp luật. Yêu cầu là nhận thức
đúng đắn nội dung tư tưởng của quy phạm pháp luật đưa ra áp dụng. Đây là
quá trình vận dụng tổng hợp các tri thức chính trị, kinh tế xã hội, đặc biệt là
tri thức pháp lý.

năng quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sự của cơ quan (người) tiến
hành có thẩm quyền đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm trực tiếp chứng minh
hành vi phạm tội và người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm thông qua các
chứng cứ đã thu thập được, đồng thời cũng là một trong những phương tiện cơ
bản để thực hiện tốt nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm trong thực tiễn
áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm; Mặt khác, điều tra vụ
án hình sự cũng góp phần loại trừ một thái cực khác trong hoạt động tư pháp
hình sự, ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định khởi tố bị can một
cách không thận trọng, thiếu chính xác và do vậy, có thể sẽ kéo một loạt hậu
quả tiêu cực tiếp theo xảy ra trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự ở các
giai đoạn tố tụng hình sự; Cuối cùng, điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn
tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các
quyền và tự do của công dân trong các giai đoạn trước khi khởi tố của Viện
kiểm sát và xét xử của Tòa án, cùng với các giai đoạn tố tụng hình sự khác
góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn
xã hội.
- Vai trò của viện kiểm sát:
Một trong những chức năng của VKS được quy định là “thực hành
quyền công tố”, gồm các hoạt động làm rõ sự thật của vụ án, xác định tội

19


phạm, người phạm tội, quyết định việc truy tố, buộc tội người phạm tội theo
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Thực hành quyền công tố được thực
hiện từ khi có thông tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử nhằm bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện, xử lý kịp thời,
nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô
tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội
Vai trò của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án thể hiện qua việc đề ra

tài sản, được hiểu là hành vi lợi dụng hoàn cảnh, điều kiện không có khả năng
ngăn cản của chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản để chiếm đoạt tài
sản một cách công khai. Những điểm khác nhau cơ bản giữa tội trộm cắp tài
sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản như sau:
Thứ nhất, điểm khác biệt nhất là hành vi khách quan của tội phạm:
hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài
sản của người khác, còn hành vi khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài
sản là hành vi công khai, ngang nhiên chiếm đoạt tài sản ngay trước sự chứng
kiến của chủ tài sản.
Thứ hai, về nhận thức chủ quan của chủ tài sản: ở tội trộm cắp tài sản,
hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng khả năng không cho
phép chủ tài sản biết khi xảy ra hành vi phạm tội, trước khi xảy ra hành vi
phạm tội thì tài sản vẫn đang trong sự kiểm soát của chủ tài sản nhưng khi xảy
ra hành vi phạm tội chủ tài sản không hề biết tài sản của mình bị chiếm đoạt,
chỉ sau khi mất tài sản chủ tài sản mới biết; còn ở tội công nhiên chiếm đoạt
tài sản, khi có hành vi chiếm đoạt tài sản chủ tài sản vẫn nhận biết được có
hành vi chiếm đoạt nhưng do họ không có điều kiện bảo vệ tài sản của mình
nên người phạm tội mới ngang nhiên chiếm đoạt tài sản mà không cần dùng
bất kì thủ đoạn nào để đối phó với chủ tài sản.
1.4.2. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản
Theo quy định tại khoản 1 Điều 170 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ
sung năm 2017 thì tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực
hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.

21


Điểm khác nhau cơ bản giữa tội trộm cắp tài sản với Tội cưỡng đoạt tài sản là:
Thứ nhất, về mặt khách quan, hành vi khách quan của tội trộm cắp tài
sản là hành vi là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác còn tội

sơ hở của người bị hại, hay trường hợp người bị hại không đủ khả năng bảo
vệ tài sản (như trẻ em, người già, phụ nữ…) để giật lấy tài sản của họ và tẩu
thoát. Đặc trưng của hành vi chiếm đoạt của tội phạm này là được thực hiện
một cách bất ngờ và nhanh chóng làm cho người bị hại không kịp ứng phó.
Đồng thời ngay sau khi đoạt được tài sản từ tay người bị hại, người phạm tội
cũng nhanh chóng tẩu thoát nhằm tránh khỏi việc truy đuổi của người bị hại.
Ngoài ra, trong cấu thành tội phạm của tội trộm cắp tài sản thì thiệt hại về tài
sản được quy định là dấu hiệu bắt buộc và BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ
sung năm 2017 cũng quy định mức trị giá tối thiểu để làm cơ sở truy cứu
TNHS “người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng
đến dưới 50.000.000 đồng….”; còn ở tội cướp giật tài sản thì không quy định
mức giá trị tài sản tối thiểu mà quy định bởi tính chất nguy hiểm cao của tội
phạm, người phạm tội chỉ cần có hành vi cướp giật là phạm tội, không cần
biết tài sản có giá trị như thế nào.
Thứ hai, về khách thể tội trộm cắp tài sản luôn luôn có sự xâm phạm
đến sở hữu tài sản nhưng không có sự xâm phạm đến sức khỏe và tính mạng
của nạn nhân; còn khách thể của tội cướp giật tài sản có sự xâm phạm đến
quyền sở hữu nhưng có thể có hoặc không xâm phạm đến sức khỏe hoặc tính
mạng của nạn nhân.
Kết luận chương 1
Trong phạm vi chương 1 của Luận văn, trên cơ sở nghiên cứu các văn
bản pháp luật, tác giả đã làm rõ các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản và
các đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản. Bên
cạnh đó, đưa ra được khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của định tội danh tội trộm

23


cắp tài sản, song song với định tội danh tội trộm cắp tài sản đưa ra được các
căn cứ quyết hình hình phạt tương ứng với định tội danh tội trộm cắp tài sản.

Năm

Tội xâm phạm sở hữu

Tội trộm cắp tài sản

Số vụ

Số bị cáo

Số vụ

Số bị cáo

(1)

(2)

(3)

(4)

2014

103

120

47


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status