VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LINH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỘM
CẮP TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LINH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI
SẢN TỪ THỰC TIỄN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ TƯỜNG VY
HÀ NỘI, 2020
2015. ................................................................................................................ 21
1.4. Các yếu tố tác động đến áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm
cắp tài sản ....................................................................................................... 22
1.4.1. Yếu tố pháp luật .................................................................................... 22
1.4.2. Chất lượng của cán bộ áp dụng pháp luật hình sự ............................... 25
1.4.3. Sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan .................................. 25
1.4.4. Vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam, Mặt trận tổ quốc, cơ quan thông
tin đại chúng .................................................................................................... 25
Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI
TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN PHÚ .................... 28
2.1. Khái quát tình hình áp dụng pháp luật đối với tội trộm cắp tài sản
trên địa bàn quận Tân Phú..........................................................................28
2.1.1. Khái quát về quận Tân Phú...................................................................28
2.1.2. Tình hình áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản trên
địa bàn quận Tân Phú.....................................................................................28
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản......36
2.2.1. Thực tiễn định tội danh.........................................................................36
2.3. Quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn quận
Tân Phú............................................................................................................................................... 40
2.3. Đánh giá chung về thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội trộm
cắp tài sản trên địa bàn quận Tân Phú.......................................................48
2.3.1. Những mặt làm được:..........................................................................48
2.3.2. Những mặt thiếu sót, hạn chế:..............................................................49
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong định tội danh và quyết định hình
phạt về tội Trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Tân Phú................................51
Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT
VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN PHÚ......56
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
QĐHP
: Quyết định hình phạt
ADPL
: Áp dụng pháp luật
CTTP
: Cấu thành tội phạm
ADPL
: Áp dụng pháp luật
ADPLHS
: Áp dụng pháp luật hình sự
VKS
: Viện kiểm sát
CQĐT
của Nhà nước, tổ chức và công dân đồng thời gây mất an ninh trật tự.
Theo thống kê từ năm 2015 đến năm 2019, tội trộm cắp tài sản trên địa
bàn quận Tân Phú ngày càng diễn biến phức tạp về phương thức, thủ đoạn, mức
độ liều lĩnh, táo bạo và độ tuổi người phạm tội ngày càng trẻ hơn…, làm giảm
lòng tin của quần chúng đối với pháp luật và gây ra tâm lý bất an trong cộng
đồng dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Mặc dù các
cơ quan chức năng đã áp dụng các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, nhất là
việc phát hiện và làm hạn chế các nguyên nhân làm phát sinh tội trộm cắp tài
sản song chưa đem lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó, thực tiễn điều tra, truy tố và
1
xét xử đã cho thấy những bất cập, khó khăn trong việc xác định đối tượng tác
động của tội phạm, một số dấu hiệu định tội, các dấu hiệu định khung tăng
nặng, giảm nhẹ…của những người tiến hành tố tụng còn nhiều hạn chế, có vụ
định tội danh chưa chính xác, quyết định hình phạt ít nhiều còn mang tính chủ
quan. Trong khi đó, việc áp dụng pháp luật hình sự nói chung và áp dụng pháp
luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản vẫn còn nhiều hạn chế nhưng đến nay
vẫn chưa có các văn bản hướng dẫn mới về các tội xâm phạm sở hữu trong đó
có tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 2015 dẫn đến
thực tế áp dụng quy định về các tội này chưa thống nhất giữa các cơ quan tố
tụng.
Để khắc phục những bất cập trong quy định của pháp luật hình sự và đề
xuất các giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự
về tội trộm cắp tài sản tại quận Tân Phú cũng như trên phạm vi cả nước. Học
viên đã lựa chọn đề tài: "Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản
từ thực tiễn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh" làm đề tài Luận văn Thạc
sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
- PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí, Chương VI - Các tội xâm phạm sở hữu,
Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Tập thể tác
giả do GS.TSKH. Lê Cảm chủ biên, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003;
- ThS. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Phần các tội
phạm, Tập II - Các tội xâm phạm sở hữu, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002;
2.3. Nhóm (sách giáo trình, bài viết)
- Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2012), Giáo trình “Luật hình sự Việt NamPhần Các tội phạm”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
- Võ Khánh Vinh (2013), “Lý luận chung về định tội danh”, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội;
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội,
3
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2010;
- Phạm Văn Beo (2010), “Luật hình sự Việt Nam-Quyển 2 (Phần các tội
phạm), Nxb Chính trị Quốc gia, Cần Thơ.
- Dương Tuyết Miên (2007), “Định tội danh và Quyết định hình phạt”
của Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.
- Và các bài viết “Tội danh và việc chuyển hóa các tội phạm trong Bộ
luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa, Tạp chí Luật học, số
6/2004;“Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm sở
hữu” của tác giả Nguyễn Ngọc Anh, Tạp chí Công an nhân dân, số 4/2008;
“Một số vấn đề chú ý khi áp dụng Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT ngày
25/12/2001, hướng dẫn xử lý các tội xâm phạm sở hữu”, của tác giả Nguyễn
Ngọc Anh, Tạp chí Công an nhân dân, số 4/2002…
Qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo trên đã cung cấp cho tác giả một
lượng kiến thức cơ bản về các tội xâm phạm sở hữu nói chung, tội trộm cắp tài
sản nói riêng, đặc biệt là là vấn đề áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội
phạm. Tuy nhiên, do các công trình nghiên cứu trên có thời gian khá lâu, cũng
- Về nội dung nghiên cứu: Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự trải dài
xuyên suốt toàn bộ các giai đoạn tố tụng hình sự từ giai đoạn điều tra, tuy tố,
xét xử đến giai đoạn thi hành án. Tuy nhiên do điều kiện nghiên cứu có giới hạn
nên luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động
áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Trong đó tác giả chỉ
tập trung nghiên cứu hoạt động định tội danh và hoạt động quyết định hình phạt
đối với tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
Đây là hai hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nổi bật nhất và quan trọng nhất
của giai đoạn xét xử sơ thẩm.
- Về thời gian : Luận văn nghiên cứu trong thời gian 05 năm từ năm
2015 đến năm 2019
5
- Về địa bàn : Luận văn nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật hình sự
đối với tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về tội phạm và hình phạt với tội trộm cắp tài sản.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phép duy
vật biện chứng, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về tội phạm, hình phạt,
về cải cách tư pháp, về đấu tranh phòng chống tội phạm; đường lối xử lý các tội
xâm phạm sở hữu nói chung, tội trộm cắp tài sản nói riêng, luận văn sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề
tương ứng như lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, quy nạp, diễn
dịch…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thêm các vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật
DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của áp dụng pháp luật hình sự
đối với tội trộm cắp tài sản
1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật hình sự
Ở bất cứ một hình thức Nhà nước nào thì pháp luật luôn là một công cụ
để đảm bảo cho một xã hội pháp triển ổn định, khi đặt ra những quy phạm pháp
luật, Nhà nước ta mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội,
đáp ứng lợi ích của nhân dân lao động và sự tiến bộ xã hội. Khi các chủ thể thực
hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong đời sống thực tế thì mục đích của áp dụng
pháp luật đã đạt được. Áp dụng pháp luật (ADPL) là một hình thức thực hiện
pháp luật, trong đó nhà nước thông qua cơ quan có thẩm quyền hoặc tổ chức
cho các chủ thể pháp luật thực hiện trong những quy định pháp luật để ra các
quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt một quan hệ pháp
luật. Dựa vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật thì thực hiện pháp luật
bao gồm các hình thức sau:
- Tuân thủ pháp luật: Là việc thực hiện pháp luật, mang tính chất thụ
động và thể hiện dưới dạng "hành vi không hành động" Việc các chủ thể pháp
luật tự kiềm chế là những xử sự thụ động, tự ghép mình vào tập thể, xã hội, đặt
lợi ích quốc gia, lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, lợi
ích của bộ phận cục bộ đồng thời pháp luật cũng quy định mọi tổ chức và công
dân không được thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, không được
xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người khác. Bên cạnh đó, pháp
8
luật cũng bắt buộc mọi tổ chức và công dân phải làm một việc nào đó vì lợi ích
chung và tùy theo hoàn cảnh cụ thể.
- Chấp hành pháp luật: Là hành vi hành động được thực hiện một cách chủ
ADPLHS là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt và có những đặc
điểm chung của các dạng ADPL, đó là:
Thứ nhất, hoạt động ADPLHS là sự tham gia của nhà nước với tư cách là
một tổ chức quyền lực công nên điều này làm cho hoạt động ADPLHS có đặc
điểm là hoạt động mang tính tổ chức-quyền lực và do nhà nước thông qua
những cơ quan có thẩm quyền tiến hành. Cụ thể theo quy định của BLTTH năm
2015 bao gồm các cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Trong
mối tương quan giữa nhà nước-pháp luật và ADPL thì pháp luật là công cụ,
phương tiện để nhà nước thực hiện các chức năng của mình, ngoài ra nhà nước
bằng việc ADPL để thực hiện những mục tiêu mà pháp luật đặt ra, các chủ thể
ADPL có thẩm quyền phải nhân danh ý chí của nhà nước mà không được nhân
danh ý chí chủ quan của mình. Trong mối quan hệ này, pháp luật mang tính
khách quan ngay cả đối với những chủ thể có thẩm quyền áp dụng nó thì quyền
của chủ thể ADPLHS bị giới hạn đến mức tối thiểu, họ chỉ có một quyền duy
nhất là phải chuyển hóa một cách chính xác các quy định của pháp luật hình sự
vào từng quan hệ xã hội cụ thể.
Thứ hai, hoạt động ADPLHS điều chỉnh cá biệt, cụ thể các quan hệ xã
hội khi có sự kiện phạm tội do nó là hoạt động giải quyết trực tiếp những
vấn đề thực tế. Nói đến ADPL là nói đến tính cụ thể và ADPLHS cũng như
vậy, chỉ diễn ra trong các trường hợp rất cụ thể, trong những quan hệ pháp
luật rất cụ thể. Khi pháp luật hình sự được vật chất hóa vào đời sống xã hội
thì nó luôn có tính xác định về mặt chủ thể- áp dụng đối với ai, áp dụng
cho quan hệ xã hội nào, áp dụng ở đâu, áp dụng khi nào, áp dụng quy
phạm nào của hệ thống pháp luật hình sự.
10
Th ba, ADPLHS l mt hot ng c tin hnh vi nhng th tc c
quy nh cht ch bi phỏp lut TTHS, ngha l vic ADPLHS khụng th tin
cơ bản, một trong những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật.
Định tội còn là tiền đề, cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp
luật hình sự khác và pháp luật tố tụng hình sự.
Nếu chúng ta hiểu rằng BLHS đánh giá về mặt pháp lý của Nhà
n-ớc đối những hành vi nguy hiểm cho xã hội, việc thực hiện tội phạm
là thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã bị pháp luật hình sự
cấm, thì định tội danh chính là xác định sự phù hợp của hành vi
nguy hiểm cho xã hội đã đ-ợc thực hiện với các dấu hiệu của một cấu
thành tội phạm t-ơng ứng đ-ợc quy định trong pháp luật hình sự.
Hin nay trong khoa hc hỡnh s Vit nam, cú nhiu quan im v khỏi
nim nh ti danh, in hỡnh nh sau:
Theo TS Phm Vn Beo: nh ti danh l vic xỏc nhn v mt phỏp lý
s phự hp gia cỏc du hiu ca hnh vi nguy him cho xó hi c th ó c
thc hin vi cỏc yu t cu thnh ti phm c th tng ng c quy nh
trong B lut hỡnh s [6, tr.5]
Theo GS.TS. Vừ Khỏnh Vinh : nh ti danh l vic xỏc nh v ghi
nhn v s phỏp lý phự hp, chớnh xỏc gia cỏc du hiu ca hnh vi phm ti
c th ó c thc hin vi cỏc du hiu ca cu thnh ti phm ó c quy
nh trong quy phm phỏp lut hỡnh s [39, tr. 9-10]
TS. Dng Tuyt Miờn cng a ra quan im ca mỡnh : nh ti danh
l hot ng thc tin ca cỏc c quan tin hnh t tng (C quan iu tra,
Vin kim sỏt, Tũa ỏn) v mt s c quan khỏc cú thm quyn theo quy nh
ca phỏp lut xỏc nh mt ngi cú phm ti hay khụng, nu phm ti thỡ
ú l ti gỡ, theo iu lut no ca BLHS hay núi cỏch khỏc õy l quỏ trỡnh
xỏc nh tờn ti cho hnh vi nguy him ó thc hin [19, tr.9]
12
Trong lĩnh vực pháp luật, định tội danh có nghĩa là lựa chọn một quy
phạm pháp luật mà nó đề cập tới trường hợp cụ thể nào đó, những quy phạm
pháp luật hình sự phần các tội phạm quy định TNHS đối với mỗi hành vi phạm
tội phải dựa trên những nguyên tắc, điều kiện được nêu ra trong các quy phạm
phần chung còn bản thân quy phạm pháp luật phần chung lại không có ý nghĩa
nếu thiếu quy phạm pháp luật phần riêng.
Định tội danh là việc chuyển hóa nội dung quy định về tội phạm của luật
hình sự vào đời sống xã hội thông qua việc giải quyết những vụ án hình sự, từ
khi khởi tố (mở) vụ án cho đến khi ra được bản án (có hiệu lực pháp luật). Đây
là hoạt động được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của TTHS. Trong đó, định tội
danh ở giai đoạn xét xử của Tòa án giữ vị trí trung tâm, có tính chất quyết định,
ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có
liên quan. Do đó, việc định tội danh trong hoạt động xét xử của Toà án có ý
nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý to lớn. Một người được Tòa án xác định là vô
tội có nghĩa là họ được khôi phục toàn bộ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của
mình, kể cả những quyền đã bị hạn chế trong quá trình xét xử và tiền xét xử.
Ngược lại, một người bị Tòa án xác định là có tội có nghĩa là họ sẽ phải chịu
TNHS về tội phạm mà họ đã thực hiện. Như vậy, về mặt chính trị-xã hội, định
tội danh đúng là biểu hiện của thực hiện đúng CSHS của Đảng và Nhà nước
được thể hiện trong công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, loại
trừ khả năng kết án oan người vô tội. Định tội danh không đúng sẽ góp phần
xuyên tạc bức tranh thực tế của tình hình tội phạm, tác động tiêu cực đến việc
soạn thảo và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Định tội danh đúng
là một đảm bảo cho việc làm sáng tỏ một cách có căn cứ khách quan tình trạng,
mức độ và khuynh hướng của tình hình tội phạm cũng như tình hình các loại tội
phạm cụ thể trên các vùng lãnh thổ cũng như trên phạm vi toàn quốc. Về mặt
pháp lý, định tội danh đúng là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình
14
17
thủ các quy định về QĐHP, Hội đồng xét xử phải xem xét một cách khách quan
các mục đích của hình phạt để không coi nhẹ hay nhấn mạnh riêng mục đích
nào. Nếu có bất kỳ vi phạm trong việc xem xét mục đích của hình phạt cũng
dẫn đến việc quyết định hình phạt không chính xác. Cụ thể là việc xem nhẹ mục
đích giáo dục, coi trọng mục đích trừng trị sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt
quá nặng, hình phạt trong trường hợp này sẽ chỉ làm cho người bị kết án thù
ghét pháp luật và các cơ quan bảo vệ pháp luật, nảy sinh tâm lý chống đối và
không có ý thức tự cải tạo, giáo dục. Ngược lại, việc xem nhẹ mục đích trừng
trị, coi thường pháp luật, không tích cực giáo dục, cái tạo mà còn không đủ khả
năng để ngăn ngừa những người khác phạm tội. Khi quyết định một hình phạt
đúng pháp luật, công bằng và hợp lý đối với người phạm tội thì đó sẽ là tiền đề,
là điều kiện cho việc đạt được mục đích của hình phạt, tức là có tác dụng trừng
trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội, ngăn ngừa người đó phạm tội mới và giáo
dục những người khác. Ngược lại, khi Tòa án QĐHP không đúng pháp luật,
không công bằng và không hợp lý thì những mục đích nói trên sẽ không thể đạt
được. Như vậy, việc nhận thức đúng về mục đích của hình phạt là cơ sở đầu tiên
giúp chúng ta nhận thức đúng những căn cứ QĐHP và từ đó Tòa án có thể quyết
định một hình phạt đúng đắn, công bằng và hợp lý đối với người phạm tội. Nếu
đạt được mục đích trừng trị và giáo dục người phạm tội thì đương nhiên hình
phạt cũng phát huy được tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung, góp phần hình
thành ý thức tự giác tuân thủ pháp luật, tính tích cực, chủ động tham gia đấu
trnah phòng, chống tội phạm ở các thành viên khác trong xã hội.
1.3. Cơ sở của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản
1.3.1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản
Tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015 chỉ quy
định "Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị..." mà không nêu rõ