VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TÔ THỊ NGỌC PHƯỢNG
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN TÂN PHÚ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TÔ THỊ NGỌC PHƯỢNG
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN TÂN PHÚ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HUỲNH VĂN EM
Thực trạng quyết định hình phạt tại quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí
Minh........................................................................................................................ 41
2.3.
Thực trạng miễn hình phạt và giảm mức hình phạt đã tuyên tại quận
Tân
Phú, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2017......................................49
CHƯƠNG 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG HÌNH PHẠT
ĐÚNG TẠI QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .. 54
3.1.....Yêu cầu bảo đảm áp dụng hình phạt đúng tại quận Tân Phú, thành phố Hồ
Chí Minh......................................................................................................54
3.2.
Các giải pháp bảo đảm áp dụng hình phạt đúng tại quận Tân Phú,
thành
phố Hồ Chí Minh....................................................................................................60
KẾT LUẬN...........................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCT
BLHS
BLTTHS
: Bộ Chính trị
KSĐT
: Kiểm sát điều tra
KSV
: Kiểm sát viên
KSXX
: Kiểm sát xét xử
NN
: Nhà Nước
PL
: Pháp luật
TANDTC
: Toà án nhân dân tối cao
THQCT
TP
: Thực hành quyền công tố
: Thẩm phán
một giai đoạn chuyển tiếp sau điều tra, truy tố; kết thúc việc xét xử hình sự Tòa án sẽ
nhân danh Nhà nước để tuyên án, kết tội đối với người vi phạm pháp luật hình sự và
áp dụng hình phạt đối với người phạm tội.
Trong khoa học pháp luật hình sự thì hình phạt là trách nhiệm pháp lý mà
người phạm tội phải gánh chịu đối với những hành vi phạm tội, tương xứng với tính
chất, mức độ và hậu quả tội phạm mà mình gây ra, thể hiện sự lên án và trừng trị của
Nhà nước đối với người phạm tội. Cho nên trong hoạt động xét xử hình sự luôn đòi
hỏi Tòa án phải áp dụng đúng các chế định (chế tài) về hình phạt; áp dụng đúng hình
phạt sẽ góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền lợi hợp
pháp, chính đáng của người phạm tội và người bị tội phạm xâm hại. Tạo điều kiện để
người phạm tội sớm có cơ hội sửa chữa, khắc phục lỗi lầm của bản thân. Từ năm
2013 đến năm 2017 mặc dù trong công tác xét xử án hình sự các Thẩm phán TAND
quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh về cơ bản đã áp dụng đúng, đầy đủ những
quy định của pháp luật hình sự về chế tài hình phạt. Nhưng hoạt động áp dụng hình
phạt trong XXST các VAHS của TAND quận Tân Phú vẫn còn những tồn tại, hạn
chế, đó là: Áp dụng loại hình phạt chưa phù hợp với tính chất, mức độ, nhân thân của
người phạm tội; Áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
không đúng dẫn đến áp dụng loại hình phạt không phù hợp hoặc xử quá nhẹ hay quá
nặng; Cho hưởng án treo không phù hợp hoặc không đủ điều kiện; xử dưới khung
1
hình phạt không đúng quy định của pháp luật; quyết định hình phạt đối với người
chưa đủ 18 tuổi phạm tội không đúng; quyết định hình phạt bổ sung còn tùy tiện,
chưa phù hợp với thực tế...
Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động áp
dụng hình phạt tại TAND quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan
trọng trong hoạt động áp dụng và xây dựng pháp luật. Một mặt, góp phần làm phong
phú và hoàn thiện lý luận về áp dụng hình phạt, mặt khác góp phần nâng cao hiệu
Thông qua việc làm rõ những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt, nội dung
của các quy định của pháp luật hình sự về áp dụng hình phạt và thực tiễn áp dụng
hình phạt tại quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn đề xuất các giải pháp
bảo đảm áp dụng hình phạt đúng tại địa bàn nói trên trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ:
- Phân tích những vấn đề lý luận, về áp dụng hình phạt của TAND, trong đó
tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, chủ thể, nội dung và hình thức áp dụng hình
phạt tại phiên tòa XXHS; những vấn đề chung về việc áp dụng hình phạt tại TAND
quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
- Phân tích các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt thuộc thẩm
quyền áp dụng của Tòa án nhân dân cấp huyện.
- Phân tích đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt trong tại quận Tân Phú,
thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2013 - 2017.
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt tại Tòa án nhân dân
quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật hình sự,
thực tiễn áp dụng hình phạt tại địa bàn quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh để
nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài luận văn được nghiên cứu dưới gốc độ chuyên ngành Luật hình sự và
Tố tụng hình sự.
- Luận văn tập trung nghiên cứu các hoạt động áp dụng hình phạt như quyết
định hình phạt (các trường hợp thông thường), miễn hình phạt, giảm hình phạt đã
tiễn trong việc áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân, luận văn đã nêu lên những kết
quả đã đạt được và những khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng các quy phạm
pháp luật hình sự về hình phạt tại Tòa án nhân dân; những tồn tại trong công tác tổ
chức của Toà án nhân dân. Từ đó đưa ra những quan điểm, đề xuất hướng giải quyết
sao cho phù hợp với việc áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân; đồng thời hạn chế
phần nào những sai lầm, khuyết điểm của cơ quan Tòa án nhân dân khi áp dụng hình
phạt đối với người phạm tội.
- Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành
cho không chỉ các nhà lập pháp mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng
dạy pháp luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những
kiến thức chuyên sâu cho Kiểm sát viên và Thẩm phán đang công tác tại các cơ quan:
Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân trong quá trình áp dụng hình phạt có căn cứ và
đúng pháp luật.
- Những giải pháp luận văn đưa ra có giá trị tham khảo cho các cơ quan, tổ
chức trong xây dựng, phát triển hoàn thiện pháp luật bảo đảm thực hiện chính sách
pháp luật đối với người vi phạm pháp luật hình sự hiện nay trong điều kiện đổi mới,
phát triển ổn định, bền vững và hội nhập quốc tế.
6
- Luận văn có giá trị tham khảo cho việc hoạch định chính sách và pháp luật
về hoàn thiện pháp luật bảo đảm thực hiện nguyên tắc, chính sách pháp luật trong
việc áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 9 tiết.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của áp dụng hình phạt
Chương 2: Thực tiễn áp dụng hình phạt tại quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017
Có thể hiểu áp dụng hình phạt là áp dụng PLHS để xử lý người, pháp nhân
thương mại thực hiện hành vi vi phạm PLHS, trong những tội phạm được luật hình
sự quy định phải chịu hình phạt.
Áp dụng hình phạt là một hoạt động pháp luật của Tòa án trong giai đoạn xét
xử các VAHS. Áp dụng hình phạt là một hình thức thực hiện pháp luật hình sự, “
trong đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức
cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn
cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định áp dụng trong những trường hợp
cụ thể của đời sống xã hội ” [41, tr. 500].
Dưới góc độ lý luận chung về áp dụng pháp luật, áp dụng hình phạt là một
hình thức thực hiện PL hình sự là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, được
thể hiện ở chỗ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo quy định của PL
hình sự và người thực hiện là những người thuộc các cơ quan nhà nước đó.
Việc áp dụng hình phạt và ra văn bản áp dụng hình phạt phải hoàn toàn theo
quy định của pháp luật hình sự mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ
thể áp dụng pháp luật.
Việc xét xử các vụ án nói chung và các vụ án hình sự nói riêng phải được tiến
hành tuân thủ các trình tự, thủ tục như thụ lý hồ sơ; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ
biện pháp ngăn chặn; nghiên cứu hồ sơ để chuẩn bị xét xử; quyết định đưa vụ án ra
xét xử; giao các quyết định của Tòa án; triệu tập những người tham gia tố tụng đến
phiên tòa; tổ chức mở phiên tòa; điều khiển việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; tiến
hành nghị án và ra quyết định, bản án của Tòa án theo quy định của pháp luật.
Quá trình xét xử phải tuân thủ các nguyên tắc của tố tụng hình sự: Nguyên tắc
khi xét xử TP và HTND độc lập và chỉ tuân theo PL; nguyên tắc mọi công dân đều
bình đẳng trước PL; nguyên tắc xét xử công khai; nguyên tắc xét xử tập thể và quyết
định theo đa số v.v...Chỉ có thông qua hoạt động xét xử, Tòa án mới thực hiện hoạt
động áp dụng hình phạt, đưa ra những bản án, quyết định tuyên bố một người có tội
hoặc không có tội và áp dụng biện pháp trừng trị hay khôi phục quyền lợi cho họ
1.1.2.
Đặc điểm của áp dụng hình phạt
Ỉ.Ỉ.2.Ỉ. Ảp dụng hình phạt trong xét xử các vụ án hình sự là hoạt động nhân
danh quyền lực Nhà nước do Tòa án tiến hành mà trực tiếp là hội đồng xét xử.
- Quyền lực Nhà nước trong áp dụng hình phạt của Tòa án, nghĩa là Tòa án là
chủ thể được quyền áp dụng hình phạt vì: Tòa án là cơ quan được thành lập theo quy
định của Hiến pháp, hoạt động mang tính đặc thù theo một trình tự pháp lý chặt chẽ;
Tòa án thực hiện quyền lực nhà nước thông qua việc tổ chức các hoạt động giải
quyết án hình sự. Chủ thể áp dụng hình phạt t rong hoạt động giải quyết án hình sự là
Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán và HĐXX. Các Điều 44, 45, 46 BLTTHS 2015
(các Điều 38, 39, 40 BLTTHS 2003) đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong quá
trình xét xử vụ án hình sự. Trong đó, có thể thấy chủ thể trực tiếp áp dụng pháp luật
là HĐXX đối với vụ án thông thường hoặc Thẩm phán đối với vụ án theo thủ tục rút
gọn trong quá trình được phân công xét xử một vụ án [27].
Hình phạt chỉ do Tòa án nhân danh Nhà nước quyết định trong phiên tòa xét
xử với đầy đủ thành phần của HĐXX bằng việc tuyên một bản án cụ thể, còn các
biện pháp cưỡng chế khác do các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội hay người
có chức vụ, quyền hạn có thẩm quyền áp dụng bằng việc đưa ra một quy định cụ thể
[41, tr.347].
Quá trình giải quyết vụ án hình sự bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau và do
nhiều cơ quan Nhà nước tiến hành (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án),
trong đó hoạt động áp dụng hình phạt của Tòa án là một khâu đặc biệt quan trọng thể
hiện kết quả tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.
Tòa án là cơ quan đưa ra phán quyết cuối cùng để xác định tội phạm và hình phạt
theo quy định của pháp luật.
- Xét xử là chức năng của TAND, hoạt động xét xử theo quy định tại
BLTTHS bao gồm giai đoạn chuẩn bị xét xử và phiên tòa hình sự. Nếu Tòa án vi
phạm các thủ tục xét xử do pháp luật quy định thì bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng, văn bản áp dụng pháp luật do Tòa án ban hành sẽ không được công nhận
và sẽ bị Tòa án cấp trên hủy bỏ. Trong quá trình áp dụng hình phạt, Tòa án phải tuân
thủ triệt để các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật hình sự. Việc áp
dụng đúng các quy định của pháp luật giúp cho các quyền và nghĩa vụ của công dân
được bảo đảm thực hiện một cách nghiêm chỉnh; các bước tiến hành tố tụng được
chính xác, khách quan; các bản án, quyết định áp dụng hình phạt của Tòa án bảo đảm
đúng pháp luật.
1.1.2.4. Kết quả áp dụng hình phạt khi đã có hiệu lực pháp luật, có tính bắt
buộc thực hiện, được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước
Điều 28 BLTTHH 2015 (Điều 23 BLTTHS 2003) quy định về bảo đảm hiệu
lực của bản án, quyết định của Tòa án:
“1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được cơ
quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm
chỉnh chấp hành.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án’’. [27]
Kết quả của áp dụng hình phạt là HĐXX ban hành bản án, quyết định liên
quan đến việc giải quyết vụ án, quyết định hình phạt áp dụng đối với người, pháp
nhân thương mại phạm tội. Khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật
thì có tính bắt buộc thực hiện và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế
của nhà nước thông qua cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
1.1.2.5. Việc áp dụng hình phạt có tính tùy nghi cao
Trong từng vụ án cụ thể, tùy từng nội dung, tính chất, điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể mà chủ thể áp dụng hình phạt phải nghiên cứu, vận dụng để lựa chọn quy phạm,
người thực hiện tội phạm có thể quy định hình phạt nằm trong danh mục nói trên
được quy định trong chế tài của điều luật quy định trách nhiệm hình sự đối với tội
phạm do người đó đã thực hiện. Bởi vậy, khi quyết định hình phạt đối với người
phạm tội cụ thể Tòa án không áp dụng hình phạt chính nào, dù rằng thuộc danh mục
các hình 18 phạt chính, nhưng không được quy định trong điều luật mà người đó
thực hiện (trừ trường hợp chuyển sang một hình phạt khác nhẹ hơn theo quy định tại
Điều 54 BLHS 2015) [25].
ỉ.ỉ.3.2. Ảp dụng hình phạt bổ sung
Khoản 2 Điều 32 BLHS 2015 quy định hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm đảm
nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; Cấm cư trú; Quản chế;
Tước một số quyền công dân; Tịch thu tài sản; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình
phạt chính; Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính. Về nguyên tắc áp dụng
hình phạt bổ sung, khoản 3 Điều 32 BLHS 2015 quy định như sau: “Đối với mỗi tội
phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một
hoặc một số hình phạt bổ sung” [25].
Ở phần các tội phạm của BLHS, hình phạt bổ sung được quy định với hai
cách; 1) Bắt buộc phải áp dụng; và 2) Tùy nghi. Trong trường hợp đối với tội phạm
mà bị cáo đã thực hiện có quy định hình phạt bổ sung là tùy nghi, thì
Tòa án có quyền căn cứ vào các tình tiết cụ thể của vụ án mà quyết định hình phạt bổ
sung đối với họ. Trong trường hợp đối với tội phạm mà bị cáo đã thực hiện không
quy định hình phạt bổ sung, thì Tòa án không được áp dụng hình phạt bổ sung đối
với họ [41, tr.354].
ỉ.ỉ.3.3. Các hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại
Đây là một trong những quy định mới của BLHS 2015, chỉ có hiệu lực thi
hành bắt đầu từ ngày 01.01.2018, cụ thể theo quy định tại Điều 33 BLHS 2015 như
sau:
1. Hình phạt chính bao gồm:
a) Phạt tiền;
vốn bao gồm: Cấm vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư; Cấm
phát hành, chào bán chứng khoán; Cấm huy động vốn khách hàng; Cấm liên doanh,
liên kết trong và ngoài nước; Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản.Tòa án quyết
định áp dụng một hoặc một số hình thức cấm huy động vốn. Thời hạn cấm huy động
vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
c) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.
Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một
hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung [25].
1.1.4.
Mục đích của áp dụng hình phạt
Điều 31 BLHS 2015 (Điều 27 BLHS 1999) quy định về mục đích của hình
phạt như sau: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại
phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo và các quy tắc của cuộc sống, ngăn
ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp
luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm ” [25].
Trong khoa học pháp lý hình sự có rất nhiều các quan điểm khác nhau về các
mục đích của hình phạt: Quan điểm truyền thống coi các mục đích quan trọng hơn cả
của hình phạt là ngăn ngừa riêng và ngăn ngừa chung; Quan điểm nghiêng về trấn áp
hình sự coi mục đích của hình phạt chỉ là trừng trị; Quan điểm nghiêng về đạo đức
coi mục đích của hình phạt chỉ là giáo dục và cải tạo; Quan điểm mềm dẻo coi các
mục đích của hình phạt là cả trừng trị, cải tạo và giáo dục [4, tr.327].
Nhìn chung, tất cả các quan điểm này đều thừa nhận một trong hai hoặc cả
hai mục đích chính của hình phạt là trừng trị và giáo dục người phạm tội. Việc áp
dụng hình phạt phải đảm bảo cho hình phạt đã tuyên đạt được cả hai mục đích này.
Trừng trị và giáo dục là hai mặt có liên quan mật thiết đến nhau khi áp dụng hình
phạt, Tòa án không được đề cao hay coi nhẹ mặt nào. Nếu coi nhẹ mục đích giáo dục
án bằng một bản án kết tội và mức hình phạt tương xứng.
Như vậy, áp dụng hình phạt của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý
người phạm tội. Tòa án là cơ quan trực tiếp nhân danh Nhà nước xử lý người phạm
tội, buộc họ phải chịu trách nhiệm pháp lý bằng một bản án quy kết tội danh và quyết
định hình phạt buộc người phạm tội phải chấp hành. Ngoài ra, áp dụng hình phạt
trong hoạt động xét xử hình sự của Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng trong việc góp