VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LINH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỘM
CẮP TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LINH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI
SẢN TỪ THỰC TIỄN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ TƯỜNG VY
HÀ NỘI, 2020
1.4.2. Chất lượng của cán bộ áp dụng pháp luật hình sự ............................... 25
1.4.3. Sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan .................................. 25
1.4.4. Vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam, Mặt trận tổ quốc, cơ quan thông
tin đại chúng .................................................................................................... 25
Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI
TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN PHÚ .................... 28
2.1. Khái quát tình hình áp dụng pháp luật đối với tội trộm cắp tài sản
trên địa bàn quận Tân Phú .......................................................................... 28
2.1.1. Khái quát về quận Tân Phú................................................................... 28
2.1.2. Tình hình áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản trên
địa bàn quận Tân Phú ..................................................................................... 28
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản .... 36
2.2.1. Thực tiễn định tội danh ......................................................................... 36
2.3. Quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn quận
Tân Phú .......................................................................................................... 40
2.3. Đánh giá chung về thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội trộm
cắp tài sản trên địa bàn quận Tân Phú ....................................................... 48
2.3.1. Những mặt làm được: .......................................................................... 48
2.3.2. Những mặt thiếu sót, hạn chế: .............................................................. 49
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong định tội danh và quyết định hình
phạt về tội Trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Tân Phú ............................... 51
Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT
VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN PHÚ ..... 56
3.1. Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội
trộm cắp tài sản ............................................................................................. 56
3.2. Các giải pháp đảm bảo chất lượng áp dụng đúng pháp luật hình sự
đối với tội trộm cắp tài sản ........................................................................... 60
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật ............................................................................. 61
QĐHP
: Quyết định hình phạt
ADPL
: Áp dụng pháp luật
CTTP
: Cấu thành tội phạm
ADPL
: Áp dụng pháp luật
ADPLHS
: Áp dụng pháp luật hình sự
VKS
: Viện kiểm sát
CQĐT
: Cơ quan điều tra
lòng tin của quần chúng đối với pháp luật và gây ra tâm lý bất an trong cộng
đồng dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Mặc dù các
cơ quan chức năng đã áp dụng các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, nhất là
việc phát hiện và làm hạn chế các nguyên nhân làm phát sinh tội trộm cắp tài
sản song chưa đem lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó, thực tiễn điều tra, truy tố và
1
xét xử đã cho thấy những bất cập, khó khăn trong việc xác định đối tượng tác
động của tội phạm, một số dấu hiệu định tội, các dấu hiệu định khung tăng
nặng, giảm nhẹ…của những người tiến hành tố tụng còn nhiều hạn chế, có vụ
định tội danh chưa chính xác, quyết định hình phạt ít nhiều còn mang tính chủ
quan. Trong khi đó, việc áp dụng pháp luật hình sự nói chung và áp dụng pháp
luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản vẫn còn nhiều hạn chế nhưng đến nay
vẫn chưa có các văn bản hướng dẫn mới về các tội xâm phạm sở hữu trong đó
có tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 2015 dẫn đến
thực tế áp dụng quy định về các tội này chưa thống nhất giữa các cơ quan tố
tụng.
Để khắc phục những bất cập trong quy định của pháp luật hình sự và đề
xuất các giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự
về tội trộm cắp tài sản tại quận Tân Phú cũng như trên phạm vi cả nước. Học
viên đã lựa chọn đề tài: "Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản
từ thực tiễn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh" làm đề tài Luận văn Thạc
sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay ở nước ta, vấn đề áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp
luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản nói riêng luôn là đề tài thu hút sự quan
tâm của các nhà khoa học và có những bài viết có giá trị, có thể kể đến một số
công trình khoa học, bài viết, đề tài sau:
phạm, Tập II - Các tội xâm phạm sở hữu, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002;
2.3. Nhóm (sách giáo trình, bài viết)
- Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2012), Giáo trình “Luật hình sự Việt NamPhần Các tội phạm”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
- Võ Khánh Vinh (2013), “Lý luận chung về định tội danh”, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội;
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội,
3
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2010;
- Phạm Văn Beo (2010), “Luật hình sự Việt Nam-Quyển 2 (Phần các tội
phạm), Nxb Chính trị Quốc gia, Cần Thơ.
- Dương Tuyết Miên (2007), “Định tội danh và Quyết định hình phạt”
của Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.
- Và các bài viết “Tội danh và việc chuyển hóa các tội phạm trong Bộ
luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa, Tạp chí Luật học, số
6/2004;“Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm sở
hữu” của tác giả Nguyễn Ngọc Anh, Tạp chí Công an nhân dân, số 4/2008;
“Một số vấn đề chú ý khi áp dụng Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT ngày
25/12/2001, hướng dẫn xử lý các tội xâm phạm sở hữu”, của tác giả Nguyễn
Ngọc Anh, Tạp chí Công an nhân dân, số 4/2002…
Qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo trên đã cung cấp cho tác giả một
lượng kiến thức cơ bản về các tội xâm phạm sở hữu nói chung, tội trộm cắp tài
sản nói riêng, đặc biệt là là vấn đề áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội
phạm. Tuy nhiên, do các công trình nghiên cứu trên có thời gian khá lâu, cũng
như một số công trình chỉ nghiên cứu một hoặc vài khía cạnh của tội trộm cắp
tài sản nên hiện nay việc nghiên cứu áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm
cắp tài sản mà đặc biệt là trên địa bàn cụ thể như quận Tân Phú thì vẫn còn bỏ
ngỏ.
áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Trong đó tác giả chỉ
tập trung nghiên cứu hoạt động định tội danh và hoạt động quyết định hình phạt
đối với tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
Đây là hai hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nổi bật nhất và quan trọng nhất
của giai đoạn xét xử sơ thẩm.
- Về thời gian : Luận văn nghiên cứu trong thời gian 05 năm từ năm
2015 đến năm 2019
5
- Về địa bàn : Luận văn nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật hình sự
đối với tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về tội phạm và hình phạt với tội trộm cắp tài sản.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phép duy
vật biện chứng, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về tội phạm, hình phạt,
về cải cách tư pháp, về đấu tranh phòng chống tội phạm; đường lối xử lý các tội
xâm phạm sở hữu nói chung, tội trộm cắp tài sản nói riêng, luận văn sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề
tương ứng như lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, quy nạp, diễn
dịch…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thêm các vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật
hình sự, hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài
sản từ thực tiễn quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng đặc biệt
là Tòa án nhân dân quận Tân Phú trong việc định tội danh và quyết định hình
1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật hình sự
Ở bất cứ một hình thức Nhà nước nào thì pháp luật luôn là một công cụ
để đảm bảo cho một xã hội pháp triển ổn định, khi đặt ra những quy phạm pháp
luật, Nhà nước ta mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội,
đáp ứng lợi ích của nhân dân lao động và sự tiến bộ xã hội. Khi các chủ thể
thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong đời sống thực tế thì mục đích của áp
dụng pháp luật đã đạt được. Áp dụng pháp luật (ADPL) là một hình thức thực
hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua cơ quan có thẩm quyền hoặc tổ
chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện trong những quy định pháp luật để ra
các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt một quan hệ pháp
luật. Dựa vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật thì thực hiện pháp
luật bao gồm các hình thức sau:
- Tuân thủ pháp luật: Là việc thực hiện pháp luật, mang tính chất thụ
động và thể hiện dưới dạng "hành vi không hành động" Việc các chủ thể pháp
luật tự kiềm chế là những xử sự thụ động, tự ghép mình vào tập thể, xã hội, đặt
lợi ích quốc gia, lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, lợi
ích của bộ phận cục bộ đồng thời pháp luật cũng quy định mọi tổ chức và công
dân không được thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, không được
xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người khác. Bên cạnh đó, pháp
8
luật cũng bắt buộc mọi tổ chức và công dân phải làm một việc nào đó vì lợi ích
chung và tùy theo hoàn cảnh cụ thể.
- Chấp hành pháp luật: Là hành vi hành động được thực hiện một cách chủ
động và tích cực, các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình với hành
động tích cực, là cơ sở pháp lý để đánh giá thành tích, phẩm chất tốt đẹp và
danh dự của công dân, tổ chức, cán bộ công chức nhà nước.
- Sử dụng pháp luật : Là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các
điểm là hoạt động mang tính tổ chức-quyền lực và do nhà nước thông qua
những cơ quan có thẩm quyền tiến hành. Cụ thể theo quy định của BLTTH năm
2015 bao gồm các cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Trong
mối tương quan giữa nhà nước-pháp luật và ADPL thì pháp luật là công cụ,
phương tiện để nhà nước thực hiện các chức năng của mình, ngoài ra nhà nước
bằng việc ADPL để thực hiện những mục tiêu mà pháp luật đặt ra, các chủ thể
ADPL có thẩm quyền phải nhân danh ý chí của nhà nước mà không được nhân
danh ý chí chủ quan của mình. Trong mối quan hệ này, pháp luật mang tính
khách quan ngay cả đối với những chủ thể có thẩm quyền áp dụng nó thì quyền
của chủ thể ADPLHS bị giới hạn đến mức tối thiểu, họ chỉ có một quyền duy
nhất là phải chuyển hóa một cách chính xác các quy định của pháp luật hình sự
vào từng quan hệ xã hội cụ thể.
Thứ hai, hoạt động ADPLHS điều chỉnh cá biệt, cụ thể các quan hệ
xã hội khi có sự kiện phạm tội do nó là hoạt động giải quyết trực tiếp
những vấn đề thực tế. Nói đến ADPL là nói đến tính cụ thể và ADPLHS
cũng như vậy, chỉ diễn ra trong các trường hợp rất cụ thể, trong những
quan hệ pháp luật rất cụ thể. Khi pháp luật hình sự được vật chất hóa vào
đời sống xã hội thì nó luôn có tính xác định về mặt chủ thể- áp dụng đối
với ai, áp dụng cho quan hệ xã hội nào, áp dụng ở đâu, áp dụng khi nào, áp
dụng quy phạm nào của hệ thống pháp luật hình sự.
10
Th ba, ADPLHS l mt hot ng c tin hnh vi nhng th tc c
quy nh cht ch bi phỏp lut TTHS, ngha l vic ADPLHS khụng th tin
hnh mt cỏch tựy tin m phi c din ra trờn c s, trong nhng iu kin
v theo nhng th tc nht nh do phỏp lut quy nh, ú l th tc t tng
hỡnh s.
Th t, ADPLHS l mt hot ng mang tớnh sỏng to. Tớnh sỏng to
đối những hành vi nguy hiểm cho xã hội, việc thực hiện tội phạm là thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã bị pháp luật hình sự cấm, thì định tội
danh chính là xác định sự phù hợp của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã
đ-ợc thực hiện với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm t-ơng ứng
đ-ợc quy định trong pháp luật hình sự.
Hin nay trong khoa hc hỡnh s Vit nam, cú nhiu quan im v khỏi
nim nh ti danh, in hỡnh nh sau:
Theo TS Phm Vn Beo: nh ti danh l vic xỏc nhn v mt phỏp lý
s phự hp gia cỏc du hiu ca hnh vi nguy him cho xó hi c th ó c
thc hin vi cỏc yu t cu thnh ti phm c th tng ng c quy nh
trong B lut hỡnh s [6, tr.5]
Theo GS.TS. Vừ Khỏnh Vinh : nh ti danh l vic xỏc nh v ghi
nhn v s phỏp lý phự hp, chớnh xỏc gia cỏc du hiu ca hnh vi phm ti
c th ó c thc hin vi cỏc du hiu ca cu thnh ti phm ó c quy
nh trong quy phm phỏp lut hỡnh s [39, tr. 9-10]
TS. Dng Tuyt Miờn cng a ra quan im ca mỡnh : nh ti danh
l hot ng thc tin ca cỏc c quan tin hnh t tng (C quan iu tra,
Vin kim sỏt, Tũa ỏn) v mt s c quan khỏc cú thm quyn theo quy nh
ca phỏp lut xỏc nh mt ngi cú phm ti hay khụng, nu phm ti thỡ
ú l ti gỡ, theo iu lut no ca BLHS hay núi cỏch khỏc õy l quỏ trỡnh
xỏc nh tờn ti cho hnh vi nguy him ó thc hin [19, tr.9]
12
Như vậy, tùy vào cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu của mỗi tác giả
mà đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm định tội danh. Tuy nhiên, các
quan điểm đều có điểm chung ở chỗ định tội danh là xác định sự phù hợp giữa
các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu
của CTTP tương ứng với quy định trong BLHS
nếu thiếu quy phạm pháp luật phần riêng.
Định tội danh là việc chuyển hóa nội dung quy định về tội phạm của luật
hình sự vào đời sống xã hội thông qua việc giải quyết những vụ án hình sự, từ
khi khởi tố (mở) vụ án cho đến khi ra được bản án (có hiệu lực pháp luật). Đây
là hoạt động được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của TTHS. Trong đó, định tội
danh ở giai đoạn xét xử của Tòa án giữ vị trí trung tâm, có tính chất quyết định,
ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có
liên quan. Do đó, việc định tội danh trong hoạt động xét xử của Toà án có ý
nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý to lớn. Một người được Tòa án xác định là vô
tội có nghĩa là họ được khôi phục toàn bộ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của
mình, kể cả những quyền đã bị hạn chế trong quá trình xét xử và tiền xét xử.
Ngược lại, một người bị Tòa án xác định là có tội có nghĩa là họ sẽ phải chịu
TNHS về tội phạm mà họ đã thực hiện. Như vậy, về mặt chính trị-xã hội, định
tội danh đúng là biểu hiện của thực hiện đúng CSHS của Đảng và Nhà nước
được thể hiện trong công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, loại
trừ khả năng kết án oan người vô tội. Định tội danh không đúng sẽ góp phần
xuyên tạc bức tranh thực tế của tình hình tội phạm, tác động tiêu cực đến việc
soạn thảo và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Định tội danh đúng
là một đảm bảo cho việc làm sáng tỏ một cách có căn cứ khách quan tình trạng,
mức độ và khuynh hướng của tình hình tội phạm cũng như tình hình các loại tội
phạm cụ thể trên các vùng lãnh thổ cũng như trên phạm vi toàn quốc. Về mặt
pháp lý, định tội danh đúng là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình
14
giải quyết TNHS với người thực hiện tội phạm, là một bảo đảm cho việc thực
hiện nguyên tắc pháp chế XHCN, tạo cơ sở pháp lý cho việc quyết định một
hình phạt cũng như áp dụng các biện pháp pháp lý hình sự khác công bằng
Như vậy, định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản là một hoạt động
Luật hình sự Việt Nam của khoa luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội thì định
nghĩa: "Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt hình cụ thể
(bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể
trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội" [8, tr. 317]... Tóm
lại, phần lớn các tác giả đều có chung quan điểm về QĐHP như sau: Quyết định
hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được
quy định trong BLHS tương ứng với một CTTP cụ thể để áp dụng đối với
người phạm tội. Như vậy, tiếp cận từ khía cạnh pháp lý (tiếp cận theo nghĩa
hẹp) thì quyết định hình phạt là việc Tòa án nghiên cứu để đưa ra quyết định
hình phạt với hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Từ khía cạnh bản chất là
hoạt động áp dụng PLHS thì QĐHP được hiểu ở nghĩa rộng thì việc QĐHP có
nội dung là cả việc áp dụng các biểu hiện khác của TNHS, chứ không đơn
thuần chỉ là hình phạt. Khi QĐHP, Tòa án phải căn cứ vào : (1) Căn cứ vào quy
định của BLHS; (2) Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi; (3) Căn cứ vào nhân thân người phạm tội; (4) Căn cứ vào tình tiết giảm
nhẹ và tăng nặng TNHS.
Có thể nói, căn cứ quyết định hình phạt là cơ sở pháp lý để Tòa án QĐHP
tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
là điều kiện cần thiết để khắc phục tình trạng tùy tiện, thiếu tính thống nhất khi
quyết định hình phạt đồng thời đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ pháp lý của
hoạt động QĐHP.
Do đó, khi QĐHP, Hội đồng xét xử trên cơ sở xác định hành vi phạm tội
của bị cáo để quyết định một mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo
đã gây ra nguy hiểm cho xã hội nhằm đảm bảo mục đích của hình phạt, đảm
16
bảo tính công minh, có căn cứ và đúng pháp luật đối với người phạm tội bị kết
án góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền con người và công tác đấu tranh
các mục đích của hình phạt để không coi nhẹ hay nhấn mạnh riêng mục đích
nào. Nếu có bất kỳ vi phạm trong việc xem xét mục đích của hình phạt cũng
dẫn đến việc quyết định hình phạt không chính xác. Cụ thể là việc xem nhẹ mục
đích giáo dục, coi trọng mục đích trừng trị sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt
quá nặng, hình phạt trong trường hợp này sẽ chỉ làm cho người bị kết án thù
ghét pháp luật và các cơ quan bảo vệ pháp luật, nảy sinh tâm lý chống đối và
không có ý thức tự cải tạo, giáo dục. Ngược lại, việc xem nhẹ mục đích trừng
trị, coi thường pháp luật, không tích cực giáo dục, cái tạo mà còn không đủ khả
năng để ngăn ngừa những người khác phạm tội. Khi quyết định một hình phạt
đúng pháp luật, công bằng và hợp lý đối với người phạm tội thì đó sẽ là tiền đề,
là điều kiện cho việc đạt được mục đích của hình phạt, tức là có tác dụng trừng
trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội, ngăn ngừa người đó phạm tội mới và giáo
dục những người khác. Ngược lại, khi Tòa án QĐHP không đúng pháp luật,
không công bằng và không hợp lý thì những mục đích nói trên sẽ không thể đạt
được. Như vậy, việc nhận thức đúng về mục đích của hình phạt là cơ sở đầu
tiên giúp chúng ta nhận thức đúng những căn cứ QĐHP và từ đó Tòa án có thể
quyết định một hình phạt đúng đắn, công bằng và hợp lý đối với người phạm
tội. Nếu đạt được mục đích trừng trị và giáo dục người phạm tội thì đương
nhiên hình phạt cũng phát huy được tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung, góp
phần hình thành ý thức tự giác tuân thủ pháp luật, tính tích cực, chủ động tham
gia đấu trnah phòng, chống tội phạm ở các thành viên khác trong xã hội.
1.3. Cơ sở của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản
1.3.1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản
Tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015 chỉ quy
định "Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị..." mà không nêu rõ
18