BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ Y TẾ
NGUYỄN HẢI YẾN
SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ CHẤT LƯỢNG
CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ
TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU HÀ NỘI, NĂM 2019
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN HẢI YẾN
SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ CHẤT LƯỢNG
CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ
TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU HÀ NỘI, NĂM 2019
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 8720701
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.................................................................3
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM DÙNG TRONG NGHIÊN CỨU..............................2
1.1.1. Chất lượng cuộc sống...........................................................................2
1.1.2. Sức khỏe tâm thần.................................................................................2
1.1.3. Ung thư.................................................................................................2
1.2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ SỨC KHỎE TÂM
THẦN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ.....................................................................2
1.3. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ SỨC
KHỎE TÂM THẦN..............................................................................................2
1.3.1. Đặc điểm cá nhân..................................................................................2
1.3.2. Tình trạng sức khỏe và bệnh tật............................................................2
1.3.3. Yếu tố gia đình......................................................................................2
1.3.4. Yếu tố xã hội.........................................................................................2
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....................................................2
2.1. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................2
2.2. Địa điểm nghiên cứu......................................................................................2
2.3. Thời gian nghiên cứu......................................................................................2
2.4. Thiết kế nghiên cứu........................................................................................2
2.5. Cỡ mẫu...........................................................................................................2
2.6. Chọn mẫu.......................................................................................................2
2.7. Biến số, chỉ số................................................................................................2
2.8.Bộ công cụ nghiên cứu....................................................................................2
2.9. Kỹ thuật thu thập số liệu.................................................................................2
2.10. Tiêu chuẩn đánh giá......................................................................................2
2.10.1. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống..........................................2
2.10.2. Tiêu chuẩn đánh giá sức khỏe tâm thần..............................................2
2.10.3. Phân tích số liệu..................................................................................2
Bảng 3.2.
Mô tả chất lượng cuộc sống của bệnh nhân..........................................2
Bảng 3.3.
Phân loại chất lượng cuộc sống của bệnh nhân……………….. 38
Bảng 3.4.
Điểm chất lượng cuộc sông của bệnh nhân..........................................2
Bảng 3.5.
Phân loại tình trạng sức khỏe tâm thần………………………...29
Bảng 3.6.
Điểm sức khỏe tâm thần của bệnh nhân ung thư................................20
Bảng 3.7. Chất lượng cuộc sống theo các đặc điểm nhân khẩu học.........................20
Bảng 3.8. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư theo các giai đoạn..............2
Bảng 3.9. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư
………………………………………………………………………42
Bảng 3.10. Một số yếu tố liên quan đến mức độ lo âu của bệnh nhân………43
Bảng 3.11. Tỷ lệ có rối loạn lo âu của bệnh nhân theo các đặc điểm bệnh.…45
Bảng 3.11. Tỷ lệ có trầm cảm của bệnh nhân theo các đặc điểm bệnh……...47
1
2
khỏe tâm thần hiện tại và đau khổ cảm xúc đáng kể. Từ góc nhìn của bệnh nhân,
một rối loạn cảm xúc đáng kể có thể đơn giản là bất kỳ vấn đề đau khổ nào mà các
cá nhân muốn giúp đỡ cho vấn đề đó [3].
Tại Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu về CLCS và sức khỏe tâm thần
(SKTT) của bệnh nhân ung thư mới chủ yếu đề cập đến từng bệnh ung thư khác
nhau tại một số cơ sở điều trị. Các nghiên cứu về tình trạng CLCS và SKTT của
bệnh nhân ung thư còn nhiều hạn chế. Đề tài: “Sức khỏe tâm thần và chất lượng
cuộc sống của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội, năm 2019” nhằm
tìm hiểu về CLCS và SKTT của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội
với đa dạng các loại ung thư ở các giai đoạn khác nhau là một điều cần thiết. Kết
quả nghiên cứu sẽ đưa ra tình hình thực trạng CLCS và SKTT của bệnh nhân ung
thư tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, cũng như có những kiến nghị cho các can thiệp
hỗ trợ nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân trong quá trình điều trị ung thư sau này.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.
Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống và sức khỏe tâm thần của người
bệnh ung thư khi nhập viện tại bệnh viện ung bướu Hà Nội, năm 2019
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe
tâm thần của bệnh nhân ung thư khi nhập viện tại bệnh viện ung bướu Hà Nội, năm
2019
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
năng của chính mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường của cuộc
sống, có thể làm việc hiệu quả và có thể đóng góp cho cộng đồng” [13] [14].
Các vấn đề về sức khỏe tâm thần đã trở thành gánh nặng bệnh tật trên toàn thế
giới ở cả các nước thu nhập cao và thấp và trung bình [15].
Các điều kiện sức khỏe tâm thần góp phần vào kết quả sức khỏe kém, chết
sớm, vi phạm nhân quyền và tổn thất kinh tế toàn cầu và quốc gia. Không thể có
sức khỏe hoặc phát triển bền vững nếu không có sức khỏe tâm thần. Tình trạng sức
khỏe tâm thần khiến 1 trong 5 năm sống trong tình trạng khuyết tật. Sức khỏe tâm
thần thường gặp ở những người mắc bệnh, trong đó có ung thư. Tuy nhiên, sức khỏe
tâm thần vẫn là một phần bị bỏ quên trong các nỗ lực toàn cầu để cải thiện sức khỏe
[16].
Trong các rối loạn tâm thần, trầm cảm phổ biến nhất. Tình trạng này gây ảnh
hưởng đến cảm xúc, hành vi và có thể dẫn đến các vấn đề thể chất và tinh thần.
Trầm cảm được định nghĩa là - sự buồn bã, mất hứng thú hoặc khoái cảm, cảm thấy
tội lỗi hoặc tự hạ thấp giá trị bản thân, bị rồi loạn giấc ngủ hoặc ăn uống và kém tập
trung [17].
1.1.3. Ung thư
Ung thư được định nghĩa là sự sinh trưởng mất kiểm soát, tạo nên sự tập trung
một khối lượng lớn tế bào do sự sinh sản quá nhanh, vượt quá số tế bào chết đi, hậu
quả là khối tế bào này dần dần xâm lấn và tàn phá các mô và các cơ quan của cơ thể
sống [18].
Ung thư là một chẩn đoán đáng sợ liên quan đến khả năng di căn rõ rệt. Trong
các cuộc điều tra dân số ở Mỹ và Anh, ung thư là nỗi sợ hãi nhất trong các vấn đề y
tế phổ biến và cá nhân [3]. Bệnh ung thư có thể xuất hiện ở bất kỳ phần nào trên cơ
thể. Nó bắt đầu khi các tế bào phát triển vượt mức kiểm soát và chèn lấn các tế bào
bình thường. Điều này làm cho cơ thể khó hoạt động như bình thường. Ung thư có
thể được điều trị rất tốt ở nhiều người. Thực tế, hiện tại số người trở lại có cuộc
5
6
mức độ di căn và phân loại bởi vị trí ung thư. Chênh lệch 10 điểm trên thang điểm
0-100 được coi là ý nghĩa về mặt lâm sàng. Bệnh nhân ung thư thường có chất
lượng sống kém hơn so với dân số nói chung, nhưng các lĩnh vực chất lượng sống
cụ thể bị suy yếu thay đổi theo độ tuổi. Khi so sánh ung thư với dân số nói chung,
bệnh nhân ung thư trẻ gặp vấn đề tài chính, chức năng xã hội và vai trò tồi tệ hơn,
trong khi các nhóm ung thư lớn tuổi bị mất cảm giác ngon miệng hơn. Trong nhóm
bệnh ung thư, chất lượng sống tồi tệ hơn khi tăng tuổi đối với hoạt động thể chất và
táo bón, và tốt hơn khi tăng tuổi đối với hoạt động xã hội, mất ngủ và các vấn đề tài
chính (tất cả p
cố mối quan hệ giữa cai thuốc lá bền vững và CLCS, cần được truyền đạt cho bệnh
nhân [25].
Nghiên cứu điều tra các yếu tố liên quan đến CLCS liên quan đến sức khỏe
được báo cáo của bệnh nhân bằng cách sử dụng công cụ Healthy Days Measure của
Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh cho bệnh nhân Medicare Advantage đang
8
điều trị ung thư vú, phổi và ung thư đại trực tràng. Trong năm 2015, tổng cộng 6390
bệnh nhân đã được gửi qua các cuộc khảo sát về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến
CLCS liên quan đến sức khỏe của họ, bao gồm các triệu chứng liên quan đến ung
thư. CLCS được đo bằng số ngày không khỏe mạnh về thể chất và tinh thần đã trải
qua trong 30 ngày qua và tổng hợp cho tổng số ngày không khỏe mạnh. Những
ngày không khỏe mạnh thường được định nghĩa là ≥14 tổng số ngày không khỏe
mạnh trong tháng trước. Trong số 1567 người được hỏi, số trung bình của tổng số
ngày không khỏe mạnh (độ lệch chuẩn) là 14,0 (11,9) với 46,2% trải qua những
ngày không khỏe mạnh thường xuyên. Trung bình, bệnh nhân báo cáo 10,5 (10,5)
về thể chất và 6,7 (9,4) ngày không khỏe mạnh về tinh thần. Các triệu chứng liên
quan đến ung thư, đặc biệt là đau và mệt mỏi, có liên quan đáng kể với những ngày
không khỏe mạnh tăng lên. Trong các mô hình điều chỉnh, bệnh nhân bị đau có 83
ngày không khỏe mạnh hơn so với bệnh nhân không đau; bệnh nhân mệt mỏi có
nhiều ngày không khỏe mạnh hơn 104% so với bệnh nhân không mệt mỏi. Tiêu
chảy/ táo bón và khó thở cũng có liên quan đến những ngày không lành mạnh. Các
triệu chứng liên quan đến ung thư, đáng chú ý nhất là đau và mệt mỏi, có liên quan
đến CLCS tồi tệ hơn đối với bệnh nhân ung thư di căn. Các can thiệp nhằm mục
đích cải thiện các triệu chứng có thể cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân
đang điều trị ung thư [26].
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 175 bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định
bệnh ung thư và đang điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong thời gian từ
với tất cả các chỉ số chức năng (p < 0,001). Trong đó mức độ tương quan mạnh đối
với chỉ số chức năng thể chất (với hệ số tương quan là 0,84), chỉ số chức năng cảm
xúc (với hệ số tương quan là 0,61), chỉ số chức năng hoạt động (với hệ số tương
quan là 0,48) và chỉ số chức năng xã hội (hệ số tương quan là 0,39). Mức độ tương
quan ở mức trung bình được chỉ ra trong trường hợp chỉ số chức năng nhận thức
(với hệ số tương quan là 0,52). Ngược lại, điểm CLCS EQ-5D được chỉ ra là có có
mối tương quan nghịch với các chỉ số triệu chứng (mệt mỏi, buồn nôn, đau, mất
ngủ, chán ăn, thở nhanh, táo bón, tiêu chảy, vấn đề tài chính) [27].
1.1.2. Nghiên cứu vê sức khỏe tâm thần của bệnh nhân ung thư
Sự hiện diện của đau khổ có liên quan đến giảm chất lượng cuộc sống liên
quan đến sức khỏe [28]. Trầm cảm là một trong những yếu tố quyết định mạnh mẽ
10
nhất đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và nó cũng ảnh hưởng đến
việc tham gia điều trị [29] [30].
Theo nghiên cứu của Kuhnt và cộng sự trên 2.141 bệnh nhân ung thư báo
cáo tỷ lệ hiện mắc trong giai đoạn 12 tháng chung đối với bất kỳ rối loạn tâm thần
nào là 39,4% (95% CI: 37,3-41.5) và tỉ lệ có rối loạn lo âu là 15,8% (95% CI: 14,417,4), tỉ lệ mắc rối loạn cảm xúc 12,5% (95% CI: 11.3-14.0) , phụ thuộc nicotine là
7,3% (95% CI: 6,2-8,5), rối loạn do tình trạng y tế nói chung là 3,7% (95% CI: 3.04.6), cho việc lạm dụng hoặc nghiện rượu là 1,1% (95% CI: 0,7-1,6). Tỷ lệ mắc suốt
đời đối với bất kỳ rối loạn tâm thần nào là 56,3% (95% CI 54,1-58,6), đối với rối
loạn lo âu là 24,1% (95% CI: 22,3-25,9), 20,5% (95% CI: 18,9-22,3) đối với rối
loạn cảm xúc, 18,2% (95% CI: 16,6-20,0) đối với sự phụ thuộc vào nicotine, 6,4%
(95% CI: 5,4-7,6) đối với lạm dụng hoặc nghiện rượu, 4,6% ( CI 95%: 3,8-5,6) cho
các rối loạn do tình trạng y tế nói chung và 0,2% (95% CI: 0,1-0,6) cho các rối loạn
ăn uống. Rối loạn tâm thần rất phổ biến ở bệnh nhân ung thư, cho thấy sự cần thiết
phải cung cấp hỗ trợ tâm lý liên tục từ bệnh nhân nội trú đến chăm sóc ngoại trú,
dẫn đến phân bổ nhân sự trực tiếp và các nguồn lực khác [31].
Nghiên cứu về rối nhiễu tâm lý, chất lượng cuộc sống và hỗ trợ xã hội cho
Mitchell AJ, Lord K, Symonds P đã tiếp cận 279 bệnh nhân tới ba lần trong
vòng 9 tháng kể từ lần xuất hiện đầu tiên với chẩn đoán ung thư và thu thập dữ liệu
sau tổng số 558 lần liên hệ. Sử dụng bộ công cụ là thang đo PHQ-9 và HADS-D, tỷ
lệ trầm cảm là 12,7%. Nghiên cứu này cho thấy hầu hết các triệu chứng như khó
ngủ hoặc ngủ quá nhiều; cảm thấy mệt mỏi hoặc có ít năng lượng; kém ăn hoặc ăn
quá nhiều; khó tập trung vào những thứ như đọc sách có ảnh hưởng khi chẩn đoán
trầm cảm trong bối cảnh ung thư và do đó không nên bỏ qua một cách bừa bãi, ngay
cả trong các giai đoạn giảm nhẹ. Các triệu chứng tối ưu để chẩn đoán trầm cảm sẽ
phụ thuộc vào việc một khái niệm hẹp về trầm cảm hay một khái niệm rộng về trầm
cảm được coi là quan trọng về mặt lâm sàng [36].
Một nghiên cứu sử dụng phương pháp lý thuyết cơ sở để thu thập và phân tích
dữ liệu đã được sử dụng để tìm hiểu nhận thức của các bác sĩ ung thư, nhân viên xã
hội và y tá về nguyên nhân của sự suy yếu sức khỏe tâm thần của bệnh nhân ung
thư. Sáu mươi mốt chuyên gia chăm sóc sức khỏe ung thư đã được phỏng vấn về
12
những gì họ cho là nguyên nhân của sự suy yếu sức khỏe tâm thần ở bệnh nhân của
họ. Phân tích liên quan đến mã hóa theo dòng và được quy nạp, với các mã và danh
mục nổi lên từ các câu chuyện của người tham gia. Các chuyên gia chăm sóc sức
khỏe ung thư rất nhạy cảm trong nhận thức về sự đau khổ của bệnh nhân. Các phát
hiện được tổ chức thành ba loại bao gồm các yếu tố liên quan đến bệnh tật, yếu tố
xã hội và yếu tố hiện sinh. Các chủ đề liên quan đến bệnh tật bao gồm các tác dụng
phụ của bệnh và điều trị, mất các chức năng cơ thể và các mối quan tâm về hình ảnh
cơ thể gây ra sự suy yếu về sức khỏe tâm thần của bệnh nhân. Các chủ đề liên quan
đến xã hội bao gồm căng thẳng kinh tế xã hội, cô đơn/ thiếu sự hỗ trợ xã hội và đau
khổ liên quan đến gia đình. Các chủ đề hiện sinh bao gồm sự phụ thuộc/ sợ hãi trở
thành gánh nặng, lo lắng về cái chết, đau buồn và mất mát. Những phát hiện này
nhấn mạnh sự cần thiết phải có những cuộc trò chuyện rõ ràng với bệnh nhân về
được điều trị có khả năng tác động tiêu cực đến sự chăm sóc và phục hồi trong điều
trị ung thư của họ.
14
1.3. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe tâm thần
Khung lý thuyết
Yếu tố xã hội
Yếu tố cá nhân
Áp lực công việc
Tuổi
Giới
Dân tộc
Nơi ở
Tình trạng hôn nhân
Thu nhập
Nhu cầu thăng tiến
Mối
quan
hệ
đồng
người bệnh như tuổi, giới, điều kiện kinh tế có ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân
ung thư [40].
Theo Choi et al., 2012; H. Lee & Jin, 2013, đối với bệnh nhân ung thư người
Mỹ gốc Hàn lớn tuổi, việc tìm kiếm sự hỗ trợ từ các thành viên gia đình là một
thách thức bởi vì họ không muốn trở thành gánh nặng cho con cái họ bằng cách dựa
vào chúng quá nhiều và cảm thấy ung thư là cuộc chiến của họtiền lương một mình.
Theo nghiên cứu: “Tổng quan về các yếu tố tác động đến CLCS của người
bệnh mạn tính”, tình trạng sống một mình, không có nghề nghiệp ổn định, mức
sống thấp là các yếu tố được ghi nhận có tác động tiêu cực đến cuộc sống người
bệnh ung thư. Trong khi đó, nghiên cứu không tìm thấy mối tương quan với: tuổi,
giới, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, bào hiểm cũng như loại ung thư và bệnh lý
kèm theo [20].
1.3.2. Tình trạng sức khỏe và bệnh tật
Tình trạng sức khoẻ và bệnh tật của bệnh nhân ung thư gồm loại ung thư, giai
đoạn ung thư, thời gian điều trị, phương pháp điều trị ung thư đều có tác động đến
CLCS của họ [41].
Theo kết quả: “Khảo sát chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư và một
số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2015’’, CLCS của bệnh
nhân có liên quan chặt chẽ với các đặc điểm về bệnh họ như giai đoạn của ung thư
và thời gian mắc bệnh, phương pháp điều trị. Người bệnh có giai đoạn bệnh nặng
hơn thì có điểm CLCS giảm hơn (điểm giảm từ 61,3 trong giai đoạn 1 về 41,6 trong
giai đoạn 4) , và thời gian điều trị càng dài thì CLCS của họ cũng giảm. Loại ung
thư và các bệnh lý kèm theo khác dù có làm CLCS của bệnh nhân thay đổi chút ít,
song không đủ mang lại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. [10]
16
1.3.3. Yếu tố gia đình
Theo nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống và trầm cảm của bệnh nhân ung thư
trục đường lớn như Trần Khát Chân, Kim Ngưu, thuận lợi cho bệnh nhân di chuyển
cả bằng xe máy hoặc ô tô. Với những nỗ lực không ngừng phát triển về mọi mặt
trong chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội được Bộ Y
tế tin tưởng giao tiếp nhận, khám và điều trị cho người bệnh ung thư có thẻ bảo
hiểm y tế và không có thẻ bảo hiểm y tế từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung như
một bệnh viện tuyến cuối trong điều trị ung thư (Văn bản số 6038/BYT-BH ngày
01/9/2008 của Bộ Y tế). Mặt khác, với những nỗ lực không ngừng cùng người bệnh
để giành hy vọng sống, Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội đã được Ủy ban nhân dân
thành phố Hà Nội công nhận là bệnh viện hạng I theo Quyết định số 7401/QĐUBND ngày 04/12/2013.
Từ khi thành lập và phát triển, cho đến nay, Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội đã
có một đội ngũ gần 400 cán bộ, y bác sỹ có trình độ chuyên môn cao, cơ sở vật chất
và trang thiết bị hiện đại, đồng bộ. Cơ cấu tổ chức gồm có:
Đơn nguyên Ngoại theo yêu cầu
Đơn nguyên Nội theo yêu cầu 1
Đơn nguyên Nội theo yêu cầu 1
Đơn nguyên Nội trú ban ngày theo yêu cầu
Đơn nguyên Chăm sóc đặc biệt theo yêu cầu
Mỗi chuyên khoa được phân công giữ vai trò khác nhau nhưng vẫn là một hệ
thống liên kết chặt chẽ và hỗ trợ nhau trong quá trình điều trị và phục hồi cho bệnh
nhân.
19
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc ung thư, nhập viện lần
đầu tại bệnh viện ung bướu Hà Nội từ thứ 2 đến thứ 6 trong giai đoạn từ ngày 1
tháng 7 năm 2019 đến ngày 15 tháng 8 năm 2019
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Bệnh nhân tái nhập viện trong thời gian thu thập số liệu.
- Bệnh nhân bị bệnh cấp và mạn tính nặng, hạn chế giao tiếp không thể trả lời
bộ câu hỏi.
- Bệnh nhân mang thai và nuôi con bú
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội