Phân tích dược động học quần thể và mô phỏng PKPD của kháng sinh carbapenem ở bệnh nhân nặng điều trị tại khoa hồi sức tích cực, bệnh viện bạch mai - Pdf 56

BỘ Y TẾ

TRƯƠNG ANH QUÂN

PHÂN TÍCH DƯỢC ĐỘNG HỌC
QUẦN THỂ VÀ MÔ PHỎNG PK/PD
CỦA KHÁNG SINH CARBAPENEM
Ở BỆNH NHÂN NẶNG ĐIỀU TRỊ
TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI - 2019

Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu được chia sẻ miễn phí tại website CANHGIACDUOC.ORG.VN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

Mã sinh viên: 1401502

PHÂN TÍCH DƯỢC ĐỘNG HỌC
QUẦN THỂ VÀ MÔ PHỎNG PK/PD
CỦA KHÁNG SINH CARBAPENEM
Ở BỆNH NHÂN NẶNG ĐIỀU TRỊ
TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

sĩ đang làm việc tại đơn vị Dược lâm sàng – Thông tin thuốc, Khoa Dược, Bệnh viện
Bạch Mai đã luôn hỗ trợ để nghiên cứu này được tiến hành thuận lợi.
Tôi xin cảm ơn TS. Lê Đình Chi, ThS. Vũ Ngân Bình cùng 2 bạn Phạm Thị Nhật
Anh và Phạm Lan Hương, Bộ môn Hóa phân tích và Độc chất đã luôn hỗ trợ và đảm
bảo phần định lượng các kháng sinh trong dịch sinh học trong nghiên cứu này.
Tôi xin chân thành cảm ơn DS. Nguyễn Hoàng Anh và ThS.DS. Nguyễn Thị
Tuyến – chuyên viên Trung tâm DI & ADR Quốc gia, là những người anh, người chị
đã tận tình hỗ trợ, đồng hành cùng tôi thực hiện và hoàn thành khoá luận này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu cùng các thầy cô trường Đại học Dược
Hà Nội luôn chỉ dạy, giúp đỡ và tôi trong quá trình học tập và tích lũy kiến thức.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bố mẹ cùng gia đình, những
người bạn thân thiết của tôi đã luôn yêu thương, ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu được chia sẻ miễn phí tại website CANHGIACDUOC.ORG.VN

tích cực, Bệnh viện Bạch Mai cùng tập thể lãnh đạo khoa, GS.TS Nguyễn Gia Bình,


MỤC LỤC

trên bệnh nhân nặng ..................................................................................................... 3
1.1.1. Hấp thu .................................................................................................................. 3
1.1.2. Phân bố .................................................................................................................. 4
1.1.3. Chuyển hóa ............................................................................................................ 5
1.1.4. Thải trừ .................................................................................................................. 6
1.2. Thay đổi PK/PD của kháng sinh carbapenem và ảnh hưởng đến điều trị ở bệnh
nhân nặng ....................................................................................................................... 9
1.2.1. Đặc điểm PK/PD nhóm kháng sinh carbapenem .................................................. 9
1.2.2. Ảnh hưởng của thay đổi PK/PD kháng sinh carbapenem ................................... 14

3.3.2. Mô phỏng khả năng đạt đích PK/PD của meropenem ........................................ 45

4.1. Bàn luận về vấn đề nghiên cứu ............................................................................ 50
4.2. Bàn luận về phương pháp nghiên cứu ................................................................ 50
4.3. Bàn luận về kết quả nghiên cứu .......................................................................... 53
4.3.1. Đặc điểm bệnh nhân ............................................................................................ 53
4.3.2. Mô hình dược động học cấu trúc ......................................................................... 54
4.3.3. Mô hình dược động học cuối cùng ...................................................................... 54
4.4. Bàn luận về kết quả mô phỏng PK/PD ............................................................... 58
4.4.1. Kết quả mô phỏng PK/PD của imipenem ........................................................... 58
4.4.2. Kết quả mô phỏng PK/PD của meropenem......................................................... 60
4.5. Những ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu ....................................................... 61

Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu được chia sẻ miễn phí tại website CANHGIACDUOC.ORG.VN

3.1.3. Đặc điểm sử dụng thuốc tại ngày lấy mẫu dược động học.................................. 34


DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
% ƒT>MIC

Tỷ lệ phần trăm thời gian nồng độ thuốc tự do ở trên nồng độ ức chế

-2LL

- 2 Log likelihood

AAG

α-1 acid glycoprotein


Thanh thải thuốc

CL8h

Thanh thải creatinin thông qua nồng độ creatinin niệu 8 giờ

CLCG

Thanh thải creatinin ước tính theo công thức Cockcroft - Gault

CLMDRD

Thanh thải creatinin ước tính theo công thức MDRD

CLSI

Viện tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm Hoa Kỳ (Clinical &
Laboratory Standards Institute)

Cpeak

Nồng độ đỉnh

Cpeak/MIC

Tỷ lệ giữa nồng độ đỉnh và nồng độ ức chế tối thiểu

Ctrough



tối thiểu so với khoảng cách đưa liều


IWRES

Sai số dự đoán bởi thông số cá thể có trọng số (Individual weighted
residual error)

MIC

Nồng độ ức chế tối thiểu (Minimum inhibitory concentration)

MLCT

Mức lọc cầu thận

NCA

Phân tích dược động học không ngăn (Non – compartmental

NLME

Ảnh hưởng hỗn hợp phi tuyến (Non linear mixed - effect)

Non – ARC

Không tăng thanh thải thận (Non augmented renal clearance)

PK/PD

TDM

Giám sát điều trị thông qua theo dõi nồng độ thuốc trong máu
(Therapeutic drug monitoring)

Vd

Thể tích phân bố

Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu được chia sẻ miễn phí tại website CANHGIACDUOC.ORG.VN

analysis)


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Tóm tắt thay đổi thông số dược động học trên bệnh nhân nặng .....................8
Bảng 1.2. Đặc điểm dược động học của imipenem và meropenem trên người tình nguyện
khỏe mạnh và không phải bệnh nhân nặng .....................................................................9
Bảng 1.3. Một số nghiên cứu dược động học quần thể của imipenem trên bệnh nhân
nặng ...............................................................................................................................12

nặng ...............................................................................................................................13
Bảng 1.5. Tóm tắt các phương pháp xây dựng mô hình dược động học quần thể ........18
Bảng 3.1. Đặc điểm bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu .................................................32
Bảng 3.2. Đặc điểm sử dụng thuốc của bệnh nhân trong nghiên cứu ...........................34
Bảng 3.3. Kết quả xây dựng mô hình dược động học cấu trúc .....................................36
Bảng 3.4. Kết quả lựa chọn mô hình sai số ...................................................................37
Bảng 3.5. Kết quả thăm dò và sàng lọc các yếu tố ảnh hưởng ......................................38
Bảng 3.6. Kết quả mô hình dược động học cuối cùng ..................................................39


gia tăng [119]. Đặc biệt, trong môi trường hồi sức tích cực (HSTC), các bác sĩ điều trị
đang phải đối mặt với nhiều vi khuẩn đa kháng cao hơn các đơn vị điều trị khác. Các
bệnh nhân điều trị tại khoa HSTC thường là quần thể dễ nhiễm khuẩn, đặc biệt là các
nhiễm khuẩn nặng và các chủng vi khuẩn đa kháng do tình trạng bệnh nặng, suy giảm

viện Bạch Mai, tỷ lệ nhạy cảm của vi khuẩn Acinetobacter baumannii chỉ còn 5% đối
với imipenem và meropenem, tỷ lệ nhạy cảm của Klebsiella pneumoniae và
Pseudomonas aeruginosa với ertapenem, imipenem và meropenem tương ứng chỉ dao
động khoảng 30% [5].
Carbapenem là nhóm kháng sinh có hoạt phổ rộng và giữ vai trò cốt lõi trong nhiều
phác đồ điều trị vi khuẩn đa kháng và toàn kháng hiện nay, đặc biệt là imipenem và
meropenem [72]. Tuy nhiên, vai trò của các kháng sinh nhóm carbapenem ngày càng bị
đe dọa trước tình trạng nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của vi khuẩn của vi khuẩn gây
bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng. Thêm vào đó, tình trạng bệnh lý trên các bệnh
nhân nặng nằm khoa HSTC có tác động rất lớn đến dược động học của các kháng sinh
thân nước nói chung và carbapenem nói riêng dẫn tới nguy cơ giảm hiệu quả điều trị
hoặc đáp ứng trên lâm sàng, kéo dài thời gian nằm viện, chi phí và tăng tỷ lệ tử vong
[50], [90], [110]. Vì vậy, việc tối ưu cách sử dụng các kháng sinh này thông qua giám
sát điều trị thông qua theo dõi nồng độ thuốc trong máu (TDM) hoặc áp dụng các chế
độ dùng thuốc mới thông qua nghiên cứu dược động học mô phỏng các chế độ liều giúp
đạt được đích dược động học/dược lực học (PK/PD) cao hơn đóng vai trò rất quan trọng
[90]. Các nghiên cứu về PK/PD với nhóm kháng sinh carbapenem cho thấy việc kéo dài
thời gian truyền thuốc hoặc truyền liên tục làm tăng khả năng đạt đích PK/PD trên các
bệnh nhân nặng [35], [55], [56].
Hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu xây dựng mô hình dược động học quần thể của
imipenem và meropenem ở nước ta được thực hiện riêng cho bệnh nhân hồi sức nội
khoa cũng như chưa thực hiện mô phỏng khả năng đạt đích PK/PD trên nhóm đối tượng
đặc biệt này [3], [6], [8]. Trong bối cảnh đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Phân tích
dược động học quần thể và mô phỏng PK/PD của kháng sinh carbapenem ở bệnh nhân
nặng điều trị tại khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bạch Mai” với 2 mục tiêu sau:

Ở trạng thái sốc, các cơ quan quan trọng (não, tim, phổi) được ưu tiên tưới máu,
do đó làm giảm cung cấp máu, oxy, các chất dinh dưỡng đến ruột, cơ và các tổ chức
dưới da và cũng làm giảm hấp thu thuốc từ các cơ quan này. Bên cạnh đó, việc dùng các
thuốc vận mạch trên bệnh nhân cũng ảnh hưởng đến hấp thu thuốc từ đường tiêu hóa
hay từ các tổ chức dưới da [24], [98].
Giảm nhu động đường tiêu hóa:
Giảm nhu động đường tiêu hóa có thể gây một số ảnh hưởng đến hấp thu bao gồm
gây giảm thời gian thuốc được hấp thu dẫn tới giảm thời gian thuốc đạt nồng độ đỉnh và
kéo dài thời gian thuốc có tác dụng. Vì vậy các bác sĩ có thể không ưu tiên sử dụng
thuốc qua đường tiêu hóa. Một số nguyên nhân dẫn đến giảm nhu động bao gồm tình
trạng phẫu thuật, chấn thương, bỏng, nhiễm khuẩn huyết hoặc dùng các thuốc giảm đau
[24], [98].
Nuôi ăn qua ống thông dạ dày:
Việc dùng thuốc qua ống thông dạ dày có thể làm thuốc dính vào thành ống và làm
giảm hấp thu thuốc. Đối với các thuốc có bản chất là acid (cần pH acid để hấp thụ), hấp
thu thuốc có thể giảm khi dùng cùng với các dung dịch nuôi ăn làm tăng pH dạ dày. Bên
cạnh đó, thuốc có thể tương tác và gắn với các thành phần có trong dịch nuôi ăn khi sử
dụng đồng thời, từ đó làm giảm hấp thu của thuốc (ciprofloxacin là một ví dụ điển hình)
[24], [98].
Vì những lý do như trên, thuốc sử dụng qua đường tĩnh mạch thường được ưu tiên
trên bệnh nhân nặng để đảm bảo sinh khả dụng 100%, tránh tương tác thuốc và tránh
chuyển hóa bước đầu qua gan.
3

Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu được chia sẻ miễn phí tại website CANHGIACDUOC.ORG.VN

thay đổi về phân bố, chuyển hóa và thải trừ có thể làm nồng độ thuốc không đạt ngưỡng


1.1.2. Phân bố

Giảm albumin máu: Tình trạng giảm albumin máu thường xảy ra trên bệnh
nhân nặng do hậu quả của việc thoát albumin lòng mạch, tình trạng quá tải dịch
hoặc suy dinh dưỡng. Tình trạng này làm giảm áp lực keo của máu và gây ra
thoát dịch lòng mạch, tăng tỷ lệ kháng sinh ở dạng tự do trong máu từ đó làm
tăng Vd của kháng sinh [83]. Tình trạng này cũng làm kháng sinh nhanh chóng
phân bố vào các dịch ngoài bào trong cơ thể và nhanh chóng bị thải trừ. Tình
trạng hạ albumin được coi là yếu tố ảnh hưởng quan trọng trên lâm sàng với
các kháng sinh có tỷ lệ liên kết lớn với protein huyết tương (tỷ lệ gắn > 85 –
90%) và thải trừ chủ yếu qua thận [21].
4

Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu được chia sẻ miễn phí tại website CANHGIACDUOC.ORG.VN

những thay đổi do thoát mạch hoặc các tình trạng bệnh lý trên bệnh nhân nặng ít ảnh


-

Cổ trướng và dịch rỉ phúc mạc: Vd của các kháng sinh thân nước thường tăng
trên những bệnh nhân có bệnh gan tiến triển hoặc bệnh nhân có dịch báng do
tăng áp lực tĩnh mạch cửa và giảm tổng hợp albumin huyết thanh. Một số
nghiên cứu đã được triển khai để đánh giá ảnh hưởng trên các kháng sinh β –
lactam, aminoglycosid và vancomycin và sau đó đã được xác nhận bằng các
mô hình dược động học quần thể [83]. Đối với trường hợp nhiễm khuẩn ổ bụng

thể tăng lên. Trong trường hợp này, khoang phúc mạc đóng vai trò như một
ngăn sâu trong cơ thể với thời gian bán thải dài và dược động học của thuốc
trong ngăn này có thể khác với các ngăn khác [83].
-


Hoạt tính enzym gan:
Thay đổi hoạt tính enzym gan chủ yếu ảnh hưởng đến các thuốc có hệ số chiết tách
qua gan thấp. Trên bệnh nhân nặng thường có tình trạng tăng bài tiết các hormon stress
(adrenalin, noradrenalin, cortisol), các protein (α – 1 acid glycoprotein (AAG), protein
phản ứng C (CRP)) và các cytokin tiền viêm (interleukin 1, interleukin 6, TNF – α) gây
ức chế các isoenzym cytochrome P – 450 (CYP450) ở chuyển hóa pha 1 và cả các enzym

Tỷ lệ liên kết protein huyết tương
Thay đổi tỷ lệ liên kết protein huyết tương chủ yếu ảnh hưởng đến các thuốc có hệ
số chiết tách qua gan thấp. Tỷ lệ gắn protein huyết tương có ý nghĩa quan trọng trong
việc tính toán nồng độ và tác dụng dược lý của thuốc.
Bệnh nhân nặng thường có tình trạng giảm albumin huyết tương và tăng tổng hợp
AAG từ đó làm thay đổi tỷ lệ thuốc gắn với albumin và AAG. Tình trạng này làm tăng
tỷ lệ tự do của thuốc có bản chất acid, gắn chủ yếu với albumin và làm giảm tỷ lệ tự do
của các thuốc có bản chất trung tính, chủ yếu gắn với AAG [24].
1.1.4. Thải trừ
Giảm thanh thải thận:
Tổn thương thận cấp (Acute kidney injury – AKI)
AKI là một biến chứng thường gặp trong môi trường HSTC, nguyên nhân có thể
do các bệnh lý nền của bệnh nhân như chấn thương, bỏng, sốc do giảm thể tích tuần
hoàn, sốc tim, sốc nhiễm khuẩn, sốc do xuất huyết, suy đa phủ tạng, ngoài ra có thể do
sử dụng các thuốc có độc tính trên thận [21], [83].
Phần lớn các kháng sinh thân nước được thải trừ chủ yếu qua thận dưới dạng
nguyên vẹn, nên AKI có ảnh hưởng lớn tới dược động học của thuốc. Tuy nhiên, ảnh
hưởng này phụ thuộc vào tỷ lệ kháng sinh được thải trừ qua thận [21]. Với những kháng
sinh phụ thuộc nồng độ, thông số PK/PD đặc trưng cho nhóm kháng sinh này là tỷ lệ
nồng độ đỉnh so với MIC (Cpeak/MIC), việc kéo giãn khoảng cách đưa liều và giữ
nguyên mức liều mỗi lần sẽ tối ưu được Cpeak/MIC. Ngược lại, đối với các kháng sinh
phụ thuộc thời gian (nhóm β – lactam), cần giữ nguyên khoảng cách đưa liều và giảm
liều dùng để tối ưu được tỷ lệ thời gian nồng độ thuốc tự do ở MIC so với khoảng cách

điểm hiện tại, những nghiên cứu về dược động học trên bệnh nhân điều trị ECMO chưa
nhiều và các nghiên cứu vẫn khuyến cáo sự cần thiết của TDM trên các bệnh nhân này
[29], [46].
Tăng thanh thải thận (Augmented renal clearance – ARC)
Tăng thanh thải thận (ARC) là hiện tượng thận gia tăng thải trừ các chất hòa tan,
bao gồm cả thuốc, ở mức độ cao hơn bình thường. ARC được xác định khi mức lọc cầu
thận đo được lớn hơn 130 mL/phút/1.73m2 [97]. Tỷ lệ ARC xảy ra trên các bệnh nhân
nặng khá cao với khoảng 30% - 65% bệnh nhân hồi sức tích cực có ARC [16], [107],
[111].
ARC thường gặp trên bệnh nhân trẻ tuổi, là nam giới, ít bệnh mắc kèm hoặc bệnh
nhân nặng, nhập khoa hồi sức tích cực, các bệnh nhân có nhiễm khuẩn huyết, các chấn
7

Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu được chia sẻ miễn phí tại website CANHGIACDUOC.ORG.VN

protein huyết tương không đáng kể. Ngược lại, đối với lọc máu liên tục, cơ chế lọc là cơ


thương lớn, chấn thương sọ não, viêm màng não, bỏng, viêm tụy cấp, bệnh máu ác tính
và phụ nữ có thai [16], [97].
Nguyên nhân gây ARC có thể liên quan tới tình trạng SIRS làm giải phóng các
chất trung gian hóa học, tăng cung lượng tim, giảm sức cản lòng mạch từ đó làm tăng
lưu lượng máu đến thận và làm tăng mức lọc cầu thận. Thêm vào đó, mức lọc cầu thận
còn tăng do dùng đồng thời các thuốc vận mạch và việc hồi sức bù dịch trên bệnh nhân.

Ảnh hưởng của ARC tới PK/PD của kháng sinh phụ thuộc vào đặc tính diệt khuẩn
của các kháng sinh đó. Đối với các kháng sinh phụ thuộc thời gian như các kháng sinh
nhóm β – lactam, thanh thải thận tăng làm giảm nồng độ đáy (Ctrough) dẫn đến giảm
% ƒT>MIC của các kháng sinh này [113]. Do đó các nghiên cứu đã đề xuất biện pháp
truyền liên tục các kháng sinh phụ thuộc thời gian để tối ưu hóa % ƒT>MIC [87]. Hiện

Ức chế/cảm ứng enzym do tình
↑/↓ chuyển hóa thuốc có hệ số chiết
trạng nặng của bệnh nhân hoặc do
tách thấp
thuốc
Giảm cấp tính lưu lượng máu qua ↓ chuyển hóa các thuốc hệ số chiết
gan
tách qua gan cao
8

Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu được chia sẻ miễn phí tại website CANHGIACDUOC.ORG.VN

Ngoài ra, hiện tượng tăng thải trừ các anion ở ống thận cũng góp phần gây ARC [97].


Thay đổi thông số dược động học
↓CL với các thuốc chủ yếu thải trừ
Tổn thương thận cấp
qua thận
↓ hoặc ↑ CL
Thải trừ Thận nhân tạo
↑ CL với các thuốc chủ yếu thải trừ
Tăng thanh thải thận
qua thận
Vd: Thể tích phân bố. CL: Thanh thải thuốc. AUC: Diện tích dưới đường cong.
Cpeak: Nồng độ đỉnh
1.2. Thay đổi PK/PD của kháng sinh carbapenem và ảnh hưởng đến điều trị ở bệnh
nhân nặng
1.2.1. Đặc điểm PK/PD nhóm kháng sinh carbapenem
Đặc điểm dược động học nhóm kháng sinh carbapenem trên người tình nguyện khỏe

9

Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu được chia sẻ miễn phí tại website CANHGIACDUOC.ORG.VN

Thay đổi trên bệnh nhân nặng


Tại thận, imipenem bị thủy phân Meropenem được chuyển hóa bởi
một

phần

bởi

enzym phản ứng thủy phân vòng β –

dehydropeptidase I (DHP – I) lactam tạo thành chất không có
thành chất chuyển hóa không còn hoạt tính. Các thí nghiệm in vitro
hoạt tính nhưng độc với thận. Sử đã cho thấy meropenem bền với
dụng cùng với cilastatin giúp bảo enzym DHP – I so với imipenem
vệ imipenem không bị chuyển vì vậy meropenem không cần
hóa bởi DHP - I [1], [14].

dùng kèm với các chất ức chế

Imipenem cũng được chuyển hóa DHP – I [47].
bởi con đuờng ngoài thận, không
liên quan tới enzym DHP – I
thành chất không có hoạt tính
tương tự như chuyển hóa tại thận


Chuyển hóa


Đặc điểm PK/PD của carbapenem
Tương tự các kháng sinh β – lactam khác, carbapenem là nhóm kháng sinh có tác
dụng diệt khuẩn phụ thuộc thời gian. Thông số mô tả tốt nhất khả năng diệt khuẩn của
nhóm kháng sinh này %ƒT>MIC. Do có tác dụng hậu kháng sinh chỉ đạt mức trung bình
so với penicillin và cephalosporin (từ 2 – 5 giờ) [125] nên % ƒT>MIC có thể ngắn hơn
(20% ƒT>MIC đối với tác dụng kìm khuẩn và 40% ƒT>MIC đối với tác dụng diệt khuẩn)

có thể cần mức 100% ƒT>MIC để đạt đáp ứng lâm sàng tốt hơn. Bên cạnh đó, có các
nghiên cứu đề xuất đích %100 ƒT> 4 – 5 MIC để tối ưu hóa đáp ứng vi sinh và đáp ứng
lâm sàng [65], [89], [118]. Ngoài ra, có nghiên cứu in vitro chỉ ra 100% ƒT> 4 – 5 MIC
có thể giúp ngăn ngừa tạo ra các quần thể chọn lọc đột biến [101].
Một số nghiên cứu dược động học quần thể của carbapenem trên bệnh nhân nặng
Dược động học của carbapenem trên bệnh nhân nặng có thể bị thay đổi do các tình
trạng sinh lý bệnh như giảm albumin huyết tương, hồi sức bù dịch, hội chứng đáp ứng
viêm hệ thống (tăng Vd), AKI (giảm thanh thải) hoặc ARC (tăng thanh thải) [50], [86],
[105]. Kết quả một số nghiên cứu dược động học quần thể được tổng hợp trong Bảng
1.3 và 1.4.

11

Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu được chia sẻ miễn phí tại website CANHGIACDUOC.ORG.VN

[110]. Đặc biệt trong trường hợp bệnh nhân nặng hay bệnh nhân có suy giảm miễn dịch,




Kcp

Kpc

-

3,270 h-1
(± 3,424) a

2,994 h-1
(± 2,013) a

-

-

7,69 h-1

8,77 h-1

(±5,94)a

(±4,20)a

-

-

15,891 L
(± 2,323)a


Vp

Viêm phổi thở
máy, N = 8

Viêm phổi mắc
2 ngăn

Vc

12,2 L
(±9,93)a

Nhiễm khuẩn

17,7 Lc

huyết, N = 10

(± 4)a

-

-

a

12,3 L/h
(±4,20)a


2 ngăn

Kyun

Kim và cộng

1 ngăn

2 ngăn

[106]


cộng sự, 2016
[70]

Vp

CL

Q

Nhiễm khuẩn đe dọa

16 L

15 L

5,9 L/h

Nhiễm khuẩn huyết
nặng, N = 11
Nhiễm khuẩn do

1 ngăn

Klebsiella pneumoniae,
N = 27

0,489 L/kg
(11,1%) b

13,6 L
(9,7-18,4)d

8,305 L
(0,989)e

-

-

-

b

0,266 L/h/kg
(12,3%) b

14,1 L/h


-

: Trung bình (sai số chuẩn tương đối)
d
: Trung vị (giá trị nhỏ nhất – giá trị lớn nhất)
e
: Trung bình (sai số chuẩn)
Vc: Thể tích phân bố ngăn trung tâm; Vp: Thể tích phân bố ngăn ngoại vi; CL: Thanh thải thuốc; Kcp: Hằng số thải trừ từ ngăn trung tâm
đến ngăn ngoại vi; Kpc: Hằng số thải trừ từ ngăn ngoại vi đến ngăn trung tâm; Q: Hệ số thanh thải giữa ngăn trung tâm và ngăn ngoại vi

13

Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu được chia sẻ miễn phí tại website CANHGIACDUOC.ORG.VN

Bảng 1.4. Một số nghiên cứu dược động học quần thể của meropenem trên bệnh nhân nặng


Dược lực học của carbapenem trên bệnh nhân nặng
Các bệnh nhân nằm khoa HSTC thường dễ bị nhiễm khuẩn bởi các vi khuẩn giảm
nhạy cảm. Các bác sĩ khoa HSTC thường phải đối mặt với các vi khuẩn đa kháng hay
các chủng vi khuẩn toàn kháng, đặc biệt là Enterobacteriaceae, Pseudomonas
aeruginosa và Acinetobacter baumannii [116]. Đối với nhóm carbapenem nói riêng,
tình trạng các vi khuẩn Enterobacteriaceae kháng carbapenem, sinh enzym NDM – 1

làm giảm hiệu quả của nhóm kháng sinh này [19]. Hiện nay, quy định về điểm gãy của
các vi khuẩn giảm nhiều đối với các kháng sinh carbapenem. Cụ thể, theo Viện tiêu
chuẩn lâm sàng và xét nghiệm Hoa Kỳ (CLSI) năm 2018, điểm gãy nhạy cảm của
imipenem và meropenem đối với Enterobacteriaceae, Pseudomonas aeruginosa và
Acinetobacter baumannii lần lượt là 1 mg/L, 2 mg/L và 2 mg/L [33]. Theo Uỷ ban đánh

Mục tiêu 100%ƒT>MIC chỉ đạt 17% với MIC = 8 mg/L [6].
Meropenem
Kết quả nghiên cứu DALI của Roberts và cộng sự trên 384 bệnh nhân sử dụng

ƒT>MIC, 50% ƒT>4 MIC và 100% ƒT>4 MIC lần lượt là 95,0%, 69,7%, 68,8% và
41,6% với trung vị nồng độ đáy là 4 mg/L. Nghiên cứu cũng chứng minh thanh thải
creatinin có ảnh hưởng đến khả năng đạt đích của meropenem [39], [88]. Nghiên cứu
của Carlier và cộng sự cũng cho thấy giá trị trung bình % ƒT>MIC trên nhóm bệnh nhân
có ARC thấp hơn so với nhóm bệnh nhân không có ARC (61% so với 94%) [27]. Kết
quả trong nghiên cứu của Burger và cộng sự cho thấy với các chế độ liều được khuyến
cáo bởi nhà sản xuất, khả năng đạt đích rất thấp. Cụ thể, khả năng đạt 100% ƒT>MIC
của chế độ liều 1000 mg mỗi 8 giờ truyền 2 giờ trên bệnh nhân ARC chỉ là 32,9% với
MIC = 2 mg/L, và tăng lên mức 60,9% với chế độ liều 2000 mg mỗi 8 giờ và đạt 95%
với chế độ liều 1000 mg mỗi 4 giờ [25].
Ảnh hưởng đến kết quả điều trị
Trong nghiên cứu DALI, khả năng không đạt đích 50% ƒT>MIC và 100%
ƒT>MIC có ảnh hưởng trực tiếp thất bại điều trị [88]. Tuy nhiên Huttner và cộng sự
chưa ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ thuốc dưới ngưỡng
điều trị và ARC với nguy cơ thất bại điều trị [52]. Bên cạnh đó, nghiên cứu Udy và cộng
sự trên bệnh nhân có nhiễm khuẩn huyết nặng cho thấy ARC không có tương quan với
thất bại điều trị [109]. Sự khác biệt giữa các nghiên cứu cho thấy, hiệu quả điều trị trên
bệnh nhân nặng, đặc biệt là bệnh nhân có nhiễm khuẩn huyết, rất khó dự đoán với sự
tương quan phức tạp giữa bệnh lý nền, nồng độ kháng sinh và chức năng tạng của bệnh
nhân.
1.3. Tối ưu hóa chế độ liều kháng sinh trên bệnh nhân nặng
Do nguy cơ thay đổi nồng độ thuốc trong máu và thay đổi về dược lực học, cần
thiết phải tối ưu hóa chế độ liều của kháng sinh nói chung và carbapenem nói riêng trên
bệnh nhân nặng. Hai cách tối ưu hóa sử dụng kháng sinh hiện nay là tiếp cận dưới góc

15

thuốc – thời gian trên mỗi cá thể bệnh nhân. Trong đó điển hình là phân tích không ngăn
(non – compartmental analysis - NCA) và phương pháp 2 bước chuẩn (standard – two
– stage method - STS) [37].
Phương pháp NCA là phương pháp đơn giản nhất, không dùng mô hình mà kết nối
giá trị của cá thể bằng phép nội suy tuyến tính [37]. NCA thường được sử dụng trên số
lượng bệnh nhân nhỏ, có cùng tình trạng (về bệnh lý, sinh lý bệnh và đặc điểm nhân
khẩu học). Phương pháp tiếp cận này thường sử dụng để đánh giá liều, tính thể tích phân
bố và sinh khả dụng của thuốc. Nhược điểm lớn nhất của NCA là phụ thuộc nhiều vào
16

Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu được chia sẻ miễn phí tại website CANHGIACDUOC.ORG.VN

độ, được khuyến cáo dùng liều 1 lần/ngày nhưng độc tính phụ thuộc Ctrough [99], vì



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status