MỞ ĐẦU
Công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe của nhân dân có vai trò rất quan trọng đối
với việc xây dựng nguồn lực con người để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững. Đảng và Nhà nước ta đã nhấn mạnh sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi
con người và của xã hội, do đó chính sách y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân có vị trí
hàng đầu trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của đất nước.
Để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, ngành y tế đã thực hiện đường
lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất
quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Mặc dù
đứng trước những thách thức, nhưng phải làm thế nào để giải quyết một cách tốt nhất
vấn đề chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn, hội
nhập với kinh tế thế giới trong điều kiện cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật còn hạn chế.
Đó là những vấn đề Đảng ta luôn đặt ra và luôn tìm giải pháp hành động, đưa ra những
quan điểm, đường lối và chủ trương chính sách của Nhà nước nói chung vào các chính
sách của ngành y tế nói riêng.
Hiện nay, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng tăng trong cả
nước về số lượng và chất lượng. Mô hình bệnh tật thay đổi, các bệnh truyền nhiễm
đang diễn biến phức tạp, các bệnh không truyền nhiễm và các dịch bệnh mới, bệnh lạ
khó lường.
Bản thân là một bác sĩ ở Khoa Hồi sức tích cực - Bệnh viện Đa
khoa trung tâm An Giang, hằng ngày thường xuyên tiếp xúc với
những trường hợp bệnh nặng, bệnh nguy kịch có khả năng tử vong
rất cao; do đó, công tác hồi sức cấp cứu là một việc hết sức
quan trọng, cứu người bệnh ra khỏi nguy kịch. Muốn như vậy phải
có qui trình quản lý khám chữa bệnh nhanh chóng, chính xác và
hiệu quả. Vì vậy, công tác quản lý qui trình này phải càng hoàn
thiện về mặt nhân sự lẫn trang thiết bị để đạt hiệu quả cao
hơn, nên tôi chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý công tác điều trị tại
Khoa Hồi sức tích cực - Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang giai đoạn 2013 2015 ” làm tiểu luân cuối khóa với mong muốn vân dụng những kiến
thức đã được tiếp thu trong quá trình học tâp vào thực tiễn
Hoạt động quản lý gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tổ chức trong xã hội với
tư cách là tâp hợp những người được điều khiển, định hướng, phối hợp với nhau theo một
cách thức định trước nhằm đạt tới một mục tiêu chung nào đó. Trong tất cả các tổ chức đều
có những người làm nhiệm vụ gắn kết những người khác, điều khiển người khác giúp cho
tổ chức hoàn thành mục tiêu của mình, những người đó chính là các nhà quản lý. Để một
hoạt động quản lý có thể diễn ra, bên cạnh chủ thể quản lý cần có các yếu tố khác như đối
tượng quản lý, cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và những mục
tiêu mà hoạt động quản lý hướng tới.
Trong quá trình quản lý, nhà quản lý bằng các quyết định quản lý của mình tác động
lên một hay một nhóm đối tượng nhất định để buộc đối tượng đó thực hiện những hành
động theo ý chí của nhà quản lý,
2
Tiểu luân cuối khóa
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
Như vậy, quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định.
Mục tiêu này có thể do các thành viên trong tổ chức tự thống nhất với nhau, cũng có thể do
người đứng đầu tổ chức xây dựng và giao cho tổ chức thực hiện. Nhưng cũng có thể tổ
chức được hình thành để thực hiện những mục tiêu được xác định trước. Khi đó, bản thân tổ
chức không thể tự mình làm thay đổi mục tiêu.
1.1.2.
Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước chính là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân là xây dựng kế hoạch chiến lược và hoạt động chính sách,
chỉ đạo thực hiện các chương trình, trước hết là chương trình y tế trọng điểm trong từng giai
đoạn khác nhau, nhà nước bổ sung các chương trình mới để nhằm đáp ứng nhu cầu chăm
sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Quản lý chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là quản lý chất lượng tại chỗ bao gồm
việc tuân thủ và thực hiện các quy định, chuẩn mực và hướng dẫn các tiêu chuẩn và phương
pháp quản lý chất lượng và xây dựng các tổ chức quản lý chất lượng ở bệnh viện.
Quản lý nhà nước về y tế bằng pháp luât: Nhà nước ban hành và thực thi các văn bản
pháp luât để điều hành và quản lý thống nhất hành động chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân
dân. Các văn bản pháp luât, các nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định và chỉ thị
của Thủ tướng chính phủ và của Bộ trưởng Bộ y tế là cơ sở pháp lý để quản lý và điều hành
hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân bằng pháp luât và cũng là hành lang hoạt động hợp
pháp của tất cả các cơ quan quản lý và cơ sở y tế trong cả nước.
Quản lý nhà nước về y tế là đầu tư cho y tế, chăm sóc sức khỏe là đầu tư trực tiếp
cho nguồn vốn con người - yếu tố quyết định sự phát triển.
4
Tiểu luân cuối khóa
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
Bộ y tế là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về y
tế, bao gồm các lĩnh vực: Y tế dự phòng, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng;
giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần, y dược cổ truyền, sức khỏe sinh sản; trang
thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình; quản lý
nhiệm vụ theo mức độ ưu tiên, không được gây khó khăn về thủ tục hành chánh và đùn
đẩy bệnh nhân.
5
Tiểu luân cuối khóa
1.3.
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ
CÔNG TÁC KHÁM CHỮA BỆNH
1.3.1.
Quan điểm của Đảng liên quan đến lĩnh vực y tế
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn chú trọng yếu tố
con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của xã hội. Bước
vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh. Đại hội Đảng lần thứ VIII (6-1996) đã nêu quan điểm:
“L ấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
chóng và bền vững”. Và “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn
của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa”[1].
Đảng ta khẳng định: “Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao
sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam”. Trong đó, lĩnh vực y tế đóng vai trò quan
trọng hàng đầu. Do vây, tại Đại hội XI, Đảng ta đã tâp trung chỉ đạo sát sao và cụ thể
ngày 23-02-2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong
tình hình mới, trong đó đã đưa ra các quan điểm chỉ đạo:
Quan điểm 1: Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội.
Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là hoạt động nhân đạo trực tiếp bảo
đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những
chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư
phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ.
Quan điểm 2: Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu
quả và phát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc
và nâng cao sức khỏe với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, nhằm từng bước đạt tới công bằng trong chăm
sóc sức khỏe, thực hiện sự chia sẻ giữa người khỏe và người ốm, người giàu với người
nghèo, người trong độ tuổi lao động với trẻ em, người già; công bằng trong đãi ngộ đối
với cán bộ y tế.
7
Tiểu luân cuối khóa
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
Quan điểm 3: Thực hiện chăm sóc sức khỏe toàn diện: Gắn phòng bệnh với
chữa bệnh, phục hồi chức năng và tâp luyện thể dục thể thao nâng cao sức khỏe. Phát
triển đồng thời y tế phổ câp và y tế chuyên sâu; kết hợp đông y và tây y.
Quan điểm 4: Xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe gắn với tăng cường
đầu tư của Nhà nước; thực hiện tốt việc trợ giúp cho các đối tương chính sách và người
nghèo trong chăm sóc và nâng cao sức khỏe.
Bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe là bổn phân của mỗi người dân, mỗi gia
đình và cộng đồng, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trân Tổ
Tiểu luân cuối khóa
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
9
9
Tiểu luân cuối khóa
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
quan đến sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân làm công cụ để các cơ quan
quản lý nhà nước về y tế như:
-
L uât Bảo vệ sức khoẻ nhân dân công bố ngày 11 tháng 7 năm 1989.
-
L uât Khám chũa bệnh năm 2009.
-
Chỉ thị số 200/TTg ngày 29/04/1994 của Thủ Tướng Chính phủ về bảo đảm
nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
-
Thông tư liên tịch số 11/2005/TTLT-BYT-BNV ngày 12/04/2005 của Bộ Y tế
và Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp quản lý nhà nước về y tế
địa phương.
-
Quyết định số 33/2006/QĐ-UBND ngày 28/07/2006 của UBND tỉnh An Giang
về việc ban hành quy định về tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
1
0
Tiểu luân cuối khóa
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
của đơn vị y tế cơ sở thay thế Quyết định số: 2614/2005/QĐ-UBND ngày
19/09/2005.
-
Chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 10/9/2012 của Bộ trưởng Bộ y tế về tăng cường
thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh sau khi điều chỉnh
giá dịch vụ y tế.
-
Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/7/2013 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn
thực hiện quản lý chất lương dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện.
vụ y tế chất lượng cao.
1
1
Tiểu luân cuối khóa
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA HỒI SỨC
TÍCH CỰC BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG
2.1.
ĐẶC ĐIỂM VỀ CÔNG TÁC ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH C
C
2.1.1.
Đặc điểm chung của Khoa Hồi sức tích cực
Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang là bệnh viện thuộc hạng II, trong đó
Khoa Hồi sức tích cực là một trong những khoa lâm sàng quan trọng của bệnh viện,
góp phần điều trị tích cực cho tình trạng bệnh nhân tiến triển tốt, làm giảm thời gian
nằm viện cũng như tiết kiệm chi phí điều trị cho người bệnh.
Năm 2005 để đáp ứng yêu cầu phát triển mới và nhiệm vụ mới, Sở Y tế An
Giang và Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang đã thành lập Khoa Hồi sức cấp cứu.
Đến năm 2008, theo quy chế cấp cứu - hồi sức tích cực và chống độc của Bộ Y tế,
Khoa được đổi tên thành Khoa Hồi sức tích cực và chống độc. Khoa có tổng số giường
Tổng
NV
49
02
CK I
Bác sĩ
CNĐD
ĐDTH
ĐDSH
Vi tính
Hộ lý
00
11
02
28
01
Tổ chức cho Khoa làm việc 24/24 giờ theo ca hoặc theo chế độ thường trực
tùy theo tình hình cụ thể, tổ chức dây chuyền làm việc hiệu quả.
- Phân loại người bệnh cấp cứu theo mức độ nặng, tính chất bệnh.
1
3
Tiểu luân cuối khóa
-
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
Chịu trách nhiệm về chất lượng chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh của
Khoa. Nếu bệnh tiến triển xấu hoặc sau 48 giờ chưa có chẩn đoán xác định, phải
tổ chức hội chẩn.
-
Bố trí mặt bằng, huy động nhân lực, trang thiết bị trong trường hợp xảy ra cấp
cứu hàng loạt, cấp cứu thảm hoạ.
-
Thường xuyên cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, khoa học kỹ thuật của cán bộ, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ
cho các bác sĩ và điều dưỡng của khoa.
giao.
-
Thường xuyên học tập để cập nhật, nâng cao kiến thức chuyên khoa và tay
nghề. Tham gia nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, ứng dụng các kỹ thuật
tiên tiến.
2.1.5.3.
Nhiệm vụ điều dưỡng Viên Khoa Hồi sức tích cực
1
4
Tiểu luân cuối khóa
-
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
Thực hiện các quy chế chuyên môn, quy trình kỹ thuật bệnh viện.
-
Tiếp nhân, bảo quản và sử dụng các thuốc men, dụng cụ, phương tiện, theo quy
định, sẵn sàng phục vụ người bệnh.
-
Khẩn trương thực hiện y lệnh. Theo dõi và ghi chép đầy đủ diễn biến bệnh,
quan tâm của Ban Giám đốc được đầu tư trang thiết bị và con người, là một trong
những khoa có trang thiết bị hiện đại nhằm mang lại chất lượng điều trị tốt cho bệnh
nhân.
Các bác sĩ và điều dưỡng trong khoa luôn được đào tạo cập nhật những kiến
thức, những thông tin y học, những khoa học kỹ thuật mới. Bác sĩ được đào tạo dài
hạn về chuyên ngành hồi sức cấp cứu như học chuyên khoa I hồi sức cấp cứu. Hiện tại
có 02 bác sĩ đang học chuyên khoa I hồi sức cấp cứu của bệnh viện Chợ Rẫy. Điều
dưỡng thì học lớp cử nhân điều dưỡng.
Bệnh viện còn được sự hỗ trợ của bệnh viện tuyến trên như bệnh viện Chợ Rẫy
tập huấn, chuyển giao những kỹ thuật mới, trang thiết bị mới như máy lọc máu liên
tục.
Ngoài ra, ban chủ nhiệm khoa cũng quan tâm đến tất cả các nhân viên trong
khoa, thực hiện quy chế tập trung dân chủ, lắng nghe ý kiến của mọi người, có tinh
thần đoàn kết hỗ trợ với nhau để xây dựng khoa ngày càng phát triển hơn, đem lại hiệu
quả điều trị cao hơn.
2.2.2.
Những khó khăn
Do tình hình chung của bệnh viện còn gặp nhiều khó khăn về mọi mặt con
người, tài chính, trang thiết bị... Khoa Hồi sức tích cực vẫn nằm trong quỹ đạo đó nên
có nhiều khó khăn trở ngại trong việc nâng cao chất lượng điều trị.
Người bệnh khi vào khoa Cấp cứu trong tình tạng nặng, nguy kịch đe dọa sự
sống thì được xử trí cấp cứu ban đầu sau đó được chuyển đến Khoa Hồi sức nhưng do
tình trạng Khoa Cấp cứu quá tải và trình độ chuyên môn chưa
16
1
6
lãnh đạohoạt
động quản lý của Khoa Hồi sức tích cực đạt được những kết quả
như:
Điều trị thành công nhiều trường hợp ngộ độc nặng suy
hô hấp đe dọa
nguy hiểm đến tính mạng.
-
Điều trị lọc máu liên tục những trường hợp nặng biến chứng suy đa phủ tạng
như: Choáng nhiễm trùng, viêm tụy cấp nặng (đã thực hiện được 05 trường
hợp).
-
Bác sĩ thực hiện được những thủ thuật trong hồi sức cấp cứu như: Đặt nội khí
quản, đặt CVC, đo huyết áp động mạch xâm lấn, đo áp lực ổ bụng để tiên lượng
độ nặng trong viêm tụy cấp.
1
7
Tiểu luân cuối khóa
Tham gia bình bệnh án bác sĩ, điều dưỡng mỗi tháng một lần.
-
Thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan.
-
Hoàn thành hồ sơ bệnh án trong vòng 24 giờ và khi bệnh nhân chuyển khoa
hoặc ra viện.
-
Thực hiện quy chế ra viện, chuyển viện, hội chẩn, chuyển khoa, tử vong theo
đúng quy định.
-
Thực hiện tốt tiêu chuẩn phấn đấu về y đức của Bộ Y tế, tránh phiền hà cho
người nhà và người bệnh.
-
-
Thực hiện tốt quy chế giao tiếp ứng xử đối với bệnh nhân và người nhà.
-
Thực hành tiết kiệm trong làm việc cũng như trong điều trị.
Chăm sóc bệnh nhân
Chuyển viện
2.3.I.2. Nguyên nhân đạt được
Chỉ tiêu năm
2012
2500
7000
2,8
100%
2,8%
18%
1100
20,8%
12 lần
12lần
Theo nhu cầu
6%
Đạt 2012
Đạt %
3059
3300
1,07
46%
33
442
1474
nắm được tình hình diễn biến trong đêm trực và báo cáo lên Ban Giám
1
9
Tiểu luân cuối khóa
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
Mỗi tháng Ban chủ nhiệm khoa có một buổi họp với toàn thể nhân viên khoa để
báo cáo những việc đã làm được, những việc chưa làm được, những thiếu sót cần khắc
phục và kế hoạch cho tháng tới.
Ban Giám đốc, Ban Chủ nhiệm khoa cũng thường xuyên nhắc nhở mọi người
thực hiện đúng 12 điều y đức, quy chế giao tiếp ứng xử, thực hành tiết kiệm chống
lãng phí, thực hiện học tâp và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
2.3.2.
Những hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.I.
Những hạn chế
Tuy đạt được những kết quả nêu trên, nhưng bên cạnh đó cũng còn một số hạn
chế nhất định:
Mặc dù nguồn viện phí hàng năm đều tăng nhưng tình trạng cơ sở vât chất
phòng ốc chât hẹp, xuống cấp, các máy móc trang thiết bị y tế cũ kỹ lỗi thời, thường
xuyên hư hỏng do không đủ kinh phí xây dựng cơ sở mới, trang bị máy móc thiết bị
mới nên việc cải tạo, sửa chữa tạm thời để phục vụ công tác.
Nguyên nhân dẫn đến hạn chế
Dân số tăng nhanh, nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng lớn, giá
thành chữa bệnh ngày càng đắt nhưng kinh phí của Nhà nước cho y tế lại rât hạn hẹp.
Cơ sở vât chât chât hẹp, thiếu thốn, máy móc thiết bị cũ kỹ, hư hỏng nên không
đáp ứng tốt nhu cầu khám, chữa bệnh.
Việc phát huy quyền làm chủ tâp thể đôi lúc chưa tốt, ý thức bảo vệ cơ sở vât
chât chưa cao, còn hiện tượng lãng phí.
Công tác kiểm tra giám sát việc sử dụng vât tư, thuốc và tài sản chưa thât sự
chặt chẽ; một số máy móc trang thiết bị chưa sử dụng hết công suât; một số khoa
phòng chưa có ý thức trong việc tiết kiệm trong việc mua sắm tài sản; chưa xây dựng
được định mức cụ thể trong việc sử dụng hóa chât, vât tư tiêu hao gây ra lãng phí chi
phí khám và điều trị bệnh.
Chính sách quan tâm của xã hội đối với sức khỏe, đời sống nhân viên y tế chưa
tương xứng với những cống hiến của họ, tiền lương chưa đảm bảo cuộc sống tối thiểu
của những người làm nghề y tế rất vất vả, độc hại, xác suất lây nhiễm bệnh lại cao.
2
1
Tiểu luân cuối khóa
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
Trong cơ chế thị trường, một bộ phận thầy thuốc và nhân viên y tế sa sút về y
đức, thiếu tinh thần trách nhiệm với người bệnh, chạy theo đồng tiền không chính
đáng.
Tóm lại: Khoa Hồi sức tích cực là khoa lâm sàng quan trọng được cấp trên
Tiểu luân cuối khóa
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
về chât lượng phục vụ, tạo được một địa chỉ đáng tin cây cho người bệnh tại An
Giang và các tỉnh lân cân.
-
Thực hiện tốt quy chế bệnh viện.
-
Thực hiện tốt nguyên tắc ứng xử, giao tiếp với người bệnh và thân nhân người
bệnh
-
Tổ chức công tác khám, điều trị, chăm sóc người bệnh với chât lượng ngày
càng cao.
-
Tổ chức tốt chức năng phòng chống dịch bệnh, chỉ đạo tuyến, đào tạo và
nghiên cứu khoa học.
-
Tăng mức độ hài lòng của người bệnh, thân nhân người bệnh và công chức,
viên chức đối với bệnh viện.
2,8
Công suất giường bệnh
100%
2
3
Tiểu luân cuối khóa
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
Tử vong
Xin về
2,8%
18%
Thủ thuật
1100
Tỷ lệ tử vong và nặng về
Bình bệnh án điều trị
20,8%
12 lần
Tiểu luân cuối khóa
GVHD: Ths. Nguyễn Xuân Hằng
Đào tạo ngắn hạn và dài hạn cho bác sĩ và điều dưỡng năm 2013
Nội dung đào tạo
Sô người dự kiên
Thời gian
thực hiện
01 điều dưỡng
01/2013
Chăm sóc bệnh nhân tại
ICU
Đang học cử nhân ĐD
Học lọc máu liên tục
Học chuyên khoa I
02, dự kiến 02
01 bác sĩ, 01 điều
dưỡng
01 bác sĩ
Nơi dự kiên
BV 115
7/2011-2014
2
5