TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ÁI MỘ QUẬN LONG BIÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO HƯỚNG TÍCH HỢP - Pdf 56

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ÁI MỘ
QUẬN LONG BIÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
THEO HƯỚNG TÍCH HỢP

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 8140114

Học viên: Ngô Thị Thúy Anh
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN THỊ HOÀI

HÀ NỘI – 2018


2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT( Cần bỏ bớt chữ viết tắt đê
giảm tỉ lệ sao chép)
BD: Bồi dưỡng
BGH: Ban Giám Hiệu
CBQL: Cán bộ quản lý
CM: Chuyên môn
CSVC: Cơ sở vật chất
DH: Dạy học
DHTH: Dạy học tích hợp
GD: Giáo dục
GD&ĐT: Giáo Dục và Đào Tạo


trường THCS Ái Mộ - quận Long Biên- thành phố Hà Nội
Bảng 2.4. Kết quả đánh giá về tổ chức dạy tích hợp tại trường

Trang 62

THCS Ái Mộ - quận Long Biên- thành phố Hà Nội
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát về việc kiểm tra, đánh giá kết quả học

Trang 63

tập của học sinh tại trường THCS Ái Mộ - quận Long Biênthành phố Hà Nội
Bảng 2.6. Kết quả khảo sát về mức độ học sinh thực hiện các nội

Trang 64

dung hoạt động học tập tại trường THCS Ái Mộ - quận Long
Biên- thành phố Hà Nội
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát về việc sử dụng thiết bị dạy học tại

Trang 66

trường THCS Ái Mộ - quận Long Biên- thành phố Hà Nội
Bảng 2.8. Kết quả khảo sát học sinh về CSVC, trang thiết bị của

Trang 67

trường THCS Ái Mộ - quận Long Biên- thành phố Hà Nội
Bảng 2.9. Kết quả khảo sát CBQL, GV về việc sinh hoạt


Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công
dân”.
Tiếp theo, Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 về đổi
mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông cũng nêu rõ: “ Mục tiêu giáo
dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng
lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học
sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền
thống văn hóa, lịch sử, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng
thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”. Mục tiêu và mục đích của nền giáo
dục là hình thành và phát triển nhân cách cho người học nhằm đáp ứng nhu cầu
phát triển của thời đại.


5
Theo đó, một trong những giải pháp thực hiện nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện giúp học sinh hình thành năng lực, kỹ năng và biết vận dụng kiến thức
vào cuộc sống để giải quyết các vấn đề thực tiễn được đặt ra là hoạt động dạy học
theo hướng tích hợp.
Ngoài lợi ích từ việc làm cho người học hiểu đúng bản chất của sự vật hiện
tượng trong chỉnh thể của nó, dạy học theo hướng tích hợp còn là một cách thức
hữu hiệu trong việc sử dụng kiến thức liên môn theo đặc trưng của từng nhóm bộ
môn mà không phải sử dụng quá nhiều đầu sách, nhiều bộ môn khiến cho người
học không phải chịu áp lực lớn về việc học mà vẫn phù hợp với xu thế tinh lọc
kiến thức trong giáo dục phổ thông hiện đại. Đó là cách tổng hợp các kiến thức
gần nhau, liên quan với nhau sẽ được tích hợp vào cùng một môn học. (Ví dụ:
Nhóm kiến thức Khoa học xã hội gồm các môn: Lịch sử- Địa lý…) Sự tích hợp
này sẽ làm rõ được sự gắn kết giữa các kiến thức, đồng thời tránh được sự trùng
lặp không cần thiết về nội dung của các “môn học”. Nói cách khác, dạy học tích
hợp giúp giảm tải được kiến thức không thực sự phù hợp với mục đích giáo dục, để
có điều kiện tăng kiến thức phù hợp và giúp người học có khả năng tổng hợp kiến

định trong nhiều năm qua. Để có kết quả đáng tự hào đó, không thể không kể đến
công tác quản lý hoạt động dạy học tại trường theo định hướng dạy học tích hợp
đã được lãnh đạo nhà trường đặc biệt chú trọng, quan tâm. Nhà trường đã quán
triệt yêu cầu về nội dung tổ chức các hoạt động dạy học theo định hướng dạy học
tích hợp trở thành nội dung chính trong thi đua dạy và học. Mặc dù vậy, công tác
quản lý hoạt động dạy học theo định hướng dạy học tích hợp nhà trường cũng cần
phải được đầu tư đúng mức hơn nhằm đáp ứng xu hướng đổi mới giáo dục của thời
kỳ hội nhập.


7
Qua những năm công tác tại trường THCS Ái Mộ, tác giả nhận thấy việc
tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường theo định hướng
dạy học tích hợp là cần thiết và phù hợp với thực tiễn. Từ đó đề xuất những biện
pháp tổ chức nhằm nâng cao chất lượng dạy học theo hướng tích hợp của nhà
trường là một vấn đề cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu vấn đề: “ Tổ
chức hoạt động dạy học tại trường trung học cơ sở Ái Mộ Quận Long Biên thành phố Hà Nội theo hướng tích hợp ”
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về công tác quản lý của ban giám hiệu đối với
hoạt động dạy học theo hướng dạy học tích hợp và thực trạng quản lý hoạt động
dạy học ở trường trung học cơ sở Ái Mộ theo hướng tích hợp, đề xuất một số biện
pháp quản lý nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động dạy học theo hướng
tích hợp cho học sinh trong nhà trường trung học cơ sở Ái Mộ thuộc quận Long
Biên, thành phố Hà Nội.
3. Khách thê và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: CBQL, GV và học sinh trường THCS Ái Mộ
quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức hoạt động dạy học tại trường THCS Ái
Mộ theo hướng tích hợp.

môn, phụ huynh học sinh … tuy nhiên đề tài tập trung nghiên cứu về biện pháp tổ
chức của hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học của giáo viên theo hướng tích
hợp. Đề tài nghiên cứu theo hướng tiếp cận nội dung quản lý, tức là nghiên cứu các
nội dung tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích hợp.


9
6.3. Khách thể khảo sát
- Cán bộ quản lý trường THCS Ái Mộ.
- Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên trường THCS Ái Mộ
- Số lượng khảo sát: 03 CBQL, 62 giáo viên, 434 học sinh.
6.4. Giới hạn thời gian lấy số liệu
Đề tài sử dụng các số liệu thống kê về giáo dục của trường THCS Ái Mộ từ
năm học 2014 – 2015 đến năm học 2016 – 2017.
7. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ nghiên cứu trong phạm vi giới hạn đề tài
nêu trên, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và
khái quát hóa các vấn đề lý luận từ các văn bản, tài liệu, Nghị quyết của Đảng,
Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo và Phòng giáo dục
Quận Long Biên về quản lý hoạt động dạy học theo định hướng dạy học tích hợp.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra viết
Xây dựng hệ thống các câu hỏi, các phiếu trưng cầu ý kiến dành cho cán bộ
quản lý, giáo viên về hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học theo định
hướng dạy học tích hợp.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý và giáo viên nhằm tìm hiểu
kỹ hơn về thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học tại trường

được nhiều nước trên thế giới quan tâm thực hiện. Nó cũng là xu hướng dạy học
chung của nhiều quốc gia có trình độ dạy học tiên tiến như Pháp, Anh, Hoa Kỳ
Trung Quốc, Phillipin. Tại Phillipin cuốn giáo trình được biên soạn có tên Fusion
(sự hoà kết, sự hợp nhất) trong đó phối kết hợp nhiều kiến thức, kĩ năng để phát
huy sức mạnh tổng hợp đồng bộ của các phân môn trong tình huống nhận thức
cũng như trong tình huống thực tiễn. Các phân môn đều hướng tới mục tiêu chung
là hình thành, rèn luyện những kĩ năng quan trọng trong thu nạp thông tin( nên có
trích dẫn) và cung cấp thông tin. Trong chương trình cải cách giáo dục của một số
nước, quan điểm tích hợp được ghi rõ trong chương trình như là một yêu cầu bắt
buộc
Theo thống kê của Unesco, từ năm 1960 đến năm 1974 có 208 chương trình
môn khoa học thể hiện quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau từ liên môn,
kết hợp đến tích hợp hoàn toàn theo chủ đề.( cần có trích dẫn)
Tháng 9 – 1968, Hội đồng liên quốc gia về giảng dạy khoa học đã tổ chức
Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học để đưa ra các lý do phải dạy học
tích hợp các khoa học, dạy học tích hợp là gì, cách thức dạy học tích hợp và những
triển vọng của dạy học tích hợp, trong đó có nêu ra rằng: Tích hợp không chỉ diễn
ra ở nội dung mà còn tích hợp cả ở phương pháp lẫn các kĩ năng, kĩ xảo cần hình


12
thành ở người học. Tích hợp không chỉ ở một ngành học nào mà là liên ngành.
Tích hợp không chỉ ở một bậc học nào mà ở tất cả các bậc học.( Cần có trích dẫn)
1.1.2. Nghiên cứu ở trong nước
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công
nghệ thông tin, đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục đào tạo nói chung và đổi
mới nội dung, phương pháp dạy học nói riêng, nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học
đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề về đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo
hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học với đời sống thực tiễn sản xuất, vấn
đề lấy học sinh làm trung tâm; đều tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt

nghị luận.[9]
Các tác giả đã nghiên cứu hoạt động dạy học theo hướng tích hợp ở các nhà
trường, đồng thời giúp cho tác giả luận văn định hướng nghiên cứu đề tài của
mình.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm dạy học
- Dạy học được hiểu là một hình thức đặc biệt của giáo dục (nghĩa rộng),
xem như là một trường hợp riêng của nó (của giáo dục). Dạy học là con đường đặc
biệt quan trọng trong mối quan hệ biện chứng và phối hợp với các con đường, các
hoạt động khác trong quá trình giáo dục để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ
giáo dục đặt ra. [35; tr.15]
- Dạy học là một quá trình truyền thụ, tổ chức nhận thức kiến thức, kinh
nghiệm xã hội và nghề nghiệp cho người học nhằm hình thành và phát triển nhân
cách nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng. Dạy học bao hàm trong nó sự
học và sự dạy gắn bó với nhau, trong đó sự dạy không chỉ là sự giảng dạy mà còn
là sự tổ chức, chỉ đạo và điều khiển sự học. [23; tr.23]


14
- Dạy học là một mặt của quá trình dạy và học do người giáo viên thực hiện
theo nội dung, chương trình đào tạo đã định nhằm giúp người học đạt được các
mục tiêu học tập theo từng bài học hoặc toàn khóa đào tạo. Hoạt động dạy học
không chỉ hướng đến yêu cầu truyền thụ kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và
thái độ nghề nghiệp đúng đắn ở người học mà còn góp phần phát triển tính tích cực
và tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. [23;tr.23]
- Dạy là hoạt động của giáo viên, không chỉ là hoạt động truyền thụ cho học
sinh những nội dung đáp ứng được các mục tiêu đề ra, mà còn hơn nữa là hoạt
động giúp đỡ chỉ đạo và hướng dẫn học sinh trong quá trình lĩnh hội. Chỉ khi nào
nắm bắt được các điều kiện bên trong (hiểu biết, năng lực, hứng thú,…) của học
sinh thì giáo viên mới đưa ra được những tác động sư phạm phù hợp để hoạt động

manh chức năng truyền đạt của việc dạy và chức năng lĩnh hội của việc học mà
chưa chú ý thích đáng chức năng điều khiển quá trình nhận thức, quá trình lĩnh hội
của người học của việc dạy học và tính tích cực, chủ động tự điều khiển quá trình
nhận thức của người học trong quá trình học của mình. Ngược lại theo quan niệm
về việc dạy học, người ta rất coi trọng yếu tố điều khiển sư phạm của giáo viên, ở
đây vai trò của giáo viên đã có sự thay đổi, người giáo viên phải biết gợi mở,
hướng dẫn, dạy cho người học cách tìm kiếm và xử lí thông tin, từ đó vận dụng
chúng. Tuy nhiên, muốn được như vậy cần coi trọng môi trường cộng tác giữa việc
dạy và việc học và người học phải biết tự điều khiền quá trình nhận thức của mình
thông qua việc tích cực, chủ động, tự lực chiếm lĩnh lấy nội dung học với sự hỗ trợ
của người dạy.[ 26;tr.34]
- Trong hoạt động học, người ta đã thấy được tính thống nhất của hai chức
năng vừa thu nhận kiến thức vừa kết hợp với sự tự điều khiển kiến thức của mình.
Để hoạt động học thu được kết quả tốt người học không chỉ thu nhận kiến thức mới


16
mà còn phải tích cực, tự điều khiển nhận thức của mình, tức là người học phải tích
cực, chủ động, sáng tạo tìm tòi kiến thức mới. Có như vậy thì quá trình tự thu nhận
kiến thức của người học mới thu được kết quả cao nhất và hoạt động học sẽ diễn ra
một cách tích cực.[ 23;tr.24]
* Bản chất của hoạt động học
Học sinh là chủ thể của hoạt động học tập, chủ thể có ý thức, chủ động, tích
cực và sáng tạo trong nhận thức và rèn luyện nhân cách. Mọi hoạt động đều có ý
thức. Việc học tập càng phải có ý thức. Người học phải xác định được mục đích
học tập, có động cơ và thái độ học tập đúng, có kế hoạch học tập chủ động và luôn
tích cực thực hiện tốt kế hoạch đó. Tích cực học tập thể hiện ở cả hai mặt: chuyên
cần và tính sâu sắc trong các hoạt động trí tuệ. Cách học tích cực thể hiện trong
việc tìm hiểu, xử lý thông tin và vận dụng chúng vào việc giải quyết các nhiệm vụ
học tập vào thực tiễn cuộc sống, thể hiện trong sự tìm tòi khám phá vấn đề mới

chúng ta phải coi trọng vai trò người giáo viên, giáo viên phải xuất phát từ lôgíc
của khái niệm khoa học, xây dựng công nghệ dạy học, tổ chức tối ưu hoạt động
cộng tác của dạy và học, thực hiện tốt các chức năng của dạy cũng như của học,
đồng thời bảo đảm mối liên hệ với học sinh thường xuyên, bền vững. Vì vậy, muốn
nâng cao mức độ khoa học của việc dạy học ở trường phổ thông thì người hiệu
trưởng phải đặc biệt chú ý hoàn thiện hoạt động dạy của giáo viên; hỗ trợ cho họ
trong quá trình dạy sẽ hình thành và phát triển ở học sinh các phương pháp, cách
thức phát hiện lại các thông tin học tập. Đây là khâu cơ bản để tiếp tục hoàn thiện
tổ chức hoạt động học của học sinh.[ 38;tr.30]


18
1.2.2. Khái niệm tích hợp
Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng Latinh, với nghĩa
xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng
lẻ. ( Cần phải bổ sung trích dẫn)
Integration (n)/ integrate (v) trong tiếng Anh có nghĩa là hợp lại thành một
hệ thống thống nhất, sự bổ sung thành thể thống nhất, sự hợp nhất, sự hòa hợp với
môi trường, (tiếng Anh – Mỹ còn có nghĩa sự hòa hợp chủng tộc, sự mở rộng cho
mọi chủng tộc). ( Cần phải bổ sung trích dẫn từ điển )
Trong tiếng Việt, tích hợp được ghép từ hai từ tích và hợp. Tích: (danh từ) là
kết quả của phép nhân; (động từ): dồn góp từng ít cho thành số lượng đáng kể
Hợp:(danh từ): tập hợp mọi phần tử của các tập hợp khác; (động từ): gộp chung;
(tính từ): không mâu thuẫn, đúng với đòi hỏi. Tích hợp: lắp ráp, kết nối các thành
phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ. [37; tr 981)
Tác giả ? “Tích hợp giáo dục là quá trình học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo
viên thực hiện việc chuyển đổi liên tiếp các thông tin từ ngôn ngữ của một môn
học sang ngôn ngữ môn học khác mà nhờ quá trình đó học sinh nắm vững kiến
thức, hình thành khái niệm, phát triển các phẩm chất cá nhân”.[8; tr.45]
Tác giả ? “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến

HS theo lối “nhồi nhét” kiến thức. Việc trang bị cho HS những kiến thức cơ bản và
cùng với nó là PP học tập khoa học là rất cần thiết để giúp HS có khả năng tự học,
tự làm giàu thêm tri thức của bản thân.
Về mặt PP, dạy học tích hợp dựa trên cơ sở vận dụng những gì HS đã biết
để hướng dẫn HS tiếp cận một kiến thức mới, tức là dạy HS cách chiếm lĩnh kiến
thức. Muốn khơi gợi được thái độ học tập chủ động của HS, GV cần tạo ra được
những vấn đề có sự mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, sau đó dẫn dắt HS


20
tìm câu trả lời cho cái chưa biết. Khi tham gia vào hoạt động học tập, HS cùng lúc
phải thực hiện nhiều thao tác: quan sát, phân tích, nêu nhận xét…và nhiều kĩ năng
như: cách ứng xử khi làm việc với tập thể, cách tranh luận, bày tỏ ý kiến, huy động
kiến thức đã biết về môn học hoặc những kiến thức có liên quan để giải quyết vấn
đề, … Còn GV có vai trò là người hướng dẫn, điều chỉnh, nhận xét để giúp HS
nhận ra vấn đề (về kiến thức, về cách thức làm việc, về thái độ cần có khi tham gia
thảo luận…).
1.2.4. Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích hợp
1.2.4.1. Dạy và học qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động
"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động
học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự khám phá những điều
mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên
sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp
quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của
mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra"
kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và
phát huy tiềm năng sáng tạo.
Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà
còn hướng dẫn hành động. Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết

hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp
thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường
chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến
mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên


22
một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của
người thầy giáo.
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm,
tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác
trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là
lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp
giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ
sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc
lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp
tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần
với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia,
liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà
trường phải chuẩn bị cho học sinh.
1.2.4.4. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định
thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện
nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Trước đây, giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp
tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự
điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi
để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt
động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường



24
Điều 2. Vị trí của trường trung học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc
dân. Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
Điều 3. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung học
Trường trung học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu,
chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động
giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục.
2. Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật.
3. Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý
học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
4. Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công.
5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối
hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
6. Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định
của Nhà nước.
7. Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội.
8. Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục.
9. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.3.2. Xác định mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học bám sát vào
quan điểm tích hợp.
1.3.2.1. Mục tiêu của giáo dục trung học cơ sở
“Giáo dục THCS nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của
giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status