Đánh giá tác dụng của cao rễ đan sâm trên mô hình gây suy giảm học nhớ bằng tiêm beta amyloid 2535 vào não chuột - Pdf 56

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA CAO RỄ
ĐAN SÂM TRÊN MÔ HÌNH GÂY SUY
GIẢM HỌC NHỚ BẰNG TIÊM BETAAMYLOID 25-35 VÀO NÃO CHUỘT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI - 2019


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH
Mã sinh viên: 1401549

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA CAO RỄ
ĐAN SÂM TRÊN MÔ HÌNH GÂY SUY
GIẢM HỌC NHỚ BẰNG TIÊM
BETA-AMYLOID 25-35
VÀO NÃO CHUỘT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. PGS.TS Đào Thị Vui
2. NCS.DS Trần Thị Loan
Nơi thực hiện:
Bộ môn Dược lực


DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ ........................................................................ VI
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................. VII
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN.......................................................................................... 1

1.1.1. Định nghĩa ...................................................................................................... 1
1.1.2. Dịch tễ học: .................................................................................................... 1
1.1.3. Các thể sa sút trí tuệ ....................................................................................... 2

1.2.1. Mô hình gây suy giảm học nhớ liên quan đến giả thuyết β-amyloid ............ 5
1.2.2. Mô hình gây suy giảm học nhớ liên quan đến giả thuyết Cholinergic .......... 7
1.2.3. Các mô hình gây suy giảm học nhớ khác ...................................................... 8

1.3.1. Tên khoa học .................................................................................................. 8
1.3.2. Đặc điểm thực vật .......................................................................................... 9
1.3.3. Phân bố và bộ phận dùng ............................................................................... 9
1.3.4. Thành phần hóa học ....................................................................................... 9
1.3.5. Một số nghiên cứu về tác dụng dược lý của Đan sâm ................................. 10
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................ 14

I


2.1.1. Nguyên liệu nghiên cứu ............................................................................... 14
2.1.2. Động vật thí nghiệm ..................................................................................... 15

2.2.1. Dụng cụ, thiết bị ........................................................................................... 15
2.2.2. Thuốc và hóa chất nghiên cứu ..................................................................... 15

2.4.1. Triển khai mô hình gây suy giảm học nhớ thực nghiệm bằng β-amyloid ... 17
2.4.2. Đánh giá tác dụng của cao rễ Đan sâm trên mô hình đã triển khai.............. 22


Acetylcholinesterase

Acid salvianolic B

Sal B



Beta-amyloid

Aβ25-35

Beta-amyloid phân đoạn 25 – 35

β-amyloid

Beta-amyloid

β-amyloid 1-28

Beta-amyloid phân đoạn 1 – 28

β-amyloid 25-35

Beta-amyloid phân đoạn 25 – 35

β-amyloid 40

Beta-amyloid phân đoạn 40


N-methyl-D-aspartat

PUFA

Các acid béo chưa bão hòa đa (polyunsaturated fatty acids)

ROS

Các gốc oxy hoạt động (reactive oxygen species)

RCT

Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng
(Randomized Controlled Clinical Trial)

WHO

Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)

IV


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Tỷ lệ chuyển tiếp của các lô chuột gây suy giảm học nhớ bằng tiêm Aβ 25-35 vào não thất .................... 31
Bảng 3.2: Thời gian tiềm tàng vào buồng tối của các lô chuột gây suy giảm học nhớ bằng tiêm Aβ25-35 vào não
thất ......................................................................................................................................................................... 32
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của tiêm Aβ25-35 vào não thất đến hoạt độ enzym AChE vùng não trước và hồi hải mã ...... 33
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của tiêm Aβ25-35 vào não thất đến hàm lượng MDA vùng não trước và hồi hải mã........ 33
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của Aβ25-35 và donepezil đến tỷ lệ chuyển tiếp trong test mê lộ chữ Y ................................. 34

Sa sút trí tuệ là một hội chứng thoái hóa thần kinh có sự suy giảm nhận thức
và trí nhớ một cách nghiêm trọng, gây ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động hàng ngày
của người bệnh. Trong đó Alzheimer chiếm 60 – 80 % nguyên nhân gây sa sút trí tuệ
với đặc trưng bệnh lý liên quan đến sự xuất hiện của các mảng lão hóa và đám rối sợi
thần kinh. Alzheimer nói riêng và sa sút trí tuệ nói chung là các bệnh lý mạn tính
chưa có thuốc điều trị khỏi, các thuốc hiện nay được FDA chấp thuận mới chỉ dừng
lại ở việc cải thiện các triệu chứng của bệnh kèm theo đó là rất nhiều tác dụng phụ.
Sự giới hạn trong lựa chọn cùng độc tính của các thuốc hiện có gây ra rất nhiều khó
khăn trong điều trị, từ đó đặt ra vấn đề cấp thiết cần nghiên cứu và phát triển các
thuốc mới có nguồn gốc từ dược liệu hiệu quả hơn và ít độc tính hơn.
Để giải thích được nguyên nhân và tiến triển của bệnh, các nhà khoa học đã
đưa ra rất nhiều giả thuyết về cơ chế bệnh sinh, một trong số đó là giả thuyết Amyloid
được đề xuất năm 1991 cho rằng sự tích tụ quá mức của các beta-amyloid (β-amyloid)
hình thành nên các mảng não hóa là nguyên nhân cơ bản của bệnh [104]. Cho tới nay
đây vẫn được xem là giả thuyết chính để giải thích sinh bệnh học bệnh Alzheimer và
trở thành hướng nghiên cứu quan trọng cho các phương pháp điều trị tiềm năng [41].
Mô hình gây suy giảm học nhớ bằng truyền amyloid-beta vào não chuột chính là dựa
trên cơ sở của giả thuyết này và đã được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phát
triển các thuốc mới điều trị Alzheimer nói riêng và sa sút trí tuệ nói chung.
Đan sâm (Salvia miltiorrhiza Bunge) là một dược liệu từ lâu đã được sử dụng
phổ biến để điều trị các bệnh tim mạch và mạch máu não [133], [54]. Những năm gần
đây, Đan sâm còn được xem là một trong những dược liệu tiềm năng trong điều trị
các bệnh lý thoái hóa thần kinh, mà cụ thể là Alzheimer. Bằng chứng từ nhiều nghiên
cứu trên thế giới đã cho thấy các hoạt chất có trong Đan sâm như: tanshinon IIA,
danshenu, cryptotanshinon, acid salvianolic B,… có nhiều tiềm năng bảo vệ thần kinh
thông qua một số cơ chế như: ức chế tổng hợp β-amyloid [50], chống oxy hóa [100],
chống viêm [114], làm giảm quá trình chết tế bào [67],... Tuy nhiên, số lượng nghiên

VII


trí tuệ đang có xu hướng ngày càng gia tăng. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Việt
và cộng sự ở Thái Nguyên cho biết tỷ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ trong cộng đồng trên
60 tuổi là 7,9%, tỷ lệ này tăng lên rõ rệt theo nhóm tuổi, cứ 5 năm lại tăng gấp đôi
[8]. Theo số liệu nghiên cứu của Phạm Thắng, Lương Chí Thành về sa sút trí tuệ ở
Ba Vì, Hà Nội năm 2010, tỷ lệ người trên 60 tuổi bị sa sút trí tuệ là 4,5% [6]. Trong
khi đó, nghiên cứu của Lê Văn Tuấn và cộng sự, thực hiện từ tháng 9 năm 2010 đến
tháng 9 năm 2012 tại hai quận, huyện ở Hà Nội, cho kết quả tỷ lệ này là 4,24% [7].
Một nghiên cứu khác ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 của Vũ Anh Nhị xác định
được tỷ lệ sa sút trí tuệ ở người trên 60 tuổi là 4,8% [5].

1


1.1.3. Các thể sa sút trí tuệ
Sa sút trí tuệ là một hội chứng suy giảm nhận thức tiển triển theo sau rất nhiều
nguyên nhân. Có rất nhiều thể sa sút trí tuệ như: sa sút trí tuệ thể Alzheimer, sa sút trí
tuệ thể Lewy, sa sút trí tuệ thể thái dương, sa sút trí tuệ trong bệnh Parkinson,
Hungtington, Creutzfeldt-Jakob (CJD), sa sút trí tuệ trong bệnh suy giảm miễn dịch
ở người (ví dụ HIV), các bệnh chuyển hóa và nội tiết ( ví dụ suy giáp, lupus ban đỏ
hệ thống, tăng calci huyết, thiếu vitamin B12)…[121].
Trong đó thể Alzheimer là thể bệnh phổ biến nhất, chiếm tới 60 – 70% trong
các trường hợp. Bệnh Alzheimer là bệnh lý thoái hóa thần kinh không hồi phục, tiến
triển từ suy giảm trí nhớ tới mất trí nhớ hoàn toàn kèm theo sự thay đổi hành vi, mất
khả năng phân tích ngôn ngữ, mất nhận thức không gian, suy giảm các giác quan [43],
[53].
 Giả thuyết gây bệnh
Từ năm 1906 khi lần đầu tiên được mô tả bởi bác sĩ tâm thần và thần kinh học
người Đức Alois Alzheimer [119], đến nay các nhà khoa học vẫn chưa hiểu rõ hoàn
toàn nguyên nhân và tiến triển của bệnh Alzheimer. Từ những nghiên cứu đã tiến
hành, có một số giả thuyết cơ chế bệnh sinh đã được đặt ra:

từ thân tế bào đến một đầu sợi trục và quay ngược trở lại. Tau khi được phosphoryl
hóa giúp ổn định cấu trúc vi ống, vì thế tau còn được gọi là protein liên hệ với vi ống.
Ở bệnh nhân Alzheimer, tau bị phosphoryl hóa quá nhiều, bắt cặp với các sợi khác,
tạo thành các đám rối sợi thần kinh (neurofibrillary tangle) và làm tan rã hệ thống vận
chuyển của neuron.
- Giả thuyết stress oxy hóa
Stress oxy hóa là tình trạng nồng độ các gốc tự do cùng các sản phẩm oxy hóa
vượt quá nồng độ các chất chống oxy hóa bảo vệ của cơ thể. Não rất dễ bị tổn thương
do stress oxy hóa do đây là nơi có tỉ lệ tiêu thụ oxy cao, lại chứa nhiều acid béo không
bão hòa đa (PUFA) dễ bị oxy hóa nhưng thiếu hụt nhiều cơ chế chống oxy hóa mạnh
[118]. Khi gia tăng quá mức các gốc tự do, các acid béo chưa bão hòa do có các liên
kết đôi liên hợp tạo điều kiện cho quá trình peroxid hóa lipid, làm hủy hoại mô não.
Các gốc tự do cùng các sản phẩm peroxid hóa lipid tấn công vào các protein hoặc
acid nucleic như ADN hay ARN gây phá hủy và mất chức năng của các đại phân tử
3


này. Các gốc tự do làm cạn kiệt các chất chống oxy hoá, khiến cho hệ thống chống
oxy hoá giảm khả năng bảo vệ cơ thể chống lại tình trạng stress oxy hóa. Hậu quả là
quá trình oxy hóa càng diễn tiến trầm trọng [122], [123]. Markesbery trong các nghiên
cứu đã làm rõ vai trò của stress oxy hóa trong quá trình bệnh sinh gây thoái hóa các
tế bào thần kinh và tử vong của bệnh lý Alzheimer [118] [18].
- Giả thuyết Glutamat
Glutamat là một chất dẫn truyền thần kinh kích thích receptor N-methyl-Daspartat (NMDA) có vai trò trong học hỏi và ghi nhớ. Khi xảy ra sự chết tế bào hàng
loạt sẽ kích thích giải phóng glutamat quá nhiều, từ đó gây kích thích quá mức các
thụ thể NMDA dẫn đến phá hủy tế bào thần kinh, góp phần nặng thêm quá trình chết
tế bào [124].
 Các thuốc điều trị
- Các thuốc ức chế cholinesterase:
Dựa trên cơ sở giả thuyết cholinergic cho rằng sự suy giảm trí nhớ và thiếu hụt

không gian và phi không gian cũng như làm thay đổi hành vi của động vật thí nghiệm
tương tự như các triệu chứng quan sát thấy trong bệnh lý Alzheimer [95], [63]. Sự
suy giảm học nhớ này được đánh giá thông qua các test hành vi như: test mê lộ nước
Morris, test tránh né thụ động, test nhận diện đồ vật hay test mê lộ chữ Y... [95],
[112]. Mức độ suy giảm ghi nhận trong các nghiên cứu khác biệt tùy thuộc vào loại
β-amyloid sử dụng, chế độ liều, khu vực tiêm, khoảng thời gian từ khi đưa β-amyloid
vào não cho tới khi đánh giá [112].
1.2.1.1. Các loại β-amyloid được sử dụng trong các nghiên cứu
Có nhiều phân đoạn β-amyloid đã được sử dụng trong các nghiên cứu trên thế
giới khi triển khai mô hình này như: β-amyloid 40, β-amyloid 42, β-amyloid 25-35,
β-amyloid 1-28.
β-amyloid 40 và β-amyloid 42 – hai phân đoạn phổ biến nhất được tìm thấy
trên cả não người bình thường và trên bệnh nhân Alzheimer thường được các nghiên
cứu lựa chọn. Đoạn β-amyloid 40 mang tới hơn 90% cấu trúc phân tử peptid βamyloid là hướng nghiên cứu chính trong nhiều nghiên cứu in vivo, với kết quả cho
thấy vai trò của β-amyloid 40 trong việc phát triển các khiếm khuyết về nhận thức
mặc dù các ảnh hưởng này phụ thuộc vào liều β-amyloid 40 sử dụng [20], [81], [112].
5


β-amyloid 42 là phân đoạn quan trọng trong sự hình thành các mảng amyloid và
thường được xem là đoạn có độc tính nhất. Ảnh hưởng gây suy giảm học nhớ ngắn
hạn và dài hạn trên động vật thí nghiệm của β-amyloid 42 phụ thuộc vào liều [19],
[29], [62], [102], [115].
Hai phân đoạn β-amyloid ngắn hơn, β-amyloid 25-35 và β-amyloid 1-28, cũng
được các nghiên cứu ghi nhận khả năng gây suy giảm khả năng học nhớ trên chuột
và động vật gặm nhấm [19], [33], [44], [63], [95]. Trong đó, β-amyloid 25-35 là sản
phẩm của sự phân cắt β-amyloid 40 được tìm thấy trên não các bệnh nhân lớn tuổi
[57], [120], được xem là phân đoạn ngắn nhất thể hiện được hoạt tính sinh học của
cả chuỗi β-amyloid mà vẫn giữ nguyên độc tính như các phân đoạn dài [38], [73],
[120]. Vì lẽ đó, β-amyloid 25-35 thường được lựa chọn thay thế cho các phân đoạn

truyền bởi đây là một thủ thuật xâm lấn nhu mô não, hoặc do làm gia tăng áp lực nội
sọ não khi sử dụng các dung môi không có áp suất thẩm thấu xấp xỉ với dịch não tủy
(nonphysiological solvent) để hòa tan β-amyloid
+ Không đánh giá được tác động của các yếu tố quan trọng khác ngoài βamyloid đến tiến triển của bệnh như: các đám rối thần kinh (neurofibrillary tangles),
thay đổi mạch máu não (perturbations in vasculature), tuổi tác [112].
1.2.2. Mô hình gây suy giảm học nhớ liên quan đến giả thuyết Cholinergic
Từ khi việc thoái hóa các neuron hệ cholinergic ở nhân nền của não trước được
phát hiện xảy ra ngay trong giai đoạn sớm của bệnh Alzheimer và có mối liên quan
tới sự suy giảm nhận thức [71], [83], [91], [96] như đã trình bày trong phần giả thuyết
gây bệnh, mô hình gây suy giảm hệ cholinergic đã được sử dụng để nghiên cứu vai
trò của hệ cholinergic đối với chức năng nhận thức của não bộ [21], [27] cũng như
đánh giá hiệu quả của các thuốc mới tiềm năng trong điều trị Alzheimer nói riêng và
sa sút trí tuệ nói chung.
 Nguyên tắc: Mô hình được xây dưng dựa trên giả thuyết hệ cholinergic gây rối
loạn chức năng bộ nhớ được đề xuất bởi Davies và Maloney (1976) [83] . Có
nhiều biện pháp nhằm làm suy giảm cấp tính hoạt động hệ cholinergic : kích điện
(electrocoagulation) hay sử dụng các chất kích thích (excitotoxins), các chất độc
với hệ cholinergic (scopolamin), AF64A.

7


 Ưu điểm: Quy trình đơn giản, có thể áp dụng để đánh giá hiệu quả của nhiều nhóm
thuốc có cơ chế khác nhau như: các thuốc tăng cường hoạt tính hệ cholinergic
[26], [101], các thuốc hỗ trợ hoạt động hệ thần kinh (nootropic) [31], [109],...
 Nhược điểm: Không áp dụng để đánh giá hiệu quả của các liệu pháp điều trị hướng
đích do không gây ra được các đặc điểm bệnh lý đặc trưng như: các mảng lão hóa
(senile plaques), đám rối sợi thần kinh (neurofibrillary tangle),...
1.2.3. Các mô hình gây suy giảm học nhớ khác
Từ những giả thuyết gây bệnh Alzheimer đã được đề xuất, có rất nhiều mô

Nội, Phú Thọ, Thanh Hóa [9], ngoài ra còn có ở Trung Quốc, Nhật Bản [3].
1.3.3.2. Bộ phận dùng
Rễ phơi khô hay sấy khô của cây Đan sâm (Salvia miltiorrhiza Bunge) [3].
1.3.4. Thành phần hóa học
Các thành phần hóa học có trong Đan sâm có thể phân thành 3 nhóm: các thành
phần tan trong nước, các thành phần tan trong dầu và các thành phần khác [70], [129].
- Các thành phần tan trong nước: Chủ yếu là các acid phenolic. Từ năm 1984
cho tới năm 1997, LiLN và các cộng sự đã phân lập và xác định được 15 hợp chất
acid phenolic gồm các acid polyphenolic (acid salvianolic A, B, C, D, E) và các hợp
chất có liên quan (acid rosmarinic, danshenu, protocatechuic aldehyd, protocatechuic
acid) [70], [116], [129].
- Các thành phần tan trong dầu: Hơn 60 hợp chất diterpen [129] đã được phân
lập và xác định từ dịch chiết Đan sâm, chủ yếu là các dẫn chất nhóm tanshion
(tanshion I, IIA, IIB), crytotanshinon. Trong số đó, tanshion IIA và cryptotanshion
đã được nghiên cứu kỹ lưỡng có nhiều tác dụng dược lý [54], [61], [69], [70].
9


- Các thành phần khác: Baicalin, β-sitosterol, ursolic acid and daucosterol
(phân lập từ dịch chiết cồn), 5,3-dihydroxy-7,4-dimethoxy flavanon (phân lập từ dịch
chiết ethyl acetat), vitamin E và tanin.
1.3.5. Một số nghiên cứu về tác dụng dược lý của Đan sâm
1.3.5.1. Trên thế giới
Các nghiên cứu đã chỉ ra các thành phần tan trong nước (các acid salvianolic
và danshenu) và tan trong dầu (các tanshinon và cryptotanshinon) của Đan sâm đều
có nhiều tác dụng sinh học [132] như: chống oxi hóa [100], kháng khuẩn [113], kháng
ung thư [69], chống viêm [105], điều trị các bệnh tim mạch [16], [30], [47], [110]…
 Một số nghiên cứu liên quan đến giả thuyết β-amyloid:
- Nghiên cứu in vivo:
Năm 2013, nghiên cứu của Lee và các cộng sự đánh giá tác dụng của acid

tau, giảm sự chuyển p35 sang p25 , ức chế sự vận chuyển cdk5 từ nhân tế bào vào tế
bào chẩt cũng như ức chế hoạt động của cdk5 [42]
Năm 2013, nghiên cứu của Cao và các cộng sự đề xuất vai trò ức chế quá trình
tích tụ β-amyloid của acid salvianolic A thông qua ngăn chặn quá trình hình thành
cấu trúc dạng phiến gấp nếp (β-sheet) của β-amyloid từ cấu trúc dạng xoắn (α-helice),
làm phân tách các sợi β-amyloid, bảo vệ các tế bào u nguyên bào thần kinh SH-SY5Y
trước độc tính của β-amyloid 42, làm giảm sự tê liệt thần kinh do β-amyloid gây ra
trên dòng tế bào CL4176 chủng biến đổi gen Caenorhabditis elegans [75].
Năm 2013, nghiên cứu của Wang và cộng sự cho thấy tanshinon I và tanshinon
IIA có thể ức chế sự hình thành β-amyloid, làm phân tách các sợi Aβ và bảo vệ các
tế bào SH-SY5Y trước độc tính của β-amyloid nhờ khả năng gắn lên đầu C của cấu
trúc phiến gấp nếp (β-sheet) của β-amyloid dạng pentamer, từ đó ngăn cản sự tích tụ
β-amyloid [55].
Như vậy, mặc dù trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu in vitro đi sâu vào
đánh giá và bước đầu chứng minh tác dụng ức chế sự tạo mảng β-amyloid của các
dẫn chất có hoạt tính sinh học trong Đan sâm nhưng số lượng những nghiên cứu
invivo triển khai theo mô hình gây bệnh bằng β-amyloid còn rất hạn chế.
 Một số nghiên cứu khác:

11


Năm 2007, Kim và cộng sự đã khẳng định vai trò của tanshinon trong quá trình
làm giảm sự đối kháng cạnh tranh của scopolamin với acetylcholin trên thụ thể
muscarinic dẫn tới suy giảm khả năng học nhớ bằng cách tăng cường dẫn truyền tín
hiệu thần kinh thông qua cơ chế ức chế AChE và hoạt hóa các thụ thể
GABA/benzodiazepin [106].
Năm 2010, nghiên cứu của Wong và cộng sự đã cho thấy khả năng ức chế quá
trình suy giảm học nhớ của cryptotanshinon (được phân lập từ dịch chiết Đan sâm)
trên mô hình gây bệnh bằng scopolamin thông qua test hành vi mê lộ chữ Y [60].


13


CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Nguyên liệu nghiên cứu
2.1.1.1. Dược liệu nghiên cứu
Thân rễ của cây Đan sâm (Salvia mitilorrhiza Bunge, Lamiaceae) thu hái tại
Tân Lập, Mộc Châu, Sơn La được giám định tên khoa học là Salvia mitilorrhiza
Bunge, họ Lamiaceae; và lưu mẫu tại Bảo tàng thực vật. Số tiêu bản lưu tại nơi lưu
mẫu là HNU 022613 (Phụ lục 1).
Dược liệu được định lượng hàm lượng tanshinon IIA và acid salvianolic B
bằng phương pháp HPLC đạt tiêu chuẩn theo quy định Dược điển V (Phụ lục 3).
2.1.1.2. Chuẩn bị các mẫu nghiên cứu
- Chuẩn bị cao toàn phần (CTP): Bột dược liệu Đan sâm được chiết bằng dung
môi ethanol tuyệt đối (tỷ lệ dược liệu : dung môi 1 : 10) theo phương pháp chiết ngấm
kiệt. Ngâm dược liệu trong 10 ngày, sau đó rút dịch chiết với tốc độ 1,5 L/giờ đồng
thời bổ sung dung môi mới cho đến khi dịch chiết thu được nhạt màu thì dừng lại.
Gộp dịch chiết, lọc qua vải và màng lọc rồi cất thu hồi dung môi dưới áp suất giảm
(áp suất 100 mmHg và nhiệt độ 55°C), sấy chân không ở 55°C, thu được 1520,32 g
CTP (hàm ẩm 13,64%).
- Chuẩn bị cao phân đoạn (CPĐ): 760 g CTP (hàm ẩm 13,64%) được hòa tan
trong nước cất theo tỷ lệ 1:1, sau đó đem chiết phân đoạn với dung môi n-hexan. Dịch
chiết phân đoạn được cất thu hồi dung môi dưới áp suất giảm (áp suất 120 mmHg và
nhiệt độ 55°C), sau đó sấy chân không ở 55°C thu được 19.93 g CPĐ n-hexan hàm
ẩm 2,81% và 701,50g cắn nước hàm ẩm 19,42%.
- Xác định liều nghiên cứu
Từ 760 g CTP Đan sâm (hàm ẩm 13,64%) chiết phân đoạn n-hexan thu được
19,93g CPĐ n-hexan (hàm ẩm 2,81%). Do đó, CTP Đan sâm liều 600 mg/kg, 1200


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status