Bước đầu đánh giá tác dụng của rễ bá bệnh (eurycoma longifolia j ) lên sự suy sinh dục gây ra bởi natri valproate (deparkin) trên chuột thực nghiệm - Pdf 29

Bộ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THÙY
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG
CỦA RẺ BÁ BỆNH {EURYCOMA
LONGIFOLIA J.) LÊN sự SUY SINH
DỤC GÂY RA BỞI NATRI
VALPROATE (DEPARKIN) TRÊN
CHUỘT THựC NGHIỆM
• • •
KHÓA LUẶN TÓT NGHIỆP Dược sĩ
Người hướng dẫn:
Ths. Dương Thị Ly Hương
Nơi thực hiện:
1. Bộ môn Dược lực Trường Đại học
Dược Hà Nội
2. Bộ môn Sinh học phân tử và Di
truyền Trưòng Đại học Y Hà Nội
HÀ NỘI - 20
TRƯỜNG ĐH DỮỢC KÀ NỘĨ
T H I / V i Ệ N i
l^gày

tháng

năm 20

SỐĐKCB:

LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin được bày tỏ tới

3
1.1.3. Sự thường gặp 4
1.1.4. Nguyên nhân

.
5
1.1.5. Phân loại

.
7
1.1.6. Triệu chứng và chẩn đoán 8
1.1.7. Điều trị 11
a. Mục tiêu điều trị 11
b. Điều trị cụ thể 11
c. Tác dụng không mong muốn 13
d. Chống chỉ định 15
1.2. Vài nét về Bá bệnh {Eutycoma longi/olia J.) 14
CHƯƠNG 2. Đ ố i TƯỢNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 19
2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị 19
2.1.1. Nguyên liệu, đối tượng 19
2.1.2. Đối tượng 19
2.1.3. Hóa chất 19
2.1.4. Thiết bị 19
2.2. Phương pháp nghiên cứu 19
2.3. Địa điểm nghiên cứu 20
2.4. Xu lý số liệu 21
CHƯƠNG 3. KÉT QUẢ THựC NGHIỆM 22
3.1. Tác dụng của bá bệnh lên số lượng và độ di động, tỷ
iệ Sống của tinh trùng chuột 23

Trang
3.1
Ảnh hưởng của bá bệnh lên sự thay đổi hình thái tinh trùng
chuột
26
3.2
Ảnh hưỏng của bá bệnh lên sự thay đổi trọng lượng tinh
hoàn chuột
27
3.3
Anh hưởng của bá bệnh lên sự thay đôi trọng lượng túi
tinh, tuyến Cowper, cơ nâng hậu môn chuột
28
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
1.1
Cơ chế điều hòa bài tiết testosterone
7
2.1
Đặc điểm thực vật của Eurycoma longifolia J. var. lam 1
16
2.2
Đặc điểm thực vật của Eurycoma longifolia J. var. lam 2
16
3.1
Anh hưởng của Bá bệnh lên sự thay đôi trọng lượng chuột
22
3.2

Trung Quốc. Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về tác dụng cải thiện
khả năng và ham muốn tình dục của rễ bá bệnh trên động vật thực nghiệm
6], [19], [29], cũng như tác dụng kháng kí sinh trùng sốt rét, ức chế tế
bào ung thư phổi [36], [18]. ở Việt Nam, rễ bá bệnh đã được chứng minh
có tác dụng kiểu androgen trên chuột thực nghiệm với liều 0,3g/kg,
0,7g/kg, l,Og/kg [2], Ngoài ra, rễ bá bệnh cũng với liều trên đã làm tăng
ham muốn tình dục, tăng hiệu quả giao cấu trên hành vi tình dục ở chuột
thực nghiệm [6].
Hiện nay, trên thị trường có nhiều sản phẩm từ Bá bệnh được sử
dụng nhằm tăng cường khả năng tình dục cho nam giới, đặc biệt ở đối
tượng suy sinh dục muộn. Tuy nhiên, ở nước ta chưa có nghiên cứu chứng
minh tác dụng của bá bệnh trong bệnh suy sinh dục muộn.
Để làm sáng tỏ cơ sở khoa học của ứng dụng này, cần phát triển một
mô hình suy sinh dục muộn trên động vật thực nghiệm, dựa trên cơ sở đó
đánh giá tác dụng của bá bệnh trên chức năng sinh dục ở bệnh suy sinh dục
muộn ở nam giới.
Natri valproate là một thuốc chống động kinh đa cơ chế, là lựa chọn
đầu tay cho điều trị các thể động kinh. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu
chứng minh natri valproate làm suy giảm khả năng sinh sản của nam theo
hướng tác dụng vào trục dưới đồi tuyến yên [23], [34^.
Với các lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Bước đầu đánh giá tác
dụng của rễ bá bệnh (Eurycoma longigfolia J.) lên sự suy sinh dục gây ra
bởi Natri valproate (Deparkin) trên chuột thực nghiệm” với mục tiêu :
1. Đánh giá tác dụng của rễ Bá bệnh lên số lượng và độ di động,
tỷ lệ sống của tinh trùng chuột nhắt trắng bị gây suy sinh dục
bằng Deparkin.
2. Đánh giá tác dụng của Bá bệnh lên hình thái tinh trùng chuột
nhắt trắng bị gây suy sinh dục bằng Deparkin.
3. Đánh giá tác dụng của rễ Bá bệnh lên sự thay đổi trọng lưọng
cơ quan sinh sản của chuột nhắt trắng bị gây suy sinh dục

1.1.3. Tình trạng mắc bệnh
Số lượng bệnh nhân đến khám có liên quan đến suy sinh dục muộn
ngày càng gia tăng với các triệu chứng mệt mỏi, đỏ bừng mặt, giảm ham
muốn tình dục, rối loạn cương Theo thống kê của đơn vị nam học bệnh
viện đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, suy sinh dục muộn chiếm tỉ
lệ khoảng 30% đàn ông ở độ tuổi từ 50 trở lên [39]. Hầu hết nam giới ở lứa
tuổi này đều có những triệu chứng của suy sinh dục, tuy nhiên mức độ biểu
hiện ở từng người là khác nhau. Theo nghiên cứu EMAS (European male
aging Study, 2010) tại các thành phố lófn của châu Âu, với 8416 người
tham gia nghiên cứu thì có tới 3369 người (chiếm 40%) được chẩn đoán là
suy sinh dục muộn (ở tuổi trung bình là 59,7 tuổi) [20]. Trong đó theo
nghiên cứu của Gerhard Schreiber (2006) 70% nam giới ở lứa tuổi trên 60
mắc suy sinh dục muộn [21]. Tỉ lệ suy sinh dục muộn ở nam giới gia tăng
theo tuổi, tuổi càng cao tỉ lệ mắc bệnh càng lớn [1]. ở Việt Nam, hiện nay
chưa có con số thống kê đầy đủ về tỷ lệ mắc suy sinh dục muộn ở nam giới
trong toàn xã hội.
1.1.4. Nguyên nhân
về phương diện sinh lý, người ta đã thấy testosteron giảm dần ở
nam giới lớn tuổi, testosteron toàn phần giảm khoảng 1,6%, testosteron tự
do và testosteron có hoạt tính sinh học giảm 2-3% mỗi năm [30], đặc biệt
từ tuổi 45 trở đi, sự thiếu hụt này càng thể hiện rõ. Việc suy giảm nội tiết tố
dẫn đến hàng loạt triệu trứng, các biến đổi bất lợi trên các cơ quan, đi kèm
với lối sống, chế độ ăn uống, luyện tập không hợp lý, căng thẳng trong
cuộc sống sẽ làm giảm chất lượng cuộc sống của nam giới lứa tuổi trung
niên và người lón tuổi [38’.
Nội tiết tố testosteron giảm do các nguyên nhân sau [5]:
> Tuổi càng cao, các cơ quan , trong đó có tuyến yên- tinh hoàn càng
bị suy thoái
> Bị các bệnh làm rối loạn nhịp hoạt động của hệ thống trục hạ đồi-
tuyến yên gây nên rối loạn sự sản xuất các nội tiết tố có liên quan

Testosteron được điều hòa theo cơ chế Feedback âm tính [1], thể hiện ở
hình 1.1
(-) (-)
Vùng dưới đồi
GnRH
(-)
Tuyên yên
(-)
Lh
FSI
Tế bào Ley dig
Ong sinh tinh
Tê bào Sertoli
testosteron nhibin
testosteron
Hình 1.1 Co’ chế điều hòa bài tiết testosterone [1],
1.1.5. Phân loại
Dựa theo cơ chế bệnh sinh, suy sinh dục ở nam giới được chia thành
hai loại: suy sinh dục nguyên phát và suy sinh dục thứ phát.
• Suy sinh dục nguyên phát: có nguyên nhân khởi phát tại tinh hoàn.
Do tinh hoàn bị suy yếu nên không còn khả năng tiết đủ testosteron,
trong khi đó các hormon hướng sinh dục không giảm. Các xét
nghiệm cho thấy nồng độ testosteron giảm, nồng độ LH và FSH cao
[26].
• Suy sinh dục thứ phát: có nguyên nhân khởi phát tại vùng dưới đồi-
tuyến yên. Do vùng dưới đồi- tuyến yên bị suy yếu nên việc tiết các
hormon hướng sinh dục bị suy giảm, do đó không kích thích được
tinh hoàn bài tiết testosteron. Các xét nghiệm cho thấy nồng độ
testosteron, FSH và LH đều giảm [26].
ở nam giới lớn tuổi, do các hệ cơ quan trong cơ thể đều bị suy thoái

• Tâm thần; trầm cảm, thay đổi thói quen cư xử, tâm lý, xúc cảm
> Các triệu chứng cận lâm sàng:
Cách chính xác nhất để phát hiện tình trạng suy giảm testosteron
trong máu là đo nồng độ testosteron trong máu.
Tiêu chuẩn vàng để xác định suy sinh dục muộn ở nam giới là lượng
testosteron trong máu hạ thấp dưới mức bình thường. Sự suy giảm
testosteron tự do và có tác dụng sinh học thường sớm hơn và trầm trọng
hơn so với testosteron toàn phần [26]. Do đó, đo nồng độ testosteron tự do
và có hoạt tính sinh học là cách chính xác nhất để phát hiện suy sinh dục
muộn. Tuy nhiên, dạng testosteron tự do trong máu có nồng độ rất thấp, và
định lượng testosteron tự do cần phải sử dụng phương pháp cân bằng thẩm
thấu (equilibrium dialysis) rất mất thời gian và tốn kém, không phải labo
nào cũng có thể thực hiện được [26], [38], do đó trong thực tế người ta đo
nồng độ testosteron toàn phần và nồng độ SHBG, từ đó suy ra nồng độ
testosteron tự do theo công thức;
[testosteron có hoạt tính sinh học] = [testosieron toàn phần] -
[SHBGJ.
Ngoài ra, định lượng testosteron toàn phần cũng là một thông số cho
biết tình trạng suy sinh dục, mặc dù không chính xác như nồng độ
testosterone tự do và có hoạt tính sinh học, song đây là kỹ thuật đơn giản
nhất, có thể thực hiện được ở mọi phòng thí nghiệm và cho kết quả tương
đối chính xác, do đó trên thế giới hiện nay thưòrng dựa vào nồng độ
testosteron toàn phần để chấn đoán bệnh suy sinh dục [38],
Bình thưcmg, mức testosteron toàn phần trong máu là > llnmol/lit
(315ng/dL), mức testosteron tự do và testosteron có tác dụng sinh học
(bioavailable) lần lượt là 0,22nmol/lit (6,5ng/dL) và 4,89nmol/lit
(140ng/dL) [26],
Lượng testosteron dao động trong ngày, vì vậy nên đo lượng
testosteron nhiều lần và nên đo vào sáng SÓTO, tốt nhất là từ 7h đến lOh
sáng, vì lúc đó lượng testosteron ở mức cao nhất [26].

testosteron toàn phần trong máu < 8nm ol/L hoặc nồng độ testosteron tự
do < 180 pmoỉ/L thì việc điều trị bổ sung testosteron là bắt buộc [38], nếu
nồng độ testosteron toàn phần trong máu trong khoảng 8-12 nmol/L thì
11
việc điều trị bổ sung testosteron được xem xét sau khi loại trừ các nguyên
nhân khác [38].
Tất cả nam giới trước khi tiến hành điều trị bổ sung testosteron cần
sàng lọc ung thư tiền liệt tuyến bởi testosteron kích thích phát triển tiền liệt
tuyến, nếu có ung thư tiền liệt tuyến từ trước thì việc bổ sung testosteron có
thể kích thích ung thư phát triển [26], [38]
Việc chọn liều, dạng bào chế của testosteron phụ thuộc vào từng
bệnh nhân, dược động học của các dạng bào chế và giá thành. Nói chung,
liều testosteron sử dụng đối với người già thường thấp hơn người trẻ vì
testosteron chuyển hóa chậm hơn ở người già [26].
♦> Các dạng thuốc dòng testosteron:
• Dạng viên
Undecanoat testosteron 40mg/viên
• Liều tấn công : 3-4 viên/ngày X 30 ngày
• Liều duy trì ; 1-2 viên/ngày X 30 ngày[21]
Mesterolon 25mg/viên:
• Liều tấn công : 4 viên/ngày X 30 ngày
• Liều duy trì : 2 viên/ngày X 30 ngày[ 1 ’
ưu điểm: Dạng viên dễ sử dụng, giá thành thấp hơn các dạng bào
chế khác [26], [30],
Nhưọ'c điểm: Bị chuyển hóa bước một qua gan cao [30], do đó sinh
khả dụng thấp, khó đạt được nồng độ testosteron sinh lý, phải dùng nhiều
liều trong ngày, dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như thức ăn, đồ uống [30 .
• Dạng tiêm
Mesterolon 250 mg/tuần X 4 tuần; tiêm bắp, thường dùng cách 2-3
tuần tiêm môt lần.

Giá thành cao. Có khả năng dính sang người khác khi tiếp xúc.
• Chất dính vào niêm m ac:
Dùng để dính phía trên răng 30mg X 2 lần / ngày [26].
ưu điểm; Nồng độ testosteron hằng định, không bị rửa trôi [26].
Nhược điểm: Chất dính niêm mạc có thể gây khó nhận biết thức ăn
và kích ứng lợi [16 .
1.1.7.3. Tác dụng không mong muốn:
Một số tác dụng không mong muốn có thể gặp như: [30], [38]:
■ Trứng cá hoặc da dầu
■ Giữ nước nhẹ
■ Kích thích tổ chức tiền liệt tuyến: có thể gây triệu chứng rối loạn tiểu
tiện
■ Kích thích làm to vú
■ Làm chứng ngủ ngáy tồi tệ hoTi
■ Giảm kích thước tinh hoàn
Các bất thường về xét nghiệm xảy ra ở điều trị bổ sung testosteron như
[38]:
• Thay đổi nồng độ cholesterol
• Tăng số lượng hồng cầu
• Giảm số lượng tinh trùng
• Gây vô sinh (đặc biệt là ở nam giới trẻ tuổi)
1.1.7.4. Chống chỉ định
Những người đang có bệnh [21];
• u lành phì đại tiền liệt tuyến
• Ung thư tiền liệt tuyến
• Ung thư vú
14
1.2. Vài nét về Bá bệnh (Eurycoma longifolia J.)
Bá bệnh có tên khoa học là Eurycoma longifolia J. thuộc họ Thanh
thất (Simaroubaceae). Bá bệnh còn có tên gọi khác là Mật Nhân, Mật

• Các hợp chất triterpen loại tirucalan: niloticin; dihydroniloticin;
piscidinol A; boujotinolon A; episalein A; melianon và hyspidron
[8].
16
• Các xanthin 6 — on được phân lập từ vỏ và gỗ: 9,10 — dimethoxy -
xanthin - 6 - on: 10 - hydroxyl - 9 methoxy - xanthin - 6 - on ; 11
hydroxy - 10 - methoxy - xanthin - 6 - on; 5,9 - dimethixyxanthin
- 6 - on và 9 - methoxy - 3 methyl - xanthin - 5,6 - dion [11].
Từ rễ Bá bệnh ở Malaysia và Thái Lan, người ta phân lập và xác định được
cấu trúc của 65 hợp chất khác nhau thuộc loại quassinoid, triterpenoid,
alkaloid [7].
ở Việt Nam, đã xác định được thành phần 2 chất đắng có trong vỏ
bá bệnh là eurycomalacton và 2,6 - dimethoxybenzoquinon [8],[1 r .
> Công dụng:
Theo y học cổ truyền, vỏ thân dùng chữa các trưòng hợp ăn không
tiêu, nôn mửa, tiêu chảy. Bá bệnh còn dùng chữa sốt rét, giải độc do uống
rượu và chữa đau mỏi lưng do thấp, vỏ phơi khô tán bột, ngâm rượu làm
thành viên hay sắc uống. Quả chữa lỵ. Lá nấu nước tắm chữa ghẻ lở [8].
Phụ nữ có thai không nên dùng [11].
Theo một số tài liệu, ở Campuchia, rễ Bá bệnh được dùng để chữa
vàng da, suy kiệt [3]. ở Malaysia, Indonexia, Bá bệnh được biết đến như
một vị thuốc hạ sốt, chữa sốt rét, lở miệng, và là một phương thuốc kích
dục cho nam giới [1 1 .
> Tác dụng dược lý:
Nghiên cứu của Chan KL và các cộng sự (2004) đã chứng minh thành
phần eurycomanon, 13,21-dihydroeurycomanon, 13 alpha(21)-
epoxyeurycomanon, eurycomalacton , 9-methoxycanthin-6-on có trong rễ
bá bệnh có tác dụng kháng kí sinh trùng sốt rét [18].
Chế phẩm gồm 3 dược liệu là Bá Bệnh {Eurycoma longifolia J.),
Trâm Bầu {Combretum qudrangulare Kuxy) và cỏ trinh nữ {Mimosa

Hà Nội thu hoạch, sơ chế, chiết xuất và chuẩn hóa cung cấp.
2.1.2. Đối tượng
Chuột nhắt trắng; chuột nhắt trắng đực non, khỏe mạnh, 4-5 tuần
tuổi, do Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung ưong cung cấp.
2.1.3. Hóa chất
- Deparkin: Viên nén Deparkin do công ty Sanofi Synthelabo cung
cấp, có thành phần là natri valproate 500mg và tá dược vừa đủ, hòa
tan trong nước tạo hỗn dịch cho chuột uống, 1 ml hỗn dịch tương
đưong 50mg natri valproate.
- NaCIO.9%
2.1.4. Thiết bị
- Thiết bị phân tích tinh trùng: máy Hamilton IVOS
- Môi trưòng nuôi dưõng tinh trùng: dung dịch F|0 do công ty GIBCO
cung cấp.
2.2. Phương pháp nghiên cửu
Chuột nhắt trắng đực 4 -5 tuần tuổi sau khi được nuôi ổn định, đạt
cân nặng trung bình từ 25 ± 2g, được chia ngẫu nhiên thành các lô nghiên
cứu:
Lô 1 ; uống NaCl 0.9% liên tục trong 5 tuần
Lô 2 : uống Deparkin liều 500mg/kg liên tục trong 5 tuần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status