Bước đầu đánh giá tác dụng của viên nang hồi xuân hoàn trên bệnh nhân RLCD (do thận dương hư) - Pdf 19

Bước đầu đánh giá tác dụng của viên nang “Hồi xuân hoàn”
trên bệnh nhân RLCD (do thận dương hư)
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn cương dương (Erectile dysfunction-ED) là một cụm từ được
hội Nam học thế giới dùng để thay thế cho các từ bất lực, liệt dương, thiểu
năng sinh dục nam giới…từ năm 1997 [trích từ 1].
Rối loạn cương dương nam là tình trạng bệnh lí được biểu hiện dưới dạng:
- Không có ham muốn tình dục nên dương vật không cương cướng để
tiến hành giao hợp.
- Có ham muốn tình dục nhưng dương vật không đủ độ cứng để đưa
được vào âm đạo tiến hành giao hợp.
- Dương vật cương cứng không đúng lúc, khi định tiến hành cuộc giao
hợp thì dương vật không thể cương cứng lên được, nhưng trong hoàn cảnh tự
nhiên hoàn toàn không bị kích thích (đang ngồi hợp, đang đi trên đường, nửa
đêm chợt tỉnh giấc. . . thì dương vật lại cương rất cứng).
- Dương vật cương cứng trong thời gian rất ngắn có thể đưa vào âm đạo
nhưng sau đó mền dần và xỉu hẳn, cuộc giao hợp không thực hiện được trọn vẹn.
Theo các Y văn cho biết vào lứa tuổi 40 – 70 có 50% người nam bị rối
loạn cương dương (RLCD), nó có thể xảy ra sớm hơn ở lứa tuổi 20 – 30 [trích
từ 8].
Bệnh mang tính xã hội, tuy không gây tử vong cũng như không cần phải
xử trí cấp cứu, nhưng đã dần dần ảnh hưởng tới cuộc sống tinh thần con
người. Trong tâm tư sâu thẳm của người bệnh luôn bị ám ảnh một mặc cảm
bất lực của một phế nhân hết sức nặng nề. Trạng thái mất cân bằng này sinh
ra chán nản trong công tác, trong các sinh hoạt giao tiếp đời thường, trầm cảm
1
trong suy tư và là nguồn gốc của nhiều chứng bệnh khác về tâm thần
[trích từ 1]. Nhiều bi kịch gia đình đã xảy ra, nhiều cặp vợ chồng phải sống ly
thân hoặc ly hôn, có những cặp vợ chồng đã cố gắng gượng chung sống thì
hàng loạt các bi kịch khác lại xảy ra [trích từ 2].
Tại Việt Nam số bệnh nhân đến viện để chữa bệnh này ngày càng nhiều

Tại Việt Nam theo báo cáo của Phạm Văn Trịnh và cộng sự năm 1997
công trình điều tra dịch tễ trên 764 nam giới đã có vợ tỷ lệ liệt dương là 15,7%.
Tại Pháp một mẫu nghiên cứu trên 986 nam giới tuổi từ 18 đến 94 cho
tỷ lệ chung bị RLCD là 42 % trong đó 35% từ 18 đến 35 tuổi, 47% từ 36 đến
94 tuổi.
Tại Nhật, năm 1995 mẫu nghiên cứu của Sato trên 3490 nam giới đã có
vợ cho tỷ lệ RLCD: dưới 2,5% lứa tuổi 20-44; 10% lứa tuổi 45-59; 23% lứa tuổi
60-64; 30,4 % lứa tuổi 64-69; trên 44,3% lứa tuổi trên 70 [trích dẫn từ1].
RLCD liên quan đến nghề nghiệp, các bệnh mãn tính như bệnh tim
mạch, đái đường, suy thận mãn tính, suy gan, bệnh Alzheimer.
Ngoài ra RLCD là biến chứng thông thường của chấn thương, xạ trị và
phẫu thuật vùng chậu. RLCD còn liên quan với hóa chất và thuốc sử dụng dài
ngày chất estrogen để điều trị ung thư tuyến tiền liệt, một số thuốc trực tiếp
điều trị các bệnh đái tháo đường, huyết áp cao, tim mạch, thần kinh, tiêu hóa,
…cũng là những nguyên nhân gây ra RLCD [trích dẫn từ 1].
3
1.1.2. Sinh lý cương.
Cương dương vật chủ yếu là một hiện tượng huyết động tại dương vật,
dưới sự kiểm soát của hệ thần kinh thực vật. Tuy nhiên cơ chế cương còn bị
chi phối bởi hệ thần kinh não, hệ nội tiết, sinh hóa,…nói một cách khác có
nhiều yếu tố tác động vào cương dương vật [trích từ 8].
* Nhân tố huyết động
- Giai đoạn dương vật sìu: các cơ trơn của động mạch dương vật và nhất
là của thể hang bao bọc xung quanh các xoang co thắt do đó ngăn chặn
máu chảy vào các xoang.
- Giai đoạn cương dương vật: ngược lại, trong giai đoạn cương, các cơ
trơn trên giãn nên giúp máu đổ dồn vào các xoang. Sự tăng dung tích
máu và tăng áp lực trong xoang chèn ép các tĩnh mạch ngăn chặn máu
trở về đại tuần hoàn.
* Nhân tố thần kinh: Sự kích thích cương có thể khởi động bằng hai đường:

dụng trực tiếp vào sự cương dương vật, androgen có hoạt tính vào vùng dưới
đồi, vùng này đóng vai trò quan hệ vào sự điều chế cương. Ở người nhiều tuổi
nồng độ testosteron huyết tương giảm, nên ham muốn sắc dục cũng kém dần.
1.1.3. Nguyên nhân RLCD.
RLCD bị ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Xác định được
đúng nguyên nhân gây ra RLCD là một khâu hết sức quan trọng, bởi vì như
vậy phương hướng chỉ đạo cho việc điều trị mới có kết quả.
1.1.3.1. RLCD do hormon:
Những hormon ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng sinh dục ở nam giới
gồm có: LHRH, LH, FSH, prolactin, testosteron.
5
FSH cùng với testosteron tác động lên tế bào sertoli ở tinh hoàn để sản
sinh ra tinh trùng.
Lượng testosteron máu vừa đủ có tác dụng làm tăng sự ham muốn tình
dục gây những kích thích dây chuyền lên vỏ não làm dương vật cương cứng.
Việc định lượng FSH, LH và testosteron cho phép phân biệt được giảm
năng tuyến sinh dục nguyên phát hay thứ phát.
1.1.3.2. RLCD do tâm thần:
- Do stress: cuộc sống quá căng thẳng về tinh thần [1]
- Do bị các chấn động tâm thần đột ngột trong cuộc sống.
- Do một số bệnh về tâm thần như : hysterie, tâm thần phân liệt
1.1.3.3. RLCD do thần kinh:
- Bị nhiễm độc thần kinh, bệnh đái tháo đường, chấn thương tủy sống.
- Sau các phẫu thuật : tiểu khung bàng quang, bẹn bìu, các phẫu thuật
cắt đốt nội soi bàng quang – niệu đạo [1].
- Một số bệnh ở vùng não làm tổn thương huyết mạch não: động kinh,
liệt toàn thân do giang mai, máu tụ dưới màng não, nhũn não, bệnh
parkinson, bệnh Alzheimer…
- Một số thuốc dùng quá nhiều, những thuốc này ảnh hưởng đến hệ
thần kinh trung ương và ngoại vi: các kháng histamine, thuốc chống tăng

- Thuốc vận mạch tiêm thẳng vào vật hang: papaverin, Alprostadil
(PGE 1), thuốc phối hợp: papaverin 30 mg + phentolamin 10 mg.
- Thuốc vận mạch cho vào niệu đạo: Alprostadil còn có thể cho thẳng
vào niệu đạo.
1.1.4.3. Điều trị bằng phẫu thuật:
- Phẫu thuật trên hệ thống động mạch, hệ thống tĩnh mạch.
- Phẫu thuật tạo hình các bệnh làm biến dạng hình thể giải phẫu dương vật.
1.1.4.4. Điều trị bằng dụng cụ: Máy Vacuum xiết dương vật.
1.2. TỔNG QUAN THEO YHCT
1.2.1. Những cơ sở lý luận về sinh lý sinh dục của YHCT.
1.2.1.1. Học thuyết tạng phủ.
YHCT cho rằng cơ thể người gồm lục phủ, ngũ tạng và phủ kỳ hằng.
Tạng thận: trong ngũ hành thuộc thủy , vị trí ở hạ tiêu, vùng thắt lưng.
Tạng thận có nhiều chức năng, trong đó có chức năng quan trọng là :
thận tàng tinh, chủ về sinh trưởng và phát dục của cơ thể. [trích từ 4].
- Tinh là vật chất cơ bản để cấu tạo nên cơ thể
- Tinh có thể hóa thành khí, tinh của thận hóa thành khí gọi là thận khí.
- Nội kinh đặc biệt coi trọng sinh hoạt phòng sự đối với sinh mệnh con
người và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tâm sinh lý của cơ thể.
1.2.1.2. Thuyết mệnh môn.
Trong Nạn kinh mệnh môn là “trong hai thận thì thận bên phải là mệnh
môn, bên trái là thận”. “mệnh môn là nguyên khí tinh thần, cho nên nam giới
lấy đó để tàng tinh, nữ giới lấy đó để sinh con”.
8
Theo Hải Thượng Lãn Ông: “ mệnh môn ở giữa hai thận tên riêng của
nó là nguyên dương, chân dương, long hỏa, mệnh môn hỏa, là thiếu hỏa ở
trong thủy ” [trích từ 6].
1.2.1.3. Tinh.
Nguồn gốc của tinh.
- Tinh tiên thiên

sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng lạnh, ngủ ít, hồi hộp, liệt dương, di tinh,
mạch trầm nhược [5],[8].
- Phương pháp chữa: ôn bổ hạ nguyên, an thần
- Bài thuốc: đại bổ nguyên tiễn gia giảm, Hữu quy hoàn, ban long hoàn,
bát vị quế phụ gia giảm [5], [11], [12].
* Thấp nhiệt
- Triệu chứng: liệt dương, khát nước, tiểu tiện đỏ, rêu lưỡi vàng dày,
mạch nhu sác.
- Phương pháp điều trị: tư tâm, thanh nhiệt.
- Bài thuốc: bát vị tri bá gia giảm.
10
1.2.3. Tổng quan về thuốc trong nghiên cứu.
1.2.3.1. Tổng quan về viên nang “ Hồi Xuân Hoàn”.
- Viên nang Hồi xuân hoàn được lấy từ công thức bài thuốc “ Hữu Quy
Ẩm” là bài thuốc cổ phương trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư của Trương Cảnh
Nhạc.
- Thành phần các vị thuốc có trong viên nang hồi xuân hoàn:
Thục địa 80g Hoài sơn 40g
Kỷ tử 40g Sơn thù 40g
Đỗ trọng 40g Phụ tử chế 20g
Nhục quế 20g. Cam thảo 20g
- Công dụng: ôn bổ thận dương, bổ tinh huyết.
- Điều trị: thận dương không đủ, mệnh môn hỏa suy, bệnh lâu năm khí
suy thần mệt, sợ lạnh, tay chân lạnh, hoặc dương nuy, di tinh, không có con,
hoặc phân lỏng không thành khuôn, hoặc đái són, hoặc lưng mỏi gối đau, chi
dưới phù.
- Phân tích bài thuốc: nhục quế, phụ tử chế để ôn bổ thận dương, bổ
tinh tủy; thục địa , hoài sơn, sơn thù, đỗ trọng để tư âm, ích thận dưỡng can
bổ tỳ. Cam thảo để bổ khí và điều hòa các tính thuốc.
11

Vỏ cây quế
Cay ngọt Bổ can, thận, kích
thích tiêu hóa, tăng
cường hô hấp và
tuần hoàn
Phụ tử chế (Aconitum sinense Paxt)
Họ mao lương (Ranunculaceae)
Là rễ củ con của cây ô đầu
Rất cay,
nóng, hơi
ngọt và đắng
Ôn bổ mệnh môn,
bổ tỳ thận
Đỗ trọng (Eucommia ulmoides Oliv)
Họ Đỗ trọng (Eucommiaceae)
Vỏ cây
Ngọt hơi
cay tính ôn
Bổ can, thận
Cam thảo (Glycyrhizae uralensis Fish,
Fabaceae)
Họ cánh bướm
Thân cây
Ngọt, bình Bổ khí
12
CHƯƠNG 2
CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CHẤT LIỆU NGHIÊN CỨU.
Viên nang HXH 500mg được nghiên cứu chiết xuất tại Viện dược liệu
trung ương và đóng nang tại Công ty cổ phần Dược liệu Mediplantex. Thuốc

Độ 1: mền xỉu
Độ 2: dương vật nở to
Độ 3: cương đủ để giao hợp được
Độ 4: cương cứng hoàn toàn
2.2.2. YHCT : Bệnh nhân dương nuy do thận dương hư.
- Vọng: hình thái bệu, sắc nhợt, chất lưỡi nhợt, rêu trắng.
14
- Văn: tiếng nói nhỏ, hơi thở nhỏ.
- Vấn: đau lưng, người lạnh, chân tay lạnh; ăn uống đồ ấm nóng; liệt
dương; ngũ canh tả, tiểu đêm.
- Thiết: mạch:trầm nhược, chân tay lạnh. [trích từ 3, 10].
2.2.3. Tiêu chuẩn loại trừ.
* YHHĐ :
- RLCD do tăng prolactin và estradiol.
- Bệnh nhân bị bệnh: tăng huyết áp, bệnh tim - mạch, bệnh hô hấp, gan
thận, bệnh tâm thần.
- Bệnh nhân tổn thương thực thể tại dương vật, tinh hoàn.
- Bệnh nhân bỏ thuốc 7 ngày trong đợt điều trị hoặc bỏ điều trị, bệnh
nhân không kiểm tra được.
* YHCT:
Bệnh nhân RLCD do:
- Thận âm hư: hình thể gầy, sắc đỏ, chất lưỡi đỏ, ít rêu, nhức trong
xương, ngũ tâm phiền nhiệt, họng khô khát nước, ăn uống đồ mát, đổ mồ hôi
trộm, táo bón, tiểu vàng, trằn trọc khó ngủ, đau lưng, di tinh, liệt dương,
mạch trầm tế sác [trích từ 3, 10].
- Tâm tỳ hư: mệt mỏi, da xanh, mặt vàng, bụng chướng, ăn kém, ngủ ít,
tim đập hồi hộp, liệt dương, sắc lưỡi nhợt, mạch trầm tế [trích từ 3, 10].
- Thấp nhiệt: liệt dương, khát nước, tiểu tiện đỏ, rêu lưỡi vàng nhợt,
mạch: nhu sác [trích từ 3, 10].
2.3. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU.

gan, thận, đái tháo đường…
- Khám bộ phận sinh dục ngoài và tuyến tiền liệt để loại trừ các tổn
thương thực thể tại dương vật, tinh hoàn, phì đại tuyến tiền liệt.
* YHCT :
- Khám lâm sàng theo vọng, văn, vấn, thiết, quy nạp các hội chứng bệnh
theo bát cương, tạng phủ để xác định bệnh nhân RLCD do thận dương hư.
- Loại trừ các bệnh nhân RLCD do thận âm hư, tâm tỳ hư, thấp nhiệt.
2.4.2. Nghiên cứu cận lâm sàng.
* Xét nghiệm hormon:
- Định lượng LH và testosteron huyết thanh trước và sau điều trị.
* Các xét nghiệm:
- Thử phản ứng HIV
- Xét nghiệm: AST, ALT, Ure, Creatinin trước và sau điều trị.
2.4.3. Cách dùng thuốc trong nghiên cứu.
Dùng viên nang Hồi xuân hoàn, mỗi ngày 30 viên chia làm 02 lần
sáng, chiều, uống sau bữa ăn 1 giờ, liên tục trong 60 ngày.
2.4.4 Cách theo dõi.
- Thời gian nghiên cứu kéo dài khoảng 60 ngày.
- Đánh giá các triệu chứng lâm sàng trước điều trị và sau điều trị.
- Đánh giá các triệu chứng cận lâm sàng trước điều trị và sau điều trị.
- Ngoài ra sau đợt điều trị, bệnh nhân vẫn được theo dõi tiếp (chủ yếu
bằng điện thoại) để xác định sau khi dừng thuốc, tác dụng điều trị của thuốc
có duy trì tốt hoặc không.
2.5. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ.
17
Ba mức độ: tốt, trung bình, không kết quả, dựa vào thang điểm quốc tế
về chức năng cương dương vật IIEF.
+ Loại tốt:
- Bệnh nhân giao hợp tốt: IIEF ≥ 60 điểm hoặc điểm số trong bảng điểm
IIEF tăng rõ rệt: từ mức độ nặng lên mức độ nhẹ, bệnh nhân tự tin, thoải

3.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÓM BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU.
Bảng 3.1. Phân bố theo nhóm tuổi(n=32)
Tuổi Số bệnh nhân Tỷ lệ (%) p
24 – 32 (1) 22 68.75 p
1-2
< 0.05
p
1-3
< 0.05
p
1-4
< 0.05
33 – 40 (2) 5 15.63
41 - 48 (3) 3 9.38
49 - 56 (4) 2 6.24
Tổng 32 100
Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu 32.28 + 7.35. Độ tuổi chiếm tỷ lệ
cao nhất là 24 – 32 tuổi, chiếm 68.75%. Số bệnh nhân giữa các nhóm tuổi
khác gần tương đương nhau.
Bảng 3.2. Nghề nghiệp và trình độ học vấn của nhóm bệnh nhân nghiên
cứu (n=32)
Nghề nghiệp và trình độ học vấn Số bệnh
nhân
Tỷ lệ
(%)
p
Cán bộ đại học và sau đại học (kỹ sư, bác
sỹ, nhà báo, nhà văn, nghiên cứu khoa
học) (1)
14 43.75


- Cả 32 bệnh nhân (100%) đều có tâm lý muốn dấu bệnh, ngoài bác sỹ
điều trị ra, bệnh nhân không muốn cho ai khác biết là mình bị bệnh.
- 81,2% (26 bệnh nhân ) rơi vào tình trạng lo lắng, chán nản, thậm chí
hoang mang, tự ti.
- 18,8% (6 bệnh nhân ) có tâm lý ổn định hơn nhưng vẫn tha thiết muốn
được chữa bệnh.
Bảng 3.4. Tình trạng gia đình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu (n=32)
Tình trạng gia đình Số bệnh nhân Tỷ lệ (%) p
Ổn định 20 62.5
p < 0.05
Không ổn định 12 37.5
Tổng 32 100
37,5% (12 bệnh nhân ) có tình trạng gia đình không ổn định (bất hòa
hôn nhân ). RLCD là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến bất hòa hôn nhân,
mâu thuẫn giữa vợ và chồng càng làm RLCD kéo dài.
3.2. KẾT QUẢ THEO YHHĐ.
Bảng 3.5. Kết quả điều trị qua bảng điểm IIEF (n=26)
Các chỉ số Trước điều trị Sau điều trị p
IIEF 26.54 + 15.81 54.31 + 16.34 < 0,001
Chức năng cương 11.27 + 5.80 21.54 + 6.02 < 0,001
21
Ham muốn tình dục 3.54 + 2.34 7.35 + 2.35 < 0,001
Thỏa mãn giao hợp 4.54+ 3.54 10.54 + 3.89 < 0,001
- Trước điều trị tổng số điểm IIEF trung bình 26.54 ± 15.81. Sau đợt điều
trị, tổng số điểm IIEF tăng rõ rệt với trước điều trị là 54.31 + 16.34, sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
- Sau đợt điều trị điểm của lĩnh vực chức năng cương, ham muốn tình
dục, thỏa mãn giao hợp đều tăng so với trước điều trị, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê ở mức p < 0,001.

Trung bình 9 34.62 7 26.92 p > 0.05
Nhẹ 5 19.23 11 42.31 p < 0.05
Không còn RLCNC 0 0 8 30.77 p < 0.05
Tổng 26 100 26 100

- Số lượng bệnh nhân có RLCNC mức độ nặng và nhẹ sau điều trị 60
ngày giảm rõ rệt so với trước điều trị (p < 0.05), sau điều trị không có bệnh
nhân RLCNC mức độ nặng.
- Số bệnh nhân RLCNC mức độ trung bình có giảm sau điều trị nhưng
chưa có ý nghĩa thống kê.
- Sau điều trị có 30.77% bệnh nhân không còn RLCNC.
24
Bảng 3.8. Sự thay đổi mức độ RLCD của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
(n = 26)
Mức độ RLCD
Trước điều trị Sau điều trị
P
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
Nặng 12 46.15 0 0 p < 0.05
Trung bình 7 26.92 6 23.08 p > 0.05
Nhẹ 7 26.93 8 30.77 p > 0.05
Không còn RLCD 0 0 12 46.15 p < 0.05
Tổng 26 100 26 100
- Số bệnh nhân RLCD mức độ nặng sau điều trị 60 ngày giảm rõ rệt so
với trước điều trị, không còn bệnh nhân nào RLCD mức độ nặng.
- Số bệnh nhân RLCD mức độ nhẹ và trung bình sau điều trị 60 ngày
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị.
- Sau 60 ngày điều trị có 46.15% bệnh nhân không còn RLCD, tăng rõ rệt,
có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị (p > 0.05).
Bảng 3.9. Sự thay đổi mức độ của nồng độ testosteron huyết thanh trước và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status