BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NHẬT LỆ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƢ
KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT VÀ THỰC TIỄN
THI HÀNH TẠI HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)
Chuyên ngành
: Luật Kinh tế
Mã số
: 8380107
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung
Hà Nội - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
:
Giải phóng mặt bằng
GCNQSDĐ :
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
UBND
Uỷ ban nhân dân
:
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1. Đơn giá đất ở sau điều chỉnh của dự án
Trang 62
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................... 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.......................................................... 3
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu..................................... 4
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................ 5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .............................................. 6
2.1.3. Điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất ............................................................................................... 37
2.1.4. Quy định cụ thể về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ......... 39
2.1.5. Quy định về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ............................ 46
2.1.6. Quy định về tái định cư ................................................................ 50
2.1.7. Trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất ............................................................................................... 52
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi
Nhà nƣớc thu hồi đất tại huyện Ba Vì..................................................... 57
2.2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến việc
thi hành pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại huyện Ba Vì ... 57
2.2.2. Tình hình thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất tại huyện Ba Vì ............................................ 61
2.2.3. Đánh giá quá trình thi hành pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại huyện Ba Vì .............................. 71
Chƣơng 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ, TÁI
ĐỊNH CƢ QUA THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI HUYỆN BA VÌ, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI ................................................................................................. 76
3.1. Định hƣớng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất qua
thực tiễn tại huyện Ba Vì .......................................................................... 76
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất ... 79
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất ....................................................................... 79
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất........................................ 83
triển khai trên địa bàn huyện Ba Vì đặt ra yêu cầu thu hồi một diện tích đất rất lớn
nên công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng là hoạt động được Ủy ban nhân dân
thành phố Hà Nội cũng như Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì đặc biệt quan tâm chỉ đạo
sát sao. Thời gian qua, bên cạnh những kết quả tích cực thì việc thực thi pháp luật bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại huyện Ba Vì còn bộc lộ một
số hạn chế, vướng mắc như giá đất tính bồi thường còn thấp dẫn đến tình trạng một
số người dân gây khó khăn cho công tác giải phóng mặt bằng hay chính sách hỗ trợ
khi Nhà nước thu hồi đất chưa thực sự đảm bảo ổn định đời sống của người dân...
2
Điều này rất cần có sự đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ và hệ thống nhằm đưa ra
các giải pháp khắc phục các tồn tại của việc thực thi pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất và góp phần nâng cao hiệu quả thi hành Luật Đất
đai năm 2013.
Với lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Pháp luật về bồi thƣờng, hỗ trợ, tái
định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất và thực tiễn thi hành tại huyện Ba Vì, thành
phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một trong
những chế định quan trọng của pháp luật đất đai, bởi khi đi vào cuộc sống nó trực
tiếp “đụng chạm” đến lợi ích của người bị thu hồi đất, lợi ích của cộng đồng và lợi
ích của nhà đầu tư. Vì vậy thời gian qua chế định này nhận được nhiều sự quan tâm
nghiên cứu của giới khoa học pháp lý, có nhiều chuyên đề nghiên cứu, trên các tạp
chí, các bài báo, bài viết đề cập đến nội dung này. Có thể kể đến sách chuyên khảo
“Pháp luật về định giá đất trong bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam”,
Doãn Hồng Nhung chủ biên (2014); đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (2013)
“Pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất - thực trạng và
hướng hoàn thiện”, PGS.TS Nguyễn Thị Nga, Đại học Luật Hà Nội; chuyên đề
định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở mức độ khác nhau, đặt trong bối cảnh cả trước và
sau khi Luật Đất đai 2013 ra đời; có công trình, bài viết đã nghiên cứu một cách hệ
thống, toàn diện; có những công trình đi sâu vào nghiên cứu về từng vấn đề cụ thể
cùng với việc đánh giá thực tiễn thi hành tại một số địa phương và trên cả nước. Tuy
nhiên, đến nay, vẫn chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về việc thi hành
pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện
Ba Vì, thành phố Hà Nội. Vì vậy, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những tư tưởng khoa
học và một số vấn đề mang tính lý luận từ các công trình khoa học của các nhà
nghiên cứu trước, cùng với việc đi sâu vào phân tích, đánh giá thực tiễn thi hành chế
định này với những yếu tố đặc thù trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, tác
giả tiếp tục nghiên cứu, đưa ra cái nhìn tổng thể, xuyên suốt pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất qua đó chỉ ra những tồn tại, vướng mắc,
hạn chế sau 4 năm thi hành Luật Đất đai 2013 và đề xuất một số giải pháp góp phần
hoàn thiện pháp luật và hiệu quả thực thi pháp luật trong thực tiễn tại huyện Ba Vì nói
riêng và cả nước nói chung. Bởi vấn đề thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
luôn là vấn đề nhạy cảm, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, vướng mắc ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống của người dân.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất;
4
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất; các văn bản hướng dẫn thực hiện của Ủy ban nhân
dân thành phố Hà Nội về chế định này trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái
Nhà nước thu hồi đất ở cả hai mặt lý luận và thực tiễn thi hành. Trên cơ sở đó, đề
xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi chế định này
trong thực tiễn.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn xác định những nhiệm vụ
nghiên cứu sau đây:
- Phân tích khái niệm thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; mục đích ý
nghĩa của việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất, làm rõ khái niệm, đặc điểm, cơ sở lý luận và thực tiễn
của việc xây dựng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất; khái quát lịch sử hình thành và phát triển của chế định này ở nước ta; tìm hiểu
pháp luật của một số nước trên thế giới về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất và những gợi mở cho Việt Nam.
- Tìm hiểu, đánh giá nội dung cơ bản của pháp luật quy định về vấn đề này;
nghiên cứu thực tiễn thi hành tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó, chỉ
ra những vướng mắc bất cập trong quá trình thực hiện và đề xuất các giải pháp góp
phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên cả nước nói chung và huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội nói riêng.
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau đây:
* Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mac – Lê nin;
* Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh,
phương pháp lịch sử…được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề
lý luận về pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
khi Nhà nước thu hồi đất.
Chương 2: Nội dung pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất và thực tiễn thi hành tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn thi hành
tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƢỜNG, HỖ
TRỢ, TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
1.1. Lý luận về bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất
1.1.1. Khái niệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1.1. Thu hồi đất
Với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai, Nhà nước có quyền giao
đất, cho thuê đất và có quyền thu hồi đất. Thu hồi đất là biện pháp pháp lý quan
trọng nhằm bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là người đại
diện. Nếu như giao đất, cho thuê đất là cơ sở để làm phát sinh quan hệ pháp luật đất
đai, phát sinh quyền sử dụng của người sử dụng thì thu hồi đất có hậu quả pháp lý
hoàn toàn ngược lại, đó là chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai, chấm dứt quyền sử
dụng đất của người sử dụng.
Theo từ điển Tiếng Việt thì thu hồi được hiểu là thu về lại, lấy lại cái trước
đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác1. Hiểu theo nghĩa này, thu hồi
đất chính là việc Nhà nước lấy lại quyền sử dụng đất đã giao cho các tổ chức, cá
nhân sử dụng, hoặc lấy lại quyền sử dụng đất do người khác lấn, chiếm đất của Nhà
nước. Với cách hiểu này thì việc Nhà nước thu hồi đất chỉ phù hợp trong các trường
hợp tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; còn các trường
hợp quyền sử dụng đất hình thành từ việc Nhà nước công nhận, giao đất có thu tiền
chức hay UBND xã phường, thị trấn, trong khi theo quy định pháp luật, người sử
dụng đất bị thu hồi còn có thể là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, hơn nữa đây mới
là chủ thể phổ biến bị thu hồi đất.
Để phù hợp hơn, Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất là
việc Nhà nước ra quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước
trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về
đất đai” (khoản 11 Điều 4). Với khái niệm này cho thấy, bằng quyền lực của Nhà
nước với vai trò đại diện chủ sở hữu đối với đất đai, Nhà nước có quyền thu lại quyền
sử dụng đất của tất cả các chủ thể sử dụng đất mà trước đó Nhà nước đã trao quyền
sử dụng đất cho họ như: giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Bên
cạnh đó, để đảm bảo sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật đất đai, Nhà nước có
quyền chấm dứt quyền sử dụng đất đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai.
Từ những khái niệm trên đây, cho thấy thu hồi đất có một số đặc trưng cơ
bản sau:
- Thu hồi đất là việc thực hiện quyền định đoạt đất đai của Nhà nước với vai
trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và được pháp luật đất đai quy định;
- Thu hồi đất xuất phát từ một yêu cầu cụ thể (thu hồi đất do nhu cầu vì lợi
ích chung như mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích
quốc gia, công cộng) hoặc trong một hoàn cảnh cụ thể (do vi phạm pháp luật đất đai
hay hết thời hạn sử dụng đất, người sử dụng đất trả lại đất);
9
- Thu hồi đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện bằng một
quyết định hành chính có tên gọi là quyết định thu hồi đất nhằm làm chấm dứt
quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với một diện tích đất cụ thể;
- Thu hồi đất không chỉ chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân đối với một mảnh đất nhất định mà còn gây ra những hậu quả xã hội
cần phải giải quyết, đó là người bị thu hồi đất bị mất chỗ ở hoặc mất đất sản
10
những vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành phố cũng đề cập vấn đề bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất.
Luật Đất đai 1987 và Luật Đất đai 1993 sử dụng thuật ngữ “đền bù thiệt hại”
thay cho thuật ngữ “bồi thường” khi Nhà nước thu hồi đất. Mặc dù pháp luật không
đưa ra giải thích chính thức song có thể hiểu “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu
hồi đất là việc trả lại những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra, tương xứng với giá
đất hoặc công lao mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất trong quá trình sử dụng.
Tuy nhiên, việc “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện chỉ đơn
giản là việc Nhà nước đền bù thiệt hại do hành vi thu hồi đất gây ra cho người sử
dụng đất mà không đi kèm sau đó việc thực hiện các chính sách hỗ trợ, tái định cư.
Hơn nữa, với thuật ngữ “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất, cho người ta
nghĩ ngay đến việc phải được đền bù 100% giá trị của mảnh đất bị thu hồi (trả lại
đầy đủ, tương xứng với sự mất mát hoặc vất vả), trong khi giá trị ban đầu của đất
đai không do con người tạo ra mà họ chỉ tạo ra giá trị tăng thêm của đất đai (do
người sử dụng đất đầu tư vào đất). Bởi vậy, bắt đầu từ thời điểm thực hiện Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, cụm từ “bồi thường”đã được
được sử dụng thay cho cụm từ “đền bù thiệt hại” 4.
Khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai 2003 quy định: “Bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu
hồi cho người bị thu hồi đất”. Tuy nhiên, quy định này chưa thật sự chặt chẽ và
chưa thể hiện được đầy đủ những giá trị thiệt hại mà Nhà nước sẽ bồi thường khi
thu hồi đất. Bởi lẽ, giá trị thiệt hại đó không chỉ là giá trị quyền sử dụng đất mà còn
phải tính giá trị thiệt hại về tài sản có trên đất, ngoài ra còn cả những thiệt hại vô
hình khác không thể đo đếm được như là môi trường sống của cả cộng đồng, điều
kiện học tập, các dịch vụ, tiện ích sinh hoạt… mà Nhà nước phải dùng thêm cơ chế
hỗ trợ mới bù đắp được một cách trọn vẹn những thiệt hại do thu hồi đất gây ra. Vì
vậy, tại khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai 2013 về giải thích từ ngữ quy định rõ: “Bồi
thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích
nhiệm của Nhà nước đối với sự hi sinh, mất mát của người bị thu hồi đất cho những
lợi ích chung của đất nước, của cộng đồng, đóng vai trò bù đắp vào khoảng trống
mà các quy định về bồi thường chưa giải quyết được. Bởi khi Nhà nước thu hồi đất,
mặc dù đối tượng bị thu hồi đất chỉ là một diện tích đất, song thiệt hại đối với người
dân không chỉ nằm ở những mét vuông đất. Ngoài các thiệt hại hữu hình về giá trị
quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi; còn là các thiệt hại vô
hình khác như mất ổn định cuộc sống, mất tư liệu sản xuất gắn bó từ bao đời, phải
học nghề mới, thay đổi việc làm, thiệt hại về mặt tinh thần…
Tại khoản 7 Điều 4 Luật Đất đai 2003 quy định: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới,
bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới”. Khái niệm này đã
được Luật Đất đai 2013 sửa đổi theo hướng đảm bảo mục đích cơ bản của hỗ trợ đó
là giúp đỡ người bị thu hồi đất sớm ổn định cuộc sống: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản
xuất và phát triển” (khoản 14 Điều 3).
12
Đối với thuật ngữ “tái định cư” tại các văn bản quy phạm pháp luật được sử
dụng nhiều, tuy nhiên đến thời điểm này lại chưa có bất kỳ văn bản nào giải thích
cụ thể nội hàm của khái niệm “tái định cư”. Theo Điều 4 Nghị định số
197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất thì tái định cư được giải thích là: “Người sử dụng đất
khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này mà phải di chuyển chỗ ở
thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:
1. Bồi thường bằng nhà ở.
2. Bồi thường bằng giao đất ở mới.
3. Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.”
Luật Đất đai 2013, tại điểm c khoản 2 Điều 83 quy định về việc hỗ trợ trong
hưởng rất lớn đến sự ổn định về chính trị. Khi bị thu hồi đất thì quyền và lợi ích hợp
pháp của người sử dụng đất trực tiếp bị xâm hại. Họ không chỉ mất quyền sử dụng
đất mà còn buộc phải di chuyển chỗ ở. Hậu quả là cuộc sống thường nhật của họ bị
đảo lộn. Do vậy, người bị thu hồi đất thường phản ứng gay gắt, quyết liệt thông qua
việc khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài nếu không được bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư thỏa đáng. Các khiếu kiện về đất đai nói chung và khiếu
kiện về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng tiềm ẩn
nguy cơ gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và dễ bị kẻ xấu
lợi dụng kích động, lôi kéo nhân dân không đồng thuận với chủ trương, chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước; cho nên giải quyết tốt vấn đề bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư là thực hiện tốt chính sách an dân để phát triển kinh tế xã hội góp phần
vào việc duy trì, củng cố sự ổn định về chính trị, ngăn ngừa nguy cơ nảy sinh các
xung đột xã hội.
1.1.2.2. Về phương diện kinh tế - xã hội
Thông qua việc thu hồi đất, Nhà nước có được một quỹ đất cần thiết đáp ứng
nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, phát triển các cơ sở kinh
tế, công nghiệp, các cơ sở sản xuất - kinh doanh…Qua đó làm tăng tính hấp dẫn của
môi trường đầu tư; kêu gọi sự đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước phục
vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn cho
thấy các dự án chậm triển khai thực hiện theo tiến độ đề ra có nguyên nhân do công
tác giải phóng mặt bằng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không nhận được sự đồng
thuận từ phía người bị thu hồi đất. Xét dưới góc độ kinh tế, dự án chậm triển khai
thực hiện ngày nào là chủ đầu tư, các doanh nghiệp bị thiệt hại đáng kể về lợi ích
kinh tế, người lao động không có việc làm trong khi doanh nghiệp vẫn phải trả
lương, trả chi phí duy trì các hoạt động thường xuyên…Vì vậy, thực hiện tốt công
tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là tạo điều kiện thuận
lợi để doanh nghiệp sớm có mặt bằng triển khai các dự án đầu tư góp phần vào việc
thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế và nâng cao tính hấp dẫn của môi trường, đầu tư
cao cả và mang đầy tính nhân văn là phục vụ và chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh
của Nhân dân. Đặt trong ý nghĩa đó, khi Nhà nước thu hồi đất của người dân để sử
dụng bất kì vào mục đích gì (cho dù sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế) thì Nhà nước phải có bổn phận
15
và nghĩa vụ bồi thường, hỗ trợ cho họ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người sử dụng đất để họ sớm ổn định cuộc sống.
Thứ ba, xét trên phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người sử dụng
đất là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Hơn
nữa trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, mọi chủ thể trong xã hội bao gồm Nhà
nước, công dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội…đều bình đẳng với nhau
trước pháp luật. Rõ ràng, khi Nhà nước thu hồi đất mà làm phương hại đến lợi ích
hợp pháp của người sử dụng đất thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại cho họ.
1.2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.
Thành tựu hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước là kết quả của
quá trình đổi mới tư duy mà hạt nhân cơ bản là đổi mới tư duy về sở hữu tài sản. Để
giải phóng mọi năng lực sản xuất của người lao động, tạo ra một động lực mới cho
sản xuất kinh doanh, Đảng ta đã xác định đổi mới cơ chế quản lý đất đai, từng bước
xác lập địa vị làm chủ của hộ gia đình, cá nhân đối với đất đai thông qua việc giao
đất cho họ sử dụng ổn định, lâu dài và mở rộng các quyền năng cho người sử dụng
đất: quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa
kế quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Kể từ đây quyền sử dụng đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai được chủ sở hữu đất
pháp luật đất đai Việt Nam và được hiểu về mặt lý luận như sau: “Pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là tổng hợp các quy phạm
pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong
quá trình bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, nhằm giải quyết hài hoà lợi ích của
Nhà nước, lợi ích của của chủ đầu tư và của người bị thu hồi đất”.
1.2.2.2. Đặc điểm pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ nhất, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất chịu sự ảnh hưởng và chi phối bởi hình thức sở hữu toàn dân về đất đai.
Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai nên Nhà nước có
quyền phân bổ và điều chỉnh đất đai cho các mục tiêu kinh tế, xã hội. Trên cơ sở đó,
Nhà nước có quyền thu hồi đất của người này để chuyển giao cho người khác. Tuy
nhiên với vai trò là chủ sở hữu đại diện duy nhất đối với đất đai, nên để tránh sự
lạm quyền, tuỳ tiện trong thu hồi và bồi thường khi thu hồi đất, pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định quyền của Nhà nước
trong việc ra quyết định thu hồi đất trong những trường hợp thật sự cần thiết vì mục
đích quốc phòng an ninh, mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng; đồng thời pháp luật quy định rõ về các nguyên tắc, điều kiện bồi
thường, trình tự thủ tục thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư…
17
Thứ hai, cơ sở của việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong pháp luật về thu
hồi đất không chỉ dựa trên những thiệt hại vật chất thực tế mà người dân phải gánh
chịu khi Nhà nước thu hồi đất, mà phải tính đến những tổn hại phi vật chất ở thời
điểm thu hồi và trong tương lai mà người dân phải đối mặt. Bởi đối với người bị thu
hồi đất, đất bị thu hồi có thể chính là nơi ở, là nơi họ mưu sinh bằng công việc sản
xuất kinh doanh.
Thứ ba, pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
phải giải quyết hài hoà mâu thuẫn giữa lợi ích “công” của Nhà nước, của xã hội và