BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VƢƠNG KHÁNH HUY
THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Định hƣớng ứng dụng
HÀ NỘI – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VƢƠNG KHÁNH HUY
THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
: Cổ phần
MTV
: Một thành viên
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
BLDS
: Bộ luật dân sự ban hành ngày 24/11/2015, có hiệu lực kể
từ ngày 01/01/2017
BLTTDS
: Bộ luật tố tụng dân sự ban hành ngày 25/11/2015 có hiệu
lực kể từ ngày 01/7/2016
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN ...................... 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm của thế chấp: ...................................................... 7
1.1.1. Khái niệm về thế chấp: ............................................................... 7
1.1.2 Đặc điểm của thế chấp ....................................................................... 9
1.2. Khái niệm, đặc điểm pháp lý của quyền tài sản .............................. 10
2.3.1.5. Quy định đối với quyền hưởng dụng và quyền bề mặt: .................. 40
2.3.1.6. Thế chấp quyền tài sản hình thành từ hợp đồng mua bán: ...... 41
2.3.1.7. Thế chấp quyền sở hữu trí tuệ: ................................................. 44
2.3.1.8. Thế chấp quyền đòi nợ: ............................................................. 45
2.3.1.9. Thế chấp quyền phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: .... 47
2.3.2. Những vƣớng mắc của hệ thống pháp luật hiện hành về xử lý quyền
tài sản thế chấp .......................................................................................... 49
CHƢƠNG III: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN
TÀI SẢN ......................................................................................................... 51
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền tài sản ................ 51
3.1.1. Hoàn thiện các quy định về thế chấp quyền tài sản nhằm khắc phục
những bất cập, kẽ hở của pháp luật khi vận dụng vào thực tế .................. 51
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền tài sản phải gắn với việc
hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật ........................................ 51
3.1.3. Hoàn thiện các quy định về thế chấp quyền tài sản phải đƣợc đồng
bộ với hoàn thiện cơ chế về biện pháp bảo đảm: ...................................... 52
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền tài sản và xử lý
tài sản bảo đảm........................................................................................... 53
3.2.1. Xác định quyền tài sản là tài sản thế chấp ...................................... 53
3.2.2. Xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản ........................................... 56
KẾT LUẬN .................................................................................................... 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 63
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2
Luận văn thạc sỹ của Trần Lê Hƣng (2017), Thế chấp quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự, Đại học
Luật Hà Nội. Luận văn đã tổng hợp và khái quát đƣợc một số vấn đề lý luận
cơ bản của đối tƣợng nghiên cứu; phân tích và làm rõ thực trạng hệ thống quy
định của pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;
tác giả phần nào làm rõ thực trạng hoạt động thế chấp quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua nhiều
vụ việc sƣu tầm; tác giả cũng đã đề xuất đƣợc một số giải pháp hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Luận văn thạc sỹ của Phạm Vân Anh (2017), Thế chấp nhà ở hình
thành trong tương lai để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng, Đại học Luật Hà
Nội. Luận văn đã phân tích đƣợc một số vấn đề lý luận về nhà ở hình thành
trong tƣơng lai, hợp đồng tín dụng và việc thế chấp nhà ở hình thành trong
tƣơng lai bảo đảm cho hợp đồng tín dụng; luận văn đã nghiên cứu, phân tích
những quy định của pháp luật hiện hành về thế chấp nhà ở hình thành trong
tƣơng lai để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng; luận văn cũng đã chỉ ra đƣợc
những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành liên quan đến thế chấp nhà ở
hình thành trong tƣơng lai bảo đảm cho hợp đồng tín dụng.
Luận văn của Phùng Bá Đáng, (2011), Đăng ký giao dịch bảo đảm và
thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm trong pháp luật Việt Nam,
Đại học Luật Hà Nội.
Luận văn của Vũ Thị Thu Hằng, (2010), Một số vấn đề về thế chấp tài
sản tại ngân hàng thương mại, Đại học Luật Hà Nội
Luận văn của Phạm Tuấn Anh (2017), Xử lý tài sản bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng vay tài sản tại ngân hàng thương mại
cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện,
Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã phân tích đƣợc một số quy định của pháp
sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản. Đối với các ngân hàng thƣơng
mại, để xác định có cho một khách hàng vay hay không sẽ dựa trên các yếu tố
của khách hàng nhƣ: tính pháp lý đƣợc đảm bảo, năng lực tài chính, uy tín
trong lịch sử vay, nhu cầu vay vốn hợp lý và tài sản bảo đảm có giá trị. Năng
lực tài chính và uy tín trong lịch sử vay của khách hàng là một cơ sở để ngân
hàng ra quyết định cho vay tuy nhiên vẫn sẽ chứa những rủi ro tiềm ẩn, do
vậy việc đƣa tài sản bảo đảm (trong đó có tài sản thế chấp) vào hoạt động tín
dụng ngân hàng sẽ là một cơ sở chắc chắn để ngân hàng ra quyết định cho
vay,là một cam kết chắc chắn để khách hàng thực hiện trả nợ ngân hàng.
Trong trƣờng hợp khách hàng không trả đƣợc nợ thì tài sản thế chấp sẽ đƣợc
4
xử lý để thu hồi tiền cho ngân hàng. Để đảm bảo cho việc thu hồi tiền đƣợc
thuận lợi, trƣớc khi ký kết hợp đồng thế chấp, ngân hàng sẽ định giá tài sản
thế chấp cũng nhƣ tính pháp lý của tài sản đó và đặc biệt là khả năng thanh
khoản của tài sản (dễ dàng trong việc xử lý để chuyển đổi thành tiền). Trong
luận văn này, tác giả sẽ đi sâu vào việc chỉ ra những quyền tài sản có thể đƣợc
dùng làm tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật hiện hành cũng nhƣ
thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đó.
Thứ hai, tác giả cũng đề cập đến thực tiễn thực hiện việc nhận quyền tài
sản là tài sản thế chấp tại các Ngân hàng thƣơng mại hiện nay để đƣa ra
những đánh giá, nhận định về quy định pháp luật hiện hành đã thực sự phù
hợp và đáp ứng đƣợc sự đòi hỏi của thực tiễn hay chƣa? Trên cơ sở bình luận
các quy định của BLDS 2015, các nghị định, thông tƣ về tài sản bảo đảm,
biện pháp bảo đảm, pháp luật về bán đấu giá tài sản, quy định của luật tố tụng
dân sự, về thi hành án dân sự có liên quan đến việc xử lý tài sản thế chấp là
quyền tài sản từ đó đƣa ra các giải pháp tổng thể về xử lý tài sản thế chấp là
quyền tài sản.
trình xử lý tài sản bảo đảm là quyền tài sản
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn:
Trên cơ sở phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận
văn kết hợp các phƣơng pháp trên với một số phƣơng pháp khác nhƣ: phƣơng
pháp phân tích kết hợp với bình luận đƣợc sử dụng để làm rõ quy định của
pháp luật hiện hành về thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là
quyền tài sản; phƣơng pháp tổng hợp nhằm khái quát hóa thực trạng áp dụng
pháp luật về thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản
để đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật; phƣơng pháp so sánh đƣợc áp
dụng để tìm ra những nét khác biệt và tƣơng đồng giữa quy định của pháp luật
của Việt Nam với các nƣớc khác, giữa nội dung của pháp luật thực định qua
các thời kỳ khác nhau; phƣơng pháp tổng kết thực tiễn…nhằm vận dụng giữa
kiến thức lý luận và thực tiễn để làm rõ những vấn đề nghiên cứu về thế chấp
quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn:
Kết quả đạt đƣợc của luận văn góp phần làm rõ phƣơng diện lý luận
trong khoa học pháp lý của vấn đề thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế
chấp là quyền tài sản. Cụ thể: xây dựng đƣợc khái niệm và đƣa ra những tiêu
chí cơ bản nhất để xác định tài sản thế chấp là quyền tài sản và xử lý tài sản
thế chấp là quyền tài sản, phân tích thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với thế
6
chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản, chỉ ra những bất
cập của pháp luật và đƣa ra phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về thế chấp
quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản.
7. Bố cục:
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục còn có 3 chƣơng:
niệm “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài
sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài
sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”. Khái niệm thế chấp tại
BLDS 2015 với khái niệm tại BLDS 2005 không có sự khác biệt, các nhà làm
luật vẫn giữ nguyên các đặc điểm chính của thế chấp tài sản. Thế chấp tài sản
đƣợc quy định tại Điều 342 BLDS năm 2005: “Thế chấp tài sản là việc một
bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế
chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”. BLDS 2015
8
tiếp cận thế chấp dƣới góc độ là một giao dịch dạng hợp đồng dựa trên cơ sở
nền tảng của lý thuyết trái quyền, bởi chúng đƣợc sắp xếp nằm trong phần
“nghĩa vụ và hợp đồng” – nghĩa là thế chấp tài sản cùng chung một quy chế
pháp lý với các quy định chung về nghĩa vụ và hợp đồng. Tuy nhiên, đặc
điểm vật quyền trong quan hệ thế chấp cũng đƣợc thể hiện thông qua quy
định về đăng ký giao dịch bảo đảm tại Điều 298 BLDS 2015. Do đó, về cơ
bản những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thế chấp đƣợc
quy định theo BLDS 2015 của Việt Nam và pháp luật của các nƣớc theo hệ
thống luật Civil Law là giống nhau (nhƣ tài sản thế chấp không phải chuyển
giao, bên thế chấp vẫn có quyền sở hữu đối với tài sản, bên nhận thế chấp có
quyền thu giữ tài sản thế chấp, có quyền xử lý tài sản thế chấp nếu đến hạn
mà nghĩa vụ đƣợc bảo đảm có sự vi phạm) nhƣng vẫn có những điểm khác
nhau cơ bản: Thứ nhất, theo BLDS năm 2015 thì bên thế chấp không có
quyền bán tài sản thế chấp nếu không có sự đồng ý của bên nhận thế chấp (trừ
tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh
doanh), trong khi đó theo quy định của các nƣớc khác thì bên thế chấp có
quyền bán tài sản thế chấp ngay cả khi không có sự đồng ý của bên nhận thế
Thứ hai, mục đích của thế chấp tài sản là nhằm bảo đảm cho việc thực
hiện nghĩa vụ, qua đó thúc đẩy ngƣời có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của
mình.
Thứ ba, đối tƣợng của thế chấp tài sản là tài sản trừ trƣờng hợp đặc biệt
pháp luật có quy định khác.
Thứ tƣ, phạm vi bảo đảm của thế chấp tài sản không vƣợt quá nghĩa vụ
đã đƣợc xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính, tài sản dùng để
thế chấp chỉ bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận.
Thứ năm, chỉ xử lý tài sản thế chấp khi có sự vi phạm nghĩa vụ, tức là
khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản thế chấp đƣợc xử lý theo
phƣơng thức các bên đã thỏa thuận hoặc đƣợc bán đấu giá theo quy định của
pháp luật để thực hiện nghĩa vụ.
Trong quan hệ thế chấp tài sản thì không có sự chuyển giao tài sản thế
chấp từ bên thế chấp sang bên nhận thế chấp. Bên thế chấp chỉ phải giao
những giấy tờ pháp lý là chứng từ gốc chứng minh quyền sở hữu của mình
đối với tài sản thế chấp nhƣ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy đăng ký
quyền sở hữu tài sản, hợp đồng mua bán...cho bên nhận thế chấp. Đặc điểm
này tạo điều kiện thuận lợi cho bên thế chấp. Bên thế chấp vẫn tiếp tục đƣợc
10
sử dụng, khai thác công dụng của tài sản thế chấp, hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài
sản làm tăng thu nhập.
Trong thời hạn hợp đồng thế chấp có hiệu lực, tài sản thế chấp chỉ có
tính ổn định tƣơng đối. Điều đó có nghĩa là tài sản thế chấp vẫn có khả năng
bị thay đổi trong thời gian này do nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ thay đổi
về giá trị tài sản, thay đổi về tình trạng của tài sản thế chấp, thay đổi về trạng
thái của tài sản thế chấp, thay đổi về chủ thể...gây ra những khó khăn, phức
Trong số các văn bản dƣới luật, có thể dẫn chiếu tới Ðiều 5 của Hệ thống
tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam (tiêu chuẩn số 07 về Phân loại tài sản) ban
hành kèm theo Thông tƣ số 28/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc ban
hành 03 tiêu chuẩn thẩm định giá ngày 06/03/2015: “Quyền tài sản là quyền
trị giá được bằng tiền theo quy định của pháp luật. Quyền tài sản bao gồm
quyền sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản khác. Quyền tài sản là một khái
niệm pháp lý, nó bao gồm tất cả các quyền lợi và lợi ích liên quan tới quyền
sở hữu hoặc quyền sử dụng mà người chủ sở hữu,sử dụng tài sản được hưởng
một cách hợp pháp….”.
Theo tác giả, có thể đƣa ra định nghĩa về quyền tài sản nhƣ sau: Quyền
tài sản là một loại tài sản có trị giá đƣợc bằng tiền bao gồm tất cả các quyền
và lợi ích mà chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng quyền đƣợc công nhận.
1.2.2. Đặc điểm pháp lý của quyền tài sản
Theo quy định của Điều 115 BLDS 2015, quyền tài sản là một loại tài
sản, do vậy nó cũng phải có tất cả các đặc điểm pháp lý của một tài sản nói
chung. Thứ nhất, tài sản là những đối tƣợng mà con ngƣời có thể kiểm soát
đƣợc. Nếu tài sản là vật hữu hình thì con ngƣời có thể nắm giữ hoặc chiếm
giữ đƣợc thông qua các giác quan tiếp xúc; nếu tài sản là vật vô hình thì con
ngƣời phải có cách thức để quản lý, ví dụ: các tài sản trí tuệ phải đƣợc thể
hiện trên những "vật mang" nhất định để con ngƣời có thể nhận biết đƣợc và
chủ thể sáng tạo có thể đăng ký xác lập quyền của mình tại các cơ quan nhà
nƣớc có thẩm quyền. Thứ hai, tài sản phải trị giá đƣợc bằng tiền:“Theo quan
điểm của Luật học Latinh, tài sản, được hiểu là một vật có giá trị tiền tệ” 1.
Trên thực tế phải có các căn cứ để định giá tài sản trị giá bao nhiêu tiền. Ở
đây cần có sự phân biệt giữa yếu tố giá trị và trị giá đƣợc thành tiền của
tàisản. Tài sản có giá trị đƣợc hiểu là tài sản đó có ý nghĩa về mặt tinh thần
hay có giá trị sử dụng cụ thể nào đó với mỗi chủ thể khác nhau. Ví dụ, những
bức tranh đƣợc vẽ bởi các danh họa nổi tiếng thì có thể tại thời điểm hoàn
1
cần sự cho phép hay hợp tác của các chủ thể khác. Các quyền tài sản thể hiện
dƣới dạng quyền đối vật trong BLDS 2015 có thể kể đến là quyền sở hữu,
quyền hƣởng dụng, quyền bề mặt, quyền đối với bất động sản liền kề; quyền
của bên bảo đảm đối với tài sản bảo đảm…
Về mặt tính chất, các quyền đối vật mang những mức độ khác nhau (đầy
đủ và không đầy đủ).Quyền đối vật đầy đủ toàn diện nhất đƣợc ghi nhận trong
2
Nguyễn Ngọc Điện, Một số vấn đề về quyền tài sản và hƣớng hoàn thiện, năm 2010
13
BLDS 2015 chính là quyền sở hữu. Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của
luật (Điều 158 BLDS 2015).Quyền sở hữu cho phép ngƣời có quyền khai thác
trọn vẹn năng lực tạo giá trị vật chất, kinh tế của tài sản. Chính chủ sở hữu là
ngƣời có quyền tối hậu định đoạt tài sản (thông qua việc bán, tặng cho, để
thừa kế…). Trong một số trƣờng hợp chủ sở hữu buộc phải sử dụng, phải
định đoạt tài sản dù có muốn hay không. Ví dụ, ngƣời sử dụng đất có nghĩa
vụ sử dụng đất, nếu đất đai không đƣợc sử dụng liên tục trong một thời gian
dài, kể cả việc sử dụng không đúng mục đích, sẽ bị thu hồi mà không có đền
bù (Điều 64, Điều 82 Luật Đất đai năm 2013). Bên cạnh những quyền đối vật
đầy đủ còn có những quyền đối vật không đầy đủ. Điển hình cho những
quyền đối vật không đầy đủđƣợc quy định trong BLDS 2015 là quyền hƣởng
dụng (Điều 257), quyền bề mặt (Điều 267), quyền đối với bất động sản liền
kề(Điều 245), quyền của bên bảo đảm đối với tài sản bảo đảm (quyền của
ngƣời cầm cố đối với tài sản cầm cố, quyền của ngƣời nhận thế chấp đối với
tài sản thế chấp). Bản chất của những quyền này là sự phân rã của quyền sở
hữu. Ở góc độ nào đó, chủ sở hữu đã chuyển giao cho các chủ thể khác một số
có thể là đối tƣợng của giao dịch dân sự (đƣợc phép chuyển giao), các quyền
tài sản nào không thể trở thành đối tƣợng của giao dịch dân sự (không đƣợc
phép chuyển giao. BLDS 2015 không liệt kê những quyền tài sản nào đƣợc
phép chuyển giao là đối tƣợng của các giao dịch dân sự và những quyền tài
sản nào không đƣợc phép chuyển giao không thể là đối tƣợng của các giao
dịch dân sự. Trƣớc đây, BLDS 2005 quy định các quyền tài sản đƣợc phép
đem ra bảo đảm là đối tƣợng của các giao dịch bảo đảm: “Các quyền tài sản
thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác
giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ,
quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với
phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, quyền
sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên và các quyền tài sản khác
thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự” (Điều 322). Kế thừa khoản 3 Điều 379 BLDS 2005, khoản 3 Điều
377 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp nghĩa vụ là nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi
thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy
tín và các nghĩa vụ khác gắn liền với nhân thân không thể chuyển cho người
khác được thì không được thay thế bằng nghĩa vụ khác”. Hiểu rộng ra, quy
định này chỉ hạn chế một số quyền tài sản không đƣợc thay thế, chuyển giao
trong các quan hệ nghĩa vụ nhƣ quyền yêu cầu cấp dƣỡng, quyền yêu cầu bồi
thƣờng thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, uy tín và các quyền tài sản gắn liền
15
với nhân thân khác. Theo nguyên tắc, các chủ thể của pháp luật dân sự đƣợc
làm bất kỳ những gì luật không cấm, điều này đồng nghĩa với việc BLDS
2015 cho phép một số quyền tài sản khác đƣợc chuyển giao (là đối tƣợng của
các giao dịch dân sự). Ví dụ, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền
sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền
giả… Cũng giống nhƣ nhóm quyền có đối tƣợng thực hiện trên vật hữu hình,
chủ thể quyền ở đây cũng đƣợc chủ động thực hiện hành vi để thỏa mãn
quyền của mình mà không cần đến sự đồng ý hay giúp đỡ của ngƣời khác.
Tuy nhiên, có điểm khác biệt với nhóm quyền trên các vật hữu hình ở chỗ, đối
tƣợng của quyền ở đây là những “vật vô hình”. Điều này đồng nghĩa với việc
thực hiện quyền của chủ thể không nhất thiết phải chiếm hữu tài sản trên thực
tế. Đặc điểm này kéo theo hệ quả việc công khai quyền của chủ thể quyền
phải đƣợc thực hiện thông qua cơ chế đăng ký quyền tại cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền.
Nhóm các quyền tài sản có đối tƣợng là hành vi thực hiện nghĩa vụ của
ngƣời khác: Các quyền tài sản thuộc nhóm này có thể đƣợc kể đến nhƣ quyền
đòi nợ, quyền yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng, quyền yêu cầu bồi
thƣờng thiệt hại theo hợp đồng… Đặc trƣng cơ bản của nhóm quyền này là
các chủ thể quyền muốn thỏa mãn đƣợc quyền của mình luôn cần đến sự
“giúp đỡ” của chủ thể khác (sự thực hiện nghĩa vụ của chủ thể mang nghĩa
vụ). Ngƣời chủ nợ không thể nào có đƣợc khoản tiền cho vay nếu con nợ
không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Thứ tư, quyền tài sản phải đăng ký và quyền tài sản không phải đăng ký.
Để xác định những quyền tài sản nào phải đăng ký, quyền tài sản nào không
phải đăng ký thì không chỉ dựa vào quy định của BLDS 2015 mà còn dựa vào
các luật chuyên ngành liên quan nhƣ: Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Đất đai…
Theo các văn bản này, các quyền tài sản phải đăng ký bao gồm: Quyền sử
dụng đất; quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý4. Việc đăng ký quyền sử dụng đất
đƣợc thực hiện ở Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất đối với nơi chƣa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai hoặc bộ
phận một cửa đối với địa phƣơng đã tổ chức bộ phận một cửa để thực hiện
việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh. Việc đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đƣợc thực hiện ở Cục Sở
thuộc sở hữu toàn dân. Nhƣ vậy ngoài hai quyền tài sản đặc biệt là quyền sử
dụng đất và quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, các quyền tài sản phải
thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm mới đƣợc đƣợc trở thành đối tƣợng của
giao dịch bảo đảm. Danh sách các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo
đảm có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm quyền tài sản
phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống
cây trồng, quyền đòi nợ, quyền đƣợc nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo
đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản
18
phát sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo
đảm. Nhìn vào danh sách này có thể thấy có ba mảng quyền tài sản chính là
quyền sở hữu trí tuệ (quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với
giống cây trồng), quyền phát sinh từ hợp đồng (bao gồm cả quyền đòi nợ và
quyền đƣợc nhận số tiền bảo hiểm vì thực chất các quyền này cũng phát sinh
từ các hợp đồng) và phần vốn góp.
Cách hiểu về tài sản thế chấp đƣợc đúc rút từ những quy định về biện
pháp thế chấp nói chung. Điều 342 BLDS năm 2005 quy định: "Thế chấp tài
sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu
của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi
là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế
chấp". Đến BLDS 2015 không nêu cụ thể quyền tài sản nào đƣợc thế chấp
nhƣ vậy các nhà làm luật đã mặc định tất cả các tài sản là quyền tài sản đáp
ứng đƣợc yêu cầu Điều 317 – BLDS 2015 sẽ đƣợc dùng để thế chấp.
Nhƣ vậy, có thể rút ra đƣợc định nghĩa thế chấp quyền tài sản: Là việc
bên thế chấp (bên sở hữu giấy chứng nhận quyền đối với quyền tài sản)
mang giấy chứng nhận quyền đối với quyền tài sản giao cho bên nhận thế
chấp nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ của mình/của ngƣời thứ 3 đối với bên