Các quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về xác định chứng cứ và thực tiễn áp dụng tại các tòa án nhân dân ở tỉnh sơn la - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI LAN OANH

CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015
VỀ XÁC ĐỊNH CHỨNG CỨ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380103

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS.HOÀNG NGỌC THỈNH

Hà Nội – 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường đại học Luật Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN

Bùi Lan Oanh


2.2.2. Kiến nghị nhằm bảo đảm việc xác định chứng cứ trong tố tụng dân
sự của các Tòa án ở tỉnh Sơn La ................................................................. 53
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .............................................................................. 61
KẾT LUẬN .................................................................................................... 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 64


DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

BLDS

Bộ luật dân sự

BLTTDS

Bộ luật Tố Tụng dân sự

Luật HNGĐ

Luật Hôn nhân và gia đình

TTDS

Tố tụng dân sự

PLTTDS

Pháp luật Tố tụng dân sự

VADS

việc đó. Muốn làm được điều đó, cần phải có chứng cứ để chứng minh bản
chất của sự việc. Chứng cứ là phương tiện của việc chứng minh, của việc xác
định các sự kiện có ý nghĩa với việc giải quyết một vụ việc dân sự. Trong suốt
quá trình tố tụng giải quyết một vụ việc dân sự, chứng cứ đóng vai trò hết sức
quan trọng, nó như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả quá trình, từ khi vụ án được
thụ lý cho tới khi được xét xử, tháo gỡ từng nút thắt trong vụ án dân sự và
việc dân sự. Chính bởi tầm quan trọng đó, chứng cứ và chứng minh đã trở
thành một chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, đồng
thời nó cũng trở thành một đề tài nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà
làm luật. Các quy định về chứng cứ và xác định chứng cứ trong BLTTDS
năm 2015 đã được hoàn thiện hơn, đặc biệt trong bối cảnh nguyên tắc bảo
đảm tranh tụng đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, các
quy định của BLTTDS năm 2015 về xác định chứng cứ vẫn bộc lộ những
điểm hạn chế, mâu thuẫn. Thực tiễn xác định chứng cứ của các Tòa án nhân
dân ở tỉnh Sơn La trong những năm qua cho thấy việc áp dụng vẫn còn những
vướng mắc, khó khan, nhiều quy định có các cách hiểu và áp dụng khác nhau.
Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề tài: “Các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 về xác định chứng cứ và thực tiễn áp dụng tại các Tòa án
nhân dân ở tỉnh Sơn La” làm đề tài luận văn thạc sĩ ứng dụng của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự không phải vấn đề
mới. Từ trước tới nay, vấn đề này luôn nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên


2
cứu của các giảng viên, cán bộ nghiên cứu pháp luật và giới luật gia. Điển
hình là một số công trình nghiên cứu sau đây:
- Luận văn tiến sĩ của tác giả Nguyễn Minh Hằng với đề tài “Hoạt động
cung cấp, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam” năm 2007;
- Chứng cứ và vấn đề chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự theo quy

định chứng cứ và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Làm rõ hơn những vấn đề chung về chứng cứ, xác định chứng cứ như
khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chứng cứ và xác định chứng cứ
- Phân tích, đánh giá các quy định của BLTTDS năm 2015 về chứng cứ
và xác định chứng cứ, từ đó chỉ ra những điểm còn hạn chế và chưa hợp lý
trong các quy định pháp luật hiện hành về xác định chứng cứ.
- Đánh giá, những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn xác định chứng
cứ khi giải quyết các vụ án dân sự của các Tòa án nhân dân ở tỉnh Sơn La.
Luận văn không đi sâu nghiên cứu về thực tiễn xác định chứng cứ của Tòa án
khi giải quyết việc dân sự.
- Đề xuất được các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm việc
xác định chứng cứ đúng đắn, khách quan, toàn diện trong tố tụng dân sự của
các Tòa án nhân dân ở tỉnh Sơn La.
Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ ứng dụng, tác giả tập trung nghiên cứu
những vấn đề chung về xác định chứng cứ như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của
chứng cứ, xác định chứng cứ và thực tiễn xác định chứng cứ trong tố tụng dân sự
của các Toàn án nhân dân ở tỉnh Sơn La từ tháng 7/2016 đến nay.
Luận văn cũng chỉ tập trung nghiên cứu về xác định chứng cứ trong giải
quyết các vụ án dân sự theo thủ tục thông thường, không nghiên cứu về xác
định chứng cứ khi giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn, thủ tục giải
quyết việc dân sự và giải quyết vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài.


4
4. Đối tƣ ng nghi n cứu
Nghiên cứu các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xác
định chứng cứ. Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này tại các
TAND ở tỉnh Sơn La.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình
tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này
quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách
quan của vụ án”2 . Dưới góc độ khoa học pháp lý, “Chứng cứ là cái có thật,
theo một trình tự do luật định được Tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ
việc dân sự.”3
Như vậy, chứng cứ trong vụ việc dân sự là những tin tức, dấu vết về
các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được thể hiện dưới những hình thức
1

Đại Từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên, Bộ Giáo dục đào tạo – Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa
Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 415.
2
Điều 93 BLTTDS năm 2015.
3
Giáo trình luật Tố tụng dân sự, trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an Nhân dân, năm 2017, tr 169


6
nhất định mà tòa án sử dụng làm cơ sở để giải quyết vụ việc dân sự. Một
thông tin về vụ việc dân sự chỉ được coi là chứng cứ khi thỏa mãn ba thuộc
tính: khách quan, liên quan, hợp pháp.
Thứ nhất, tính khách quan của chứng cứ thể hiện ở chỗ chứng cứ phải
là cái có thật, tồn tại ngoài ý muốn của những người tiến hành tố tụng và
những người tham gia tố tụng. Trong quá trình tố tụng, những người tiến hành
tố tụng và những người tham gia tố tụng không thể tạo ra chúng theo ý muốn
chủ quan của họ mà chỉ có thể thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng
chúng. Chứng cứ có tính khách quan bởi chứng cứ là cơ sở để nhận thức vụ
việc dân sự. Theo lý luận về nhận thức thì người ta chỉ nhận thức đúng bản
chất của sự việc, sự vật khi nó được phản ánh lại một cách khách quan.

các chứng cứ là sản phẩm hành vi của con người tạo ra. Tại thời điểm hình
thành, nó có ý nghĩa xác định một sự kiện, tình tiết nào đó của vụ việc dân sự.
Khi sự kiện, tình tiết đó đã ra đời và được coi là chứng cứ của vụ việc thì nó
lại tồn tại khách quan với ý thức của con người, kể cả người tạo ra nó. Vì vậy,
tất cả những gì mà được chủ thể nào đó do các động cơ khác nhau cố tình tạo
ra với mục đích làm thay đổi hiện tượng, bản chất của sự việc đã diễn ra đều
bị coi là sự kiện giả mạo, tình tiết giả mạo và đều không được coi là chứng
cứ. Người nào đưa ra yêu cầu và cung cấp thông tin giả mạo thì sẽ bị Tòa án
bác yêu cầu vì không có chứng cứ chứ không phải thông tin giả mạo là căn cứ
để Tòa án bác yêu cầu của đương sự.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, mặc dù có tình tiết sự
kiện tồn tại khách quan, phản ánh đúng bản chất của sự việc nhưng theo quy
định của pháp luật chúng lại không được coi là chứng cứ để giải quyết vụ việc
dân sự. Chẳng hạn trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học...
Thứ hai, tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở chỗ chứng cứ phải làm
rõ một tình tiết, sự kiện nào đó của đối tượng chứng minh tức là giữa chứng


8
cứ và vụ việc dân sự có mối quan hệ nhất định. Nhờ chứng cứ mà tòa án có
thể rút ra kết luận về một tình tiết, sự kiện này hay tình tiết, sự kiện nào đó
thuộc đối tượng chứng minh của vụ việc dân sự. Chứng cứ có tính liên quan
bởi chứng cứ là cơ sở để Tòa án giải quyết vụ việc dân sự.
Tính liên quan của chứng cứ có thể liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp.
Thông thường, chứng cứ bao gồm những tin tức liên quan trực tiếp tới vụ việc
dân sự. Những thông tin lien quan trực tiếp đến vụ việc dân sự có thể giúp
Tòa án rút ran gay kết luận về đối tượng chứng minh hay thông qua chứng cứ
đó tòa án có thể khẳng định ngay được có hay không tình tiết, sự kiện của vụ
việc dân sự. Chẳng hạn kết luận giám định gien AND có thể giúp Tòa án xác
định cha cho con. Bên cạnh đó, có những thông tin liên quan gián tiếp đến vụ

khoản 2,3 điều 601 Bộ luật dân sự 2015: “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao
độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở
hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi
thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử
dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi,
trừ trường hợp sau đây…”. Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cũng suy đoán
về xác định cha cho con5: Trong trường hợp này cha, mẹ không thừa nhận
con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.
4

Điều 71 BLDS năm 2015. Tuyên bố chết
1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong
trường hợp sau đây:
a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin
tức xác thực là còn sống;
b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là
còn sống;
c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt
vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy
định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.
5
Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xác định cha, mẹ
1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ
chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có
thai trong thời kỳ hôn nhân.


10

11
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nếu không được Tòa án sử dụng
trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự thì sẽ không được coi là chứng cứ.
Một vấn đề nữa cũng cần phải xem xét ở đây, đó là khái niệm chứng cứ
và nguồn chứng cứ là hai khái niệm khác nhau. Nếu như chứng cứ là các
thông tin về vụ việc dân sự thỏa mãn ba dấu hiệu khách quan, liên quan và
hợp pháp thì vật, tài liệu mà từ đó Tòa án rút ra được các thông tin về vụ việc
dân sự được gọi là nguồn chứng cứ. Nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng các
thông tin về chứng cứ, cho phép có thể thu được chứng cứ, nhận thức được
một cách cụ thể rõ ràng về chứng cứ, là nơi chứa đựng chứng cứ mà từ đó có
thể rút ra được chứng cứ. Tuy nhiên, không phải bất kỳ vật, tài liệu nào do các
bên đương sự cung cấp, thu thập cũng được coi là nguồn chứng cứ mà phải do
pháp luật quy định. Như vậy, có thể thấy nguồn chứng cứ là những hình thức
biểu hiện sự tồn tại của chứng cứ, được quy định bởi các quy phạm pháp luật,
mà từ đó có thể rút ra được chứng cứ. Khái niệm chứng cứ và nguồn chứng
cứ là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.
Các thông tin về vụ việc dân sự được rút ra từ nguồn chứng cứ, thỏa
mãn ba đặc điểm: khách quan, liên quan, hợp pháp được các đương sự, người
đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
và những người tham gia tố tụng khác thu thập, xuất trình cho Tòa án trong
quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập để chứng mình cho yêu cầu hoặc
phản đối yêu cầu của đương sự. Song, chỉ những thông tin nào được để xác
định các tình tiết, sự kiện của vụ việc cũng như xác định yêu cầu hay phản đối
yêu cầu của đương sự là có căn cứ và hợp pháp thì mới được coi là chứng cứ6.
Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đã xây dựng khái niệm chứng cứ
dựa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khoa học về chứng cứ
trong pháp luật tố tụng dân sự ở các nước, đó là xuất phát từ thực tế khách
6

Giáo trình luật Tố tụng dân sự, trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an Nhân dân, năm 2017, tr 170.



13
bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và khách quan, Tòa án cần
phải xác minh, nghiên cứu, đánh giá các thông tin mà đương sự đưa ra là
khách quan, có liên quan và có được cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá,
sử dụng theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định hay không. Do đó,
chứng cứ là các thông tin về vụ việc mà thỏa mãn ba dấu hiệu: khách quan,
liên quan và hợp pháp.
Chứng cứ được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết
khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương
sự là có căn cứ và hợp pháp. Như vậy, nội hàm này của khái niệm đã phản
ánh được tính liên quan của chứng cứ. Bên cạnh đó, chứng cứ được “giao
nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập
được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”. Với nội hàm này của
khái niệm đã phản ánh chứng cứ có thể được đương sự, các cá nhân, cơ quan,
tổ chức khác như người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người thẩm định
giá, người định giá tài sản giao nộp cho Tòa án hoặc được Tòa án thu thập
theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Tuy nhiên với định nghĩa này
chưa phản ánh được đầy đủ thuộc tính hợp pháp của chứng cứ. Như đã phân
tích ở trên, tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện ở chỗ thông tin về vụ việc
dân sự phải được rút ra từ nguồn chứng cứ và không chỉ được giao nộp, cung
cấp, thu thập theo trình tự do pháp luật quy định mà còn phải được nghiên
cứu, đánh giá theo quy định của pháp luật. Do đó, cần hoàn thiện khái niệm
chứng cứ để bảo đảm khái niệm chứng cứ của Điều 93 BLTTDS phản ánh
được đầy đủ ba thuộc tính của chứng cứ.
Từ các phân tích trên có thể rút ra khái niệm về chứng cứ như sau: “Chứng
cứ là những thông tin có thật liên quan đến vụ việc dân sự được rút ra từ nguồn
do pháp luật và được cung cấp, thu thập, nghiên cứu theo một trình tự do pháp

7

Đại Từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên, Bộ Giáo dục đào tạo – Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa
Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 1848.


15
nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ của các bên đương sự sẽ giúp cho
đương sự xác định được những thông tin có thật, liên quan đến vụ việc, hợp
pháp, có lợi cho mình, từ đó đưa ra phương án sử dụng các thông tin này để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ
án được chính xác, khách quan thì Tòa án phải thu thập chứng cứ. Điều này
xuất phát từ truyền thống lập pháp, trình độ dân trí, hoặc tài liệu, chứng cứ do
các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác lưu giữ, quản lý mà đương sự không thể
thu thập được hoặc thông tin về vụ việc do các bên cung cấp cho Tòa án mâu
thuẫn nhau hoặc các bên đương sự có các quan điểm đánh giá chứng cứ khác
nhau. Mặt khác, để xác định được chứng cứ hay giá trị chứng minh của chứng
cứ, Tòa án mà cụ thể là Thẩm phán hay Hội đồng xét xử cũng phải trải qua
quá trình nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Trên cơ sở đánh giá khách quan,
toàn diện toàn bộ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự, yêu cầu hay phản
đối yêu cầu của các bên đương sự và các tài liệu chứng cứ trong mối quan hệ
biện chứng với nhau, Tòa án sẽ xác định những thông tin có thật, liên quan
đến vụ việc dân sự, được cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá theo đúng
quy định của pháp luật nào sẽ được sử dụng để làm căn cứ giải quyết vụ việc
dân sự. Điều đó có nghĩa việc sử dụng thông tin nào để giải quyết vụ việc hay
việc xác định là chứng cứ phải do Tòa án quyết định. Bởi như khái niệm về
chứng cứ được đề cập đến ở trên một thông tin về vụ việc dân sự được coi là
chứng cứ khi phải được Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự.
Từ các phân tích trên, có thể thấy, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì xác

cứ. Đối với Tòa án, việc xác định chính xác, khách quan là cơ sở quyết định
bảo đảm tính chính xác, khách quan của bản án, quyết định dân sự, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự.


17
1.2. Nội dung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xác định
chứng cứ
Chứng cứ được rút ra từ nguồn chứng cứ. Như vậy xác định chứng cứ là
xác định những thông tin được rút ra từ nguồn chứng cứ mà thỏa mãn ba dấu
hiệu khách quan, liên quan và hợp pháp. Điều 94 BLTTDS năm 2015 đã liệt
kê cụ thể các loại nguồn chứng cứ và Điều 95 quy định về việc xác định
chứng cứ từ các loại nguồn từ Điều 94 BLTTDS. Tuy nhiên, khi nghiên cứu
Điều 95 BLTTDS, có thể thấy dường như nhà làm luật đã đồng nhất giữa
chứng cứ và nguồn chứng cứ. Bởi nếu các loại được liệt kê tại Điều 94
BLTTDS năm 2015 được xác định là nguồn chứng cứ nhưng đến Điều 95
BLTTDS lại được xác định là chứng cứ. Điều đó thể hiện sự không rõ ràng và
không nhất quán của nhà làm luật nên Điều 95 BLTTDS cần được sửa đổi
cho phù hợp với Điều 94 BLTTDS năm 20158.
1.2.1. Xác định chứng cứ từ tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được,
dữ liệu điện tử.
Không phải bất kỳ một tài liệu nào trên thực tế đọc được, nghe được,
nhìn được cũng được coi là nguồn của chứng cứ, mà chỉ các tài liệu đọc được,
nghe được, nhìn được thỏa mãn các điều kiện nhất định mới được coi là
nguồn của chứng cứ, khi nó có liên quan đến vụ việc dân sự.
- Các tài liệu đọc được: khoản 1 Điều 95 BLTTDS năm 2015 quy định
như sau: “Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính
hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền cung cấp, xác nhận”. Trước đây, theo hướng dẫn tại Nghị

trên thực tế hiện nay nhiều bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng
do quy trình, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng dẫn
đến Tòa án phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thông tin được
rút ra từ đó không được xác định là chứng cứ.
Tuy nhiên, trong trường hợp Tòa án có nghi ngờ về tính xác thực của các
tài liệu đọc được là bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận thì trách nhiệm chứng minh


19
thuộc về ai? Điều này chưa được pháp luật quy định, nên có thể coi đó là một
vướng mắc trong quá trình xác định giá trị chứng minh của các chứng cứ mà
đương sự cũng như những chủ thể khác giao nộp, cung cấp.
- Các tài liệu nghe được, nhìn được: khoản 2 Điều 95 BLTTDS năm
2015 quy định: “Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu
được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất
xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của
người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn
bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó”. Những tài liệu nghe
được, nhìn được ở đây có thể hiểu bao gồm băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi
hình, đĩa ghi hình, phim, ảnh, băng từ, băng video, các phần mềm,… Các tài
liệu nghe được, nhìn được là một nguồn chứng cứ quan trọng vì từ các tài liệu
này, Tòa án có thể rút ra được những tình tức, sự kiện liên quan đến tình tiết
của vụ việc dân sự. Trước đây, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 04/2012/NQHĐTPTATC thì “các tài liệu nghe được, nhìn được phải được xuất trình
kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc
liên quan tới việc thu âm, thu hình đó”.
Ví dụ: Trong một tai nạn giao thông, A là người bị hại được một người có
mặt tại hiện trường vụ tai nạn hôm đó cung cấp một băng ghi hình về sự việc
hôm xảy ra tai nạn. Trong trường hợp này, khi giao nộp băng ghi hình đó thì
A phải gửi kèm cho Tòa án bản xác nhận của người cung cấp băng ghi hình

có hình dáng, kích cỡ…có thể xác định được bằng trực quan từ đó có thể thu
được thông tin về giải quyết vụ việc dân sự mà thỏa mãn ba dấu hiệu khách
quan, liên quan, hợp pháp thì được xác định là chứng cứ vật chứng. Do đó,
nếu quy định “vật chứng là chứng cứ” là không chính xác mà vật chứng là
nguồn chứng cứ, còn thông tin, dấu vết thu được từ vật chứng mới được xác
định là chứng cứ.


21
Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, không phải tất cả vật mà
đương sự cung cấp đều có thể là nguồn chứng cứ hay các thông tin được rút
ra từ các vật này đều được coi là chứng cứ mà nó phải thỏa mãn một số yêu
cầu nhất định bên cạnh việc thỏa mãn những thuộc tính của chứng cứ nói
chung theo quy định của BLTTDS. Để có thể là vật chứng trong vụ việc dân
sự có giá trị chứng minh, vật đó phải là hiện vật gốc chứa đựng chứng cứ mà
không phải các hiện vật được sao chép, mô phỏng. Mọi sự sao chép, tái hiện
lại vật chứng, vật được sao chép đó không được xem là vật chứng. Như vậy,
vật đó phải có tính đặc định và phải liên quan đến vụ việc dân sự, nếu “sao
chép” tái hiện lại vật chứng thì vật sao chép đó không được gọi là vật chứng.
Khi xác định vật chứng cũng cần phân biệt đâu là nguồn chứng cứ và đâu là
chứng cứ. Ví dụ: trong trường hợp A và B tranh chấp với nhau chiếc xe máy
thì chiếc xe đó là vật chứng, còn các thông tin về chiếc xe như chủng loại,
màu sắc, số khung, số máy, dấu vết trên chiếc xe đó thỏa mãn ba dấu hiệu
khách quan, liên quan, hợp pháp được xác định là chứng cứ. Tuy nhiên, quá
trình thu thập vật chứng và chứng cứ cần phải bảo đảm các trình tự, thủ tục
luật định đồng thời phải thực hiện tốt việc bảo quản, giữ gìn tài sản nhằm giữ
được tính đặc định của vật chứng.
1.2.3. Xác định chứng cứ từ lời khai của đương sự, lời khai của người
làm chứng
- Xác định chứng cứ từ lời khai của đương sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status