Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn giải quyết tại tỉnh lạng sơn - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG THỊ NGÂN

CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VÀ
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG THỊ NGÂN

CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VÀ
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


2. Tình hình nghiên cứu đề tài

2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3

4. Mục đích nghiên cứu

3

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

3

6. Phương pháp nghiên cứu

4

7. Tính mới của đề tài

4

8. Bố cục luận văn

4

CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH
CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VỀ CHIA TÀI SẢN

1.3.1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân

17

1.3.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc đảm bảo thực hiện pháp luật về chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân

20

1.4. Nội dung pháp luật điều chỉnh về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân

21


1.4.1. Quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

22

1.4.2. Các trƣờng hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

25

1.4.3. Phạm vi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

32

1.4.4. Về hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân



2.2. Một số hạn chế, vướng mắc của pháp luật về chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân

68

2.2.1. Về chủ thể có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 68
2.2.2. Về trách nhiệm của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân

68

2.2.3. Về việc công chứng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân

71

2.2.4. Về nghĩa vụ thông báo sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
72
2.2.5. Về các trƣờng hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vô hiệu 73
2.3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân

74


2.3.1. Hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân

74

chỉnh về chế độ tài sản của vợ chồng trong đó có quy định hết sức tiến bộ về chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Cùng với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, xã hội thì quan hệ tài sản
giữa vợ chồng cũng có những bước phát triển theo. Khi vợ chồng tham gia vào các
quan hệ dân sự, kinh tế nhất định có thể phát sinh những nghĩa vụ riêng. Vì những
lý do nào đó mà trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng mong muốn được chia tài sản
chung thành tài sản riêng để phục vụ mục đích kinh doanh hoặc vì lợi ích chung của
gia đình. Vì vậy pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam đã có những quy định cần
thiết nhằm điều chỉnh vấn đề này. Kế thừa và phát triển các quy định của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định tương
đối đầy đủ, toàn diện về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân để phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên, qua thực tiễn nghiên cứu một
số vụ việc liên quan đến việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà Tòa án
nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã giải quyết cũng như thủ tục công chứng đối với thỏa
thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn tôi nhận thấy còn có một số vướng mắc, bất cập nhất định. Xuất phát từ thực


2

tiễn đó, tôi lựa chọn đề tài: “Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn giải quyết tại tỉnh Lạng Sơn” nhằm
nghiên cứu các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản
hướng dẫn liên quan điều chỉnh vấn đề này cũng như những vướng mắc, bất cập
trên thực tiễn, từ đó có những kiến nghị, đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp
luật về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, vấn đề tài sản giữa vợ chồng nói chung và
vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói riêng là đề tài rất
được quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: bài viết

và gia đình năm 2014 đến nay; Nghiên cứu các số liệu và các vụ việc cụ thể từ năm
2014 đến nay từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn về vấn đề chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân. Luận văn không tìm hiểu về thực tiễn thỏa thuận chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân không cần công chứng và không yêu cầu Tòa án
giải quyết cũng như thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có yếu tố
nước ngoài.
4. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận
về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đánh giá thực trạng nội dung
các quy định Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi
hành và thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân tại tỉnh Lạng Sơn; chỉ ra những vướng mắc, bất cập
trong quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
dẫn đến khó khăn trong thực tiễn giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền, từ đó
có những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân để phù hợp với thực tiễn hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung lớn sau đây:


4

- Khái quát chung về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tìm hiểu khái
niệm, ý nghĩa, các yếu tố tác động đến pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về
việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
- Làm rõ quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như các
văn bản pháp luật hiện hành về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và thực
tiễn thực hiện pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn thông qua kết quả giải quyết của Tòa án và Văn phòng công chứng
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.


6

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
1.1. Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1.1.1. Khái niệm tài sản chung
Tài sản là một từ ngữ quen thuộc đối với bất kì ai, đó là vấn đề trọng tâm của
các quan hệ xã hội nói chung và trong quan hệ pháp luật nói riêng. Là khách thể của
quyền sở hữu, tài sản có thể được hiểu là các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng các nhu
cầu của con người. Trong đời sống hôn nhân gia đình, tài sản là cơ sở đảm bảo đời
sống vật chất, tinh thần của gia đình, giúp gia đình thực hiện tốt các chức năng duy
trì nòi giống, chức năng giáo dục và chức năng kinh tế. Dưới góc độ pháp lý, tài sản
được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tại Điều 105 như sau: “Tài sản là vật, tiền,
giấy tờ có giá và quyền tài sản”.
Trên cơ sở khái niệm tài sản thì tài sản chung được hiểu là tài sản thuộc sở
hữu của nhiều chủ sở hữu. Tuy nhiên, khái niệm tài sản chung được đề cập ở đây là
tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Trong quan hệ hôn nhân gia
đình, vợ chồng cùng nhau tạo lập, xây dựng khối tài sản chung của vợ chồng nhằm
đảm bảo nhu cầu đời sống của gia đình. Theo quy định tại Điều 213 Bộ luật dân sự
năm 2015 thì vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung và có quyền
ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Đồng thời theo
quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì vợ, chồng bình đẳng với
nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập. Tài
sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, tức là phần quyền sở hữu của
mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.
Tài sản chung của vợ chồng có thể được xác định theo chế độ tài sản pháp

Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Qua quy định của Luật hôn nhân và gia đình có thể thấy tài sản do vợ chồng
tạo ra hoặc có được trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ
1

TS. Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam – Sách
chuyên khảo, NXB Tư pháp, Hà Nội năm 2008, tr 33


8

chồng trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật có quy định khác.
* Tài sản chung ước định:
Một trong những điểm mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là chế độ
tài sản chung ước định của vợ chồng. Việc ghi nhận tài sản ước định của vợ chồng
là sự thể hiện đặc tính thỏa thuận, bình đẳng trong quan hệ vợ chồng, đồng thời thể
hiện địa vị độc lập của mỗi cá nhân với tư cách là một thành viên gia đình và xã hội.
Theo chế độ tài sản ước định, tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng được xác
định bằng sự thỏa thuận bằng văn bản của hai bên vợ chồng có công chứng trước
khi đăng ký kết hôn và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.
Việc xác định đâu là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có ý
nghĩa hết sức quan trọng bởi đó là cơ sở khi xem xét việc phân chia tài sản chung
của vợ chồng.
1.1.2. Khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Để hiểu thế nào là chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, trước hết cần
tìm hiểu thời kỳ hôn nhân là gì và được xác định như thế nào. Theo Khoản 13 Điều
3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian
tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn

từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn hay nói cách khác là các bên không còn vi
phạm điều kiện kết hôn theo hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 11 Luật hôn nhân gia đình
năm 2014.
Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 1 Điều 67 Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 thì đối với trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết nhưng
sau đó người đó trở về và được Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố
chết, nếu bên kia chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục
kể từ thời điểm kết hôn, thời kỳ hôn nhân cũng được xác định từ thời điểm hai
người kết hôn hợp pháp. Trong trường hợp này, tài sản chung của vợ chồng được
xác định là tài sản mà vợ chồng tạo lập từ thời điểm kết hôn đến trước khi vợ hoặc
chồng bị tuyên bố chết; còn tài sản mà vợ, chồng có được từ khi có quyết định
tuyên bố chết của Tòa án đến khi quyết định hủy quyết định tuyên bố chết của Tòa
án có hiệu lực pháp luật, thì tài sản trong khoảng thời gian này là tài sản riêng của
người vợ, người chồng đang sống.


10

Đối với trường hợp hôn nhân thực tế, theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch
số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị
quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn
nhân gia đình, thì thời kỳ hôn nhân được tính như sau: nếu quan hệ vợ chồng được
xác lập trước ngày 03/01/1987 thì được khuyến khích đăng ký kết hôn và thời kỳ
hôn nhân của họ được tính từ ngày họ bắt đầu chung sống như vợ chồng trên thực
tế; trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước
ngày 01/01/2001 mà chưa đăng ký kết hôn thì họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn từ
ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003, trong khoảng thời gian này nếu họ thực hiện
việc đăng ký kết hôn thì thời kỳ hôn nhân được tính từ ngày họ bắt đầu chung sống
với nhau như vợ chồng; nếu sau ngày 01/01/2003 họ mới đăng ký kết hôn thì thời

Trên cơ sở xác định thời kỳ hôn nhân, cần hiểu thế nào là chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân. Theo từ điển Tiếng Việt, Chia là động từ với nghĩa “tách ra
làm thành từng phần, từ một chỉnh thể”2. Vậy chia tài sản chung của vợ chồng được
hiểu đơn giản là tách tài sản từ khối tài sản chung thành tài sản riêng của vợ chồng.
Khoản 1 Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong thời kỳ hôn
nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ
trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”. Mặc dù vấn đề chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân được ghi nhận từ Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và tiếp tục được kế
thừa, phát triển qua Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014 nhưng khái niệm thế nào là chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân lại
chưa được đề cập đến tại bất kỳ văn bản pháp lý nào. Tuy nhiên, từ sự phân tích các
quy định của Luật hôn nhân và gia đình về vấn đề này thì có thể hiểu khái niệm chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc tách một
phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng thành tài sản riêng của
mỗi bên vợ, chồng theo sự thỏa thuận của vợ chồng hoặc do Tòa án quyết định trên
cơ sở quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi
bên vợ, chồng mà không làm chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng trước pháp luật.
2

/>

12

Như vậy, qua khái niệm này có thể thấy bản chất của việc chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân là việc tách một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu
chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng nhưng không làm
chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Việc chia tài sản này có thể do hai vợ
chồng tự thỏa thuận hoặc nếu không thỏa thuận được thì do Tòa án quyết định trên

Khi Luật hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta ra đời năm 1959 cũng
không đặt ra vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tất cả
tài sản của vợ chồng đều thuộc sở hữu chung của hai người, không phân biệt tài sản
có trước khi kết hôn hay tài sản được tạo ra, có được trong thời kỳ hôn nhân, không
phân biệt nguồn gốc tài sản cũng như công sức đóng góp của mỗi bên. Luật hôn
nhân và gia đình năm 1959 chỉ quy định một chế độ tài sản duy nhất là chế độ tài
sản chung. Trên cơ sở đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 chỉ dự liệu hai
trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là khi vợ chồng chết trước hoặc khi vợ
chồng ly hôn, theo đó khi một bên vợ, chồng chết hoặc khi hai vợ chồng ly hôn, tài
sản chung sẽ được chia căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình
hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình (Điều 29 Luật hôn nhân gia đình năm
1959). Lý do là bởi thời kỳ này, lợi ích cá nhân luôn gắn liền với lợi ích tập thể,
không tồn tại nhiều hình thức sở hữu và đa dạng về thành phần kinh tế như hiện
nay, tư tưởng phong kiến vẫn tồn tại nhiều trong nếp sống gia đình, nhu cầu tách
biệt khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chưa phải là vấn đề nổi
cộm, bức thiết.
Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân lần đầu tiên
được đề cập đến trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, tại Điều 18 Luật hôn
nhân và gia đình năm 1986 quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và
có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở
Điều 42 của Luật này”. Theo đó, chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn
tại được chia như khi ly hôn tại Điều 42 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986: “Tài
sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình
hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên”, như
vậy việc chia tài sản chung phụ thuộc vào tình hình thực tế về tài sản, hoàn cảnh gia
đình và công sức đóng góp của hai bên vợ chồng. Luật hôn nhân và gia đình năm
1986 đã đánh dấu mốc quan trọng khi lần đầu tiên quy định về vấn đề chia tài sản


14



15

tài sản chung, trừ các trường hợp quy định tại Điều 42 Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014 như chia tài sản chung để trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;
trốn tránh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức, trốn
tránh nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản,…. Nếu vợ chồng không
thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc chia tài sản chung của
vợ chồng dựa trên điều kiện và nguyên tắc luật định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp của vợ chồng đối với tài sản chung. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
cũng có quy định cụ thể về thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 39), hậu quả của việc chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân (Điều 40), chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân (Điều 41) và các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
vô hiệu (Điều 42). Nhìn chung Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có các quy
định tương đối đầy đủ về vấn đề chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tạo điều
kiện cho các cặp vợ chồng có quyền tự định đoạt khối tài sản chung của mình.
Như vậy, có thể thấy nội dung pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân có sự kế thừa và phát triển qua mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau và được
ghi nhận cụ thể trong Luật hôn nhân và gia đình nước ta. Điều đó cho thấy sự phù
hợp giữa quy định của pháp luật với sự phát triển của nền kinh tế và thực tiễn đời
sống xã hội.
1.2. Ý nghĩa của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, cùng với việc hội nhập kinh
tế quốc tế, giao lưu, hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới đã ít nhiều
ảnh hưởng đến quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình. Theo đó, nhu cầu có tài sản
riêng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ riêng của vợ chồng là rất cần thiết. Việc pháp
luật hôn nhân và gia đình nước ta thừa nhận vấn đề chia tài sản chung vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Thứ ba, quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba có liên quan đến tài sản
vợ chồng. Thực tế có nhiều trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ về tài sản với bên thứ
ba, như vợ chồng vay nợ trước khi kết hôn hoặc lấy tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân để phục vụ mục đích riêng. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản riêng
hoặc phần tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ nhưng vợ chồng không thỏa


17

thuận được việc lấy tài sản chung để trả nợ riêng cho một bên, thì vợ chồng có
quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để lấy phần tài sản
đã chia thực hiện nghĩa vụ riêng với bên thứ ba.
Thứ tư, quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã đánh dấu
bước phát triển quan trọng của pháp luật về sở hữu tài sản của vợ chồng. Nếu như
pháp luật phong kiến trước đây không có quy định về việc phân định rạch ròi tài sản
giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân thì ngày nay, cùng với sự phát triển của
nền kinh tế xã hội, vợ chồng ngày càng tham gia vào nhiều quan hệ kinh tế thì nhu
cầu độc lập về tài sản ngày càng lớn. Vì lẽ đó, việc pháp luật ghi nhận vợ chồng có
quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân là thể hiện sự tiến bộ của pháp luật, thể hiện cách tiếp cận hiện đại của
các nhà làm luật, đề cao quyền tự định đoạt và bình đẳng của vợ chồng trong việc
quyết định tài sản chung
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp
luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân
- Đường lối chính sách của Đảng về hôn nhân gia đình
Đường lối chính sách của Đảng gồm những quan điểm tư tưởng, định hướng
chung nhất, có tính chiến lược để phát triển đất nước trong tất cả các lĩnh vực quan

hội khác do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định. Trong biện chứng về cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng thì cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, mặt khác
cơ sở hạ tầng do các quan hệ kinh tế hợp thành, mọi sự biến đổi của kinh tế đều ảnh
hưởng đến cơ sở hạ tầng. Pháp luật là một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng
tầng, do vậy yếu tố giữ vai trò quyết định đối với nội dung của pháp luật là kinh tế.
Sự phát triển của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn lịch sử luôn có sự tác động đến
các yếu tố xã hội khác, trong đó có pháp luật về hôn nhân gia đình. Quan điểm,
đường lối của Đảng, Nhà nước không thể là chủ quan, duy ý chí mà phải xuất phát
từ thực tiễn xã hội, tôn trọng quy luật vận động khách quan của các quan hệ hôn
nhân gia đình. Tình hình kinh tế - xã hội nước ta đang ngày càng phát triển, nền

3

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của
Đảng, tr. 67 – 68.


19

kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống người dân được cải thiện đáng kể, kinh tế đất
nước đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới khi Việt Nam đã và đang trở
thành thành viên của nhiều tổ chức kinh tế trên thế giới. Nền kinh tế đất nước phát
triển kéo theo nhu cầu kinh tế của các gia đình cũng tăng cao, việc vợ chồng có ý
định đầu tư kinh doanh riêng hoặc tự chủ về mặt kinh tế để tham gia vào các quan
hệ dân sự, kinh tế cũng ngày càng phổ biến. Chính vì vậy, để bảo vệ lợi ích chung
của gia đình cũng như tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân, quyền tự do kinh
doanh được pháp luật thừa nhận, các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình về
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng được thừa nhận.
- Ảnh hưởng của yếu tố văn hóa truyền thống
Việt Nam là nước có nền văn hiến lâu đời. Trải qua hằng nghìn năm lịch sử,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status