ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC
1. Vai trò của CNTT&TT (ICT)
a) Máy tính, mạng Internet và thế giới ảo trên Internet
Máy vi tính với các phần mềm phong phú đã trở thành một công cụ đa
năng ứng dụng trong mọi lĩnh vực của nghiên cứu, sản xuất và đời sống. Tuy
nhiên nếu như công dụng của máy là tính là có thể đo đếm được thì sự ra đời
của mạng máy tính toàn cầu (Internet) đem lại những hiệu quả vô cùng lớn,
không thể đo đếm được. Chính vì vậy, ngày nay chúng ta thường nghe nói đến
thuật ngữ CNTT&Truyền thông (ICT) thay vì CNTT (IT).
Một máy tính nối mạng không phải chỉ giúp chúng ta đọc báo điện tử, gửi
email mà nó là kênh kết nối chúng ta với tất cả thế giới. Chúng ta có thể tiếp
cận toàn bộ tri thức nhân loại, có thể làm quen giao tiếp với nhau hoặc tham gia
những tổ chức ở xa nửa vòng trái đất. Mạng máy tính toàn cầu thực sự đã tạo ra
một thế giới mới trong đó cũng có gần như các hoạt động của thế giới thực:
thương mại điện tử (ecommerce), giáo dục điện tử (elearning), trò chơi trực
tuyến (game online), các diễn đàn (forum), các mạng xã hội (social network),
các công dân điện tử (blogger),…
b) Lợi ích mà thể giới ảo trên Internet mang lại
Tuy gọi là thế giới ảo nhưng nó đem lại lợi ích thực sự cho những người
tham gia, thậm chí những lợi ích đem lại còn nhiều hơn so với trong thế giới
thật. Ví dụ những cá nhân tham gia thương mại điện tử có thể ngồi ở nhà, thông
qua máy tính nối mạng để buôn bán trao đổi và có thể thu được rất nhiều lợi
nhuận. Học sinh có thể tham gia các hệ thống học trực tuyến trên mạng mà
không phải tốn một đồng học phí, mà kiến thức thu được còn nhiều hơn là theo
lớp học thật. Một học sinh ở Hà Nội có thể thông qua một hệ thống học trực
tuyến để theo học một thầy giáo ở tận TP HCM. Một thầy giáo có thể dạy cùng
một lúc hàng vạn học sinh.
Thông qua các diễn đàn và mạng xã hội, tất cả mọi người có thể trao đổi,
chia sẻ với nhau các tài nguyên số, cũng như các kinh nghiệm trong công việc
trong đời sống và công việc. Ví dụ mọi người có thể chia sẻ các đoạn phim hoặc
các bài hát, có thể chia sẽ các bài viết về những kiến thức khoa học, xã hội,
thông tin vào giảng dạy. Hầu hết các trường đều có phòng máy tính riêng. Tuy
nhiên, những trang thiết bị này thường chỉ nhằm mục đích cho học sinh thực
hành môn Tin học (chỉ là một môn trong rất nhiều môn học), hoặc ứng dụng
trong công tác lưu trữ, quản lý hồ sơ nhân sự hay trợ giúp việc thi cử. Như vậy,
có thể thấy chúng ta đã bỏ phí rất nhiều tiềm năng của máy tính, chưa khai thác
hết những ứng dụng to lớn của công nghệ thông tin, mà một trong những ứng
dụng đó là việc sử dụng các phần mềm hỗ trợ giảng dạy cho các tiết học trên lớp
đối với các môn văn hoá khác như: Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa
lý, Ngoại ngữ v.v...
Chính vì vậy, nhu cầu sử dụng phần mềm trong giảng dạy hiện nay là rất
lớn. Hầu hết các giáo viên đều nhận thấy đây là vấn đề cấp thiết cần thực hiện
ngay. Các sinh viên sư phạm cũng đều coi khả năng thiết kế bài giảng bằng máy
tính như một tiêu chuẩn nâng cao giá trị của mình khi xin việc vào các trường tốt.
Các lãnh đạo trường cũng như các cơ quan giáo dục đều khuyến khích và coi khả
năng sử dụng giáo án điện tử, bài giảng điện tử là ưu điểm của giáo viên. Do đó,
các lớp tập huấn Tin học sử dụng Powerpoint, Violet,... thường được các giáo
viên tham gia rất đông. Trong các cuộc thi giáo viên dạy giỏi, gần như 100% là
các bài giảng là dùng phần mềm. Ở các tỉnh thành lớn, đa số các trường học đều
đã trang bị máy chiếu để phục vụ việc giảng dạy bằng máy tính.
Trên thực tế thì các phần mềm giáo dục của Việt Nam cũng đã xuất hiện rất
nhiều, phong phú về nội dung và hình thức như: sách giáo khoa điện tử, các
website đào tạo trực tuyến, các phần mềm multimedia dạy học,... Trên thị trường
có thể dễ dàng lựa chọn và mua một phần mềm dạy học cho bất cứ môn học nào
từ lớp một cho đến luyện thi đại học. Tuy nhiên, các "Sách giáo khoa điện tử"
không tỏ ra nổi trội hơn SGK truyền thống, Website đào tạo từ xa khó triển khai
89
rộng được vì Internet ở VN còn là một vấn đề lớn. Các phần mềm dạy học cho
học sinh, dù đã có rất nhiều cố gắng về mặt hình thức và nội dung, tuy nhiên sự
giao tiếp giữa máy với người chắc chắn không thể bằng sự giao tiếp giữa thầy với
trò...
liệu này, chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn nhưng mặt mạnh mặt yếu của CBT và e-
learning để có thể hiểu rõ hơn chúng ta đã làm gì, cần làm gì và nên làm gì
trong giai đoạn hiện nay.
CBT E-learning
Có thể phát triển, cải tiến từ phương
pháp dạy học truyền thống. Vẫn dựa
trên những hình thức cơ bản của một
lớp học thông thường
Thay đồi hoàn toàn cách dạy và học.
Người học có thể học riêng rẽ, học ở
nhà hoặc ở nơi làm việc. E-learning
khai thác được tối đa sức mạnh của
thế giới Internet: khả năng phổ biến
90
rất cao (có thể 1 bài giảng hàng triệu
người học), hay có khả năng cập nhật
các thông tin mới ngay lập tức.
Chi phí đầu tư ban đầu thấp. Chỉ cần
trang bị cho lớp học máy tính, máy
chiếu và các thiết bị multimedia.
Chi phí đầu tư ban đầu rất cao. Mỗi
lớp học phải là một phòng máy tính
nối mạng Internet, mỗi học sinh và
giáo viên phải có máy tính riêng và
những phần mềm chuyên dụng.
CBT là phương pháp kết hợp được cả
những thế mạnh của phương pháp
dạy học truyền thống (dựa trên giao
tiếp thầy-trò) và khai thác được
những ưu thế của các công nghệ hiện
learning thì tuân theo một chuẩn
chung để đưa lên mạng, trong đó nổi
tiếng nhất là chuẩn SCORM.
2.2.2. Tích cực sử dụng các bài giảng điện tử trong giảng dạy
Từ nhiều năm nay, ở các trường phổ thông cũng đã tương đối phổ biến mô
hình giảng dạy sử dụng bài giảng điện tử cùng với các trang thiết bị khác như
máy tính, máy chiếu (projector),... Bài giảng điện tử và các trang thiết bị này có
thể coi là những công cụ dạy học đa năng vì nó có thể thay thế cho hầu hết các
công cụ dạy học khác từ truyền thống (tranh vẽ, bản đồ, mô hình,...) đến hiện đại
(cassette, ti vi, đầu video...). Hơn nữa, nếu các bài giảng điện tử được đầu tư xây
dựng cẩn thận thì sẽ đem lại hiệu quả hơn hẳn. Chẳng hạn khi mô phỏng một trận
đánh lịch sử, trên bản đồ giấy chỉ có thể diễn tả được bằng các mũi tên chỉ hướng
tấn công, còn trên phần mềm có thể diễn tả được hình ảnh của các đoàn quân di
chuyển, nên tạo được sự hấp dẫn và học sinh có thể tiếp thu bài giảng dễ dàng
hơn.
91
Khác với các phần mềm giáo dục khác, bài giảng điện tử không phải là phần
mềm dạy học, nó chỉ trợ giúp cho việc giảng dạy của giáo viên (đối tượng sử
dụng là giáo viên, không phải là học sinh). Chính vì vậy, việc truyền đạt kiến
thức vẫn dựa trên giao tiếp thầy-trò, chứ không phải giao tiếp máy-người. Mặt
khác, vì giáo viên là người trực tiếp điều hành việc sử dụng phần mềm nên có thể
khai thác tối đa được những kiến thức cần chuyển tải trong phần mềm, tuỳ thuộc
vào trình độ của học sinh và phương pháp giảng dạy của giáo viên.
Rõ ràng việc sử dụng các bài giảng điện tử sẽ tăng hiệu quả đáng kể đối với
các tiết dạy của giáo viên. Có thể nói đó là sự kết hợp những ưu điểm của
phương pháp dạy học truyền thống và của các công nghệ hiện đại.
Tuy nhiên, nếu đầu tư xây dựng các bài giảng đóng gói đơn lẻ như sau thì
dễ thấy những mặt hạn chết như sau:
- Tính cứng nhắc trong nội dung bài giảng: Các bài giảng điện tử xây dựng
theo mô hình trên thường không thể ứng dụng trên quy mô rộng được. Một bài
nước ngoài thành tiếng Việt, v.v... đặc biệt rất khó có thể tìm kiếm thu thập được
92
những phim ảnh tư liệu quý hiếm. Tất cả những việc này đòi hỏi phải có một đội
ngũ cán bộ, họa sĩ, kỹ thuật viên tin học chuyên nghiệp thì mới đảm nhiệm tốt được.
Hiện nay, nhiều chuyên gia giáo dục đã cảnh báo tình trạng “lạm dụng
CNTT” khi các giáo viên tự xây dựng bài giảng. Do hạn chế về định hướng,
công nghệ nên giáo viên thường hay xây dựng những bài giảng mang nặng tính
trình chiếu, ví dụ như sử dụng Powerpoint “bắn” rất nhiều chữ ra màn hình và
khi giảng bài thì gần như đọc lại nội dung đó. Phương pháp này thậm chí sẽ làm
cho học sinh giảm hiệu quả tiếp thu khi phải đồng thời nghe giảng, vừa đọc
chữ, chưa kể là còn bị cuốn hút vào những hiệu ứng chữ chạy nhảy và âm thanh
kèm theo. (xem thêm bài báo ở phần Phụ lục “Thuyết trình bằng Powerpoint là
một thảm họa” và ý kiến của một giáo viên về Giáo án điện tử).
Một trong những lý do của tình trạng trên là do các giáo viên chưa hiểu
được rằng: cách sử dụng hiệu quả của ứng dụng phần mềm dạy học là phải khai
thác triệt để các nội dung tư liệu, đặc biệt là các tư liệu multimedia (âm thanh,
hình ảnh, phim, Flash,...). Một lý do quan trọng nữa là kể cả khi hiểu được như
vậy thì cũng khó có thể thực hiện, vì việc giáo viên đưa một đoạn văn bản vào
phần mềm thì dễ, chứ nếu tự vẽ hình, tự tạo ảnh động hay tìm kiếm tư liệu bên
ngoài thì sẽ rất khó khăn.
Chính vì vậy, giáo viên nên sử dụng các công cụ tìm kiếm trên Internet tư
liệu như Google hay Yahoo, hoặc các truy cập các nguồn tư liệu phong phú như
Wikipedia, YouTube,... đặc biệt là các nguồn tài nguyên phục vụ cho giáo dục
và đào tạo như Thư viện tư liệu giáo dục tại (cung cấp các
tư liệu giúp giáo viên sử dụng vào bài giảng) và Thư viện bài giảng điện tử tại
(cung cấp các bài giảng tham khảo có chất lượng để giáo
viên học tập và chia sẻ kinh nghiệm trong giảng dạy).
2.3. Sử dụng các phần mềm tiêu biểu phục vụ cho công tác giảng dạy
Học sử dụng máy vi tính thực chất là học cách sử dụng các phần mềm vi
tính. Có thể phân ra 2 loại là các phần mềm phổ thông (như soạn thảo văn bản,
miền Nam hoặc ngược lại thì đều không thể đọc được, vì miền Bắc dùng mã
TCVN, còn miền Nam thì dùng mã VNI.
Adobe Photoshop: Là phần mềm xử lý ảnh thông dụng nhất, với rất nhiều
tính năng từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp đều có thể sử dụng được. Với những
chức năng cơ bản thì giáo viên và cán bộ quản lý cũng nên sử dụng được, vì nó
hiện nay dù làm bài giảng hay báo cáo, kế hoạch cũng ít nhiều sử dụng các tư
liệu ảnh (ảnh chụp hoặc hình vẽ).
2.3.2. Các phần mềm phục vụ cho giáo dục
Đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, chúng tôi khuyến khích học và
sử dụng các phần mềm sau vì sẽ rất có ích trong việc xây dựng các bài giảng hỗ trợ
cho việc giảng dạy.
Microsoft Powerpoint: Phần mềm cho phép soạn các bài trình chiếu hấp
dẫn để làm bài giảng điện tử. Powerpoint có thể sử dụng được các tư liệu ảnh
phim, cho phép tạo được các hiệu ứng chuyển động khá hấp dẫn và chọn các
mẫu giao diện đẹp.
Hiện nay, phần lớn các bài giảng điện của giáo viên ở Việt Nam đều sử
dụng phần mềm Powerpoint, tuy nhiên, xu hướng đang chuyển dần sang các
phần mềm khác hiện đại hơn, dễ dùng hơn và không gặp phải vấn đề bản
quyền.
Phần mềm Violet: Dùng cho giáo viên có thể tự thiết kế và xây dựng
được những bài giảng điện tử sinh động, hấp dẫn, để trợ giúp cho các giờ dạy
học trên lớp (sử dụng với máy chiếu projector hoặc ti vi), hoặc để đưa lên mạng
Internet. Tương tự như Powerpoint nhưng Violet có nhiều điểm mạnh hơn như
giao diện tiếng Việt, dễ dùng, có những năng chuyên dụng cho bài giảng như
tạo các loại bài tập, chức năng thiết kế chuyên cho mỗi môn học, và đặc biệt là
khả năng gắn kết được với các phần mềm công cụ khác.
Macromedia Flash: Đây là phần mềm cho phép vẽ hình, tạo ra hình ảnh
động, các hiệu ứng chuyển động và biến đổi, lập trình tạo ra các hoạt động mô
phỏng và tương tác sinh động, hấp dẫn. Để sử dụng tốt Flash đòi trình độ người
sử dụng cũng phải ở mức khá và phải thực hành nhiều. Thông thường không
là trang web chia sẻ tư liệu dạy học duy nhất ở Việt Nam với gần 60.000 mục tư
liệu.
- Thư viện bài giảng điện tử: địa chỉ trang web là .
Đây là trang web cho phép giáo viên chia sẻ các bài giảng và giáo án của mình,
đồng thời tham khảo các bài giảng và giáo án của rất nhiều giáo viên khác trên
cả nước. Hiện tại trang web đã có trên 200.000 thành viên tham gia, với hàng
triệu lượt truy cập mỗi tháng, số lượng tài nguyên lên đến 50.000 bài giảng và
giáo án.
- Thư viện giáo trình điện tử: địa chỉ . Đây là trang
web tập hợp các giáo trình bậc đại học và chuyên ngành từ các dự án của Bộ
GD&ĐT với các trường Đại học lớn trên cả nước như Đại học Bách Khoa HN,
ĐH Sư phạm HN, Đại học Cần Thơ,... Tuy nhiên đây không phải là trang web
cộng đồng nên lượng thông tin không lớn và không được cập nhật thường
xuyên.
b) Sử dụng các dịch vụ tìm kiếm như Google, Yahoo, Baamboo.
Có thể truy cập vào các trang web này qua các địa chỉ trang web tương ứng
95